Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Viện khkt nông nghiệp miền nam
Báo cáo tổng kết đề tài nhánh
Kết quả nghiêncứu u thế lai đối với các tính trạng
sinh sản, sản xuất và chất lợng thịt của tổ hợp
lợn lai giữa mc, lr, lw, pi nuôi tại hà nội và thái bình
để chọn nhóm giống thích hợp phục vụ sản xuất
sản phẩm lợn sữa xuất khẩu
_____________________________________
thuộc đề tài cấp nhà nớc mã số kc 06.06
nghiên cứu một số giải pháp khoa học công nghệ và thị
trờng nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thịt lợn
Chủ nhiệm đề tài: ts . đỗ văn quang
(LWxMC) và các tính trạng sản xuất và chất lợng
thịt xẻ của các tổ hợp lợn lai F
1
(PixMC), F
1
(LRxMC), F
1
(LWxMC), Pi(LRxMC), Pi(LWxMC)
và Pi(PixMC) là một đòi hỏi cấp bách của sản xuất tại Hà Nội và Thái Bình với mục tiêu cung
cấp cho ngời chăn nuôi lợn hiểu rõ tại sao các tổ hợp lai cho năng suất sinh sản số con và khối
lợng sơ sinh và cai sữa cao hơn hẳn so với trung bình của bố mẹ chúng.
Nh chúng ta đã biết, tổ hợp lai thờng cho năng suất, chất lợng sản phẩm cao hơn so
với trung bình của bố mẹ là do bản chất của ƯTL. Hơn nữa, chúng ta lại biết bản chất của ƯTL
là khi bố và mẹ có nguồn gốc di truyền càng xa nhau bao nhiêu thì ƯTL càng cao bấy nhiêu và
ngợc lại. Vì lẽ đó, trong hệ thống lai tạo giống gia súc, chúng ta đã áp dụng chọn nguyên liệu
lai cho các hệ thống lai, sử dụng bố và mẹ có nguồn gốc di truyền càng xa nhau càng tốt.
Thực tế hiện tại ở nớc ta, chúng ta cha biết đợc khoảng cách di truyền giữa các giống
lợn thuần tham gia vào việc tạo các tổ hợp lai một cách chính xác. Vì vậy, mục tiêu của đề tài là
phải thử nghiệm các tổ hợp lai nhằm tìm tổ hợp lai thích hợp cho mỗi tính trạng cho mỗi vùng
sinh thái phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm lợn sữa và thịt lợn xuất khẩu chất lợng cao.
2. Nội dung và phơng pháp nghiên cứu
2.1. Nội dung nghiên cứu
2.1.1. Thí nghiệm đối với các tính trạng sinh sản
Lợn nái đợc chọn vào thí nghiệm: 30 con mỗi giống/tổ hợp lai để nghiên cứu các tính
trạng sinh sản cơ bản sau:
- Tuổi đẻ lứa đầu (TĐLĐ),
- Số con sơ sinh sống (SCSSS)
- Số con cai sữa (SCCS),
- Khối lợng lợn con sơ sinh (Pss), và
j
+ CS
k
+ M
l
+ ĐP
m
+
ijklmn
Trong đó:
- Y
ijklmn
là giá trị quan sát về năng suất sinh sản của lợn nái thứ n, đẻ mùa vụ thứ l, tại
cơ sở thứ k, lứa đẻ thứ j, đực phối thứ m và thuộc nhóm giống thứ i,
-
à
là giá trị trung bình của quần thể,
- NG
i
là ảnh hởng của nhóm giống thứ i, i=6 (MC, LR, LW, PixMC, LRxMC,
LWxMC),
- LĐ
j
là ảnh hởng của lứa đẻ thứ j, j=6 (1, 2, , 6),
- CS
k
là ảnh hởng của cơ sở thứ k, k=2 (Hà Nội, Thái Bình),
- M
l
th
: đực hay cái,
- N
j
là ảnh hởng của năm j
th
: 2002, 2003, 2004,
3
- M
l
là ảnh hởng của mùa l
th
: Đông-Xuân, Hè-Thu,
- e
ijk
là sai số ngẫu nhiên giữa sai số trung bình và phơng sai
2
e.
2.2.2. Phơng pháp xử lý số liệu
Giá trị trung bình, sai số chuẩn và u thế lai đợc xác định theo chơng trình GLM
(SAS, 1993).
2.2.3. Kiểm tra mức độ tin cậy
So sánh mức độ sai khác giữa các số trung bình của các tính trạng sinh sản cơ bản đợc
xác định theo phơng pháp Kiểm tra mức độ tin cậy số trung bình mẫu của Nguyễn Văn Đức và
Lê Thanh Hải (2002).
3. Kết quả và thảo luận
ngày ở đàn F
1
(LRxMC) tại các đàn ở Quảng Ninh, Hà Tây và Hà Nội (Nguyễn Văn Đức, 1997;
Nguyễn Văn Đức và cộng sự, 2000).
3.1.2. Số con sơ sinh sống/lứa của các giống lợn
Đối với lợn nái, số con sơ sinh sống/lứa (SCSSS) là tính trạng quan trọng nhất, là chìa
khoá quyết định năng suất, chất lợng đàn nái và hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn nái. Nói chung,
lợn nái đẻ càng nhiều con có chất lợng cao càng tốt. SCSSS của nhóm lợn nái MC nuôi trong
nông hộ Đông Anh và Thái Bình là 11,67 con/lứa, cao hơn so với 11,07 con/lứa của Nguyễn
Văn Thiện và cộng sự (1999). Song, vì cơ thể và khối lợng lợn nái giống MC nhỏ và kỹ thuật
nuôi lợn con theo mẹ trong nông hộ còn có những hạn chế nhất định nên ngời chăn nuôi
thờng giữ số con để lại nuôi mỗi ổ là 11,00 con/lứa và u tiên chọn lợn cái vì mục tiêu làm nái.
Giá trị này tơng ứng với giá trị 10,63 và 10,14 con/lứa.
SCSSS của các nhóm nái lai F
1
(LRxMC), F
1
(LWxMC) và F
1
(PixMC) là 12,14; 12,13 và
12,52 con/lứa. Sự sai khác về SCSSS giữa các nhóm lợn trên biểu hiện rõ rệt (p<0,01). Giống
của đực phối cũng ảnh hởng đến các tính trạng sinh sản cơ bản của lợn nái F
1
(PixMC). Kết quả
4
này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Trịnh Viết Lơng và Hoàng Gián (1999) đối với tổ
hợp lai F
1
F
1
(LWxMC) từ năm 1985-1996.
3.1.4. Khối lợng sơ sinh của các giống lợn
Khối lợng sơ sinh mỗi lợn con (Pss) của giống lợn thuần MC thấp nhất, đó là 0,60 kg.
Trong lúc đó, Pss của 2 giống LR và LW là 1,42 và 1,43 kg, cao hơn so với các nhóm MC lai.
Sự sai khác về Pss giữa các giống lợn thuần và các tổ hợp lai biểu hiện rất rõ rệt (p<0,001).
Pss sinh ra từ lợn nái F
1
(LRxMC) và F
1
(LWxMC) là 1,10
0,11 kg và 1,12
0,12kg thấp
hơn so với 1,15
0,13 kg của nhóm F
1
(PixMC). Sự sai khác này tuy nhỏ, song về mặt thống kê
có ý nghĩa rõ rệt (p<0,05). Kết quả này nhỏ hơn so với kết quả 1,23kg, tính toán đợc của
Nguyễn Văn Đức (1997) của toàn bộ số liệu MC lai của cả nớc. Pss này đợc chấp thuận của
ngời chăn nuôi vì tỷ lệ hao hụt từ sơ sinh đến cai sữa thấp.
3.1.5. Khối lợng cai sữa của các giống lợn
Khối lợng cai sữa của mỗi lợn con (Pcs) lúc 42 ngày tuổi của giống lợn nái MC phối
tinh LR và LW là 6,04 kg, trong lúc đó nếu dùng tinh Pi thì Pcs đạt 7,02kg. Rõ ràng, nguồn gen
đực giống Pi tốt hơn hẳn về việc nâng cao Pss khi phối với nái MC. Pcs của 2 giống lợn LR và
Pcs lúc 42 ngày tuổi của tổ hợp lai F
1
(PixMC) là 11,191,20 kg nếu sử dụng đực Pi,
trong lúc đó với nái F
1
(PixMC) nếu phối với đực LR và đực LW thì Pcs là 11,01
1,30-
11,02
1,67 kg. Sự sai khác này về mặt thống kê không biểu thị rõ rệt (p>0,05). Khối lợng này
cao hơn kết quả 10,91 kg, tìm đợc của Nguyễn Văn Đức (1997) của số liệu thu đợc trông
toàn bộ đàn lợn MC lai của cả nớc.
Với những kết quả ban đầu về SCSSS, SCCS, Pss và Pcs lúc 42 ngày tuổi tơng ứng của
chúng cho phép ta nhận thấy rằng tổ hợp lai Pi với MC có thể là một tổ hợp MC lai tốt nhất để
sản xuất lợn sữa xuất khẩu. Chúng ta có thể sử dụng đực Pi phối với nái MC vì con lai của
chúng mang lại năng suất sinh sản cao, chắc chắn dẫn đến hiệu quả kinh tế cao trong công tác
giống phục vụ xuất khẩu lợn sữa. Đàn lợn con lai F
1
(PixMC) có ngoại hình rất đẹp, khoẻ mạnh
và có khả năng phát triển tốt vì khối lợng lúc cai sữa 42 ngày tuổi đã đạt 7,02kg, cao hơn
nhóm lợn F
1
(LWxMC) và F
1
(LRxMC), chỉ đạt 6,04kg. Kết quả nuôi ở Thái bình và Hà Nội
chứng tỏ tổ hợp lai F
1
(PixMC) làm sản phẩm lợn sữa phục vụ xuất khẩu tốt hơn hẳn so với các
tổ hợp MC lai F
1
(LWxMC) và F
1
(PixMC) cần phải đợc nghiên cứu để xác định chất lợng từng tổ hợp lai.
Đối với tính trạng TĐLĐ, sự sai khác giữa các tổ hợp lợn lai đợc tạo ra bởi các giống
thuần MC với các giống LR, LW và Pi, nuôi trong các nông hộ tại Đông Anh và Thái Bình,
không thể hiện rõ rệt. Giá trị ƯTL đó là -0,34% và -0,28% đối với F
1
(LRxMC) và F
1
(PixMC) và
0,16% đối với F
1
(LWxMC). Mức độ sai khác về giá trị trung bình của TĐLĐ này không thể hiện
rõ rệt giữa 3 tổ hợp lai đó (P>0,05).
Bảng 1. ƯTL của các tính trạng sinh sản cơ bản của tổ hợp lai F
1
(LRxMC), F
1
(LWxMC) và
F
1
(PixMC) nuôi trong nông hộ tại Đông Anh Hà Nội và Thái Bình
F
1
(LRxMC) F
1
(LWxMC) F
(LRxMC) và F
1
(LWxMC) so với trung bình bố mẹ
chúng là 7,4%. Kết luận này góp phần khảng định chắc chắn thêm kết luận của Cheng (1984) và
Zhihua Jiang và cộng sự (1988) là ƯTL về SCSSS của các tổ hợp lai giữa lợn nội với lợn nhập
ngoại luôn cao hơn so với ƯTL giữa các giống lợn nhập ngoại với nhau. Nh vậy, lợn lai biểu thị
ƯTL cao dẫn đến các nái lai F
1
(LRxMC); F
1
(LWxMC) và F
1
(PixMC) có SCSSS cao hơn trung
bình bố mẹ chúng từ 0,8 đến 1,0 con cho mỗi lứa.
ƯTL của tính trạng SCCS cao nhất ở tổ hợp lai F
1
(PixMC) nuôi tại nông hộ Huyện Đông
Anh Hà Nội và Thái Bình đạt tới 4,12% đối với tổ hợp lai F
1
(LRxMC); 4,26% đối với tổ hợp lai
F
1
(LWxMC) và 12,97% đối với tổ hợp lai F
1
(PixMC). Kết quả này tơng tự các kết luận trớc
7
Sản phẩm lợn sữa xuất khẩu của tổ hợp lợn lai F
1
8,36% đối với tổ hợp lai F
1
(LWxMC) và 8,43% đối với tổ hợp lai F
1
(PixMC), chứng tỏ rằng các
tính trạng khối lợng lợn con đều có ƯTL cao. Pcs của lợn lai cao có thể đợc giải thích rằng lợn
con của các nái lai F
1
(LRxMC); F
1
(LWxMC) và F
1
(PixMC) đợc hởng ƯTL của chính các mẹ
lai và trực tiếp của chính bản thân chúng. Vì vậy, nuôi nái lai luôn cho năng suất và hiệu quả kinh
tế cao hơn so với lợn nái thuần vì khối lợng lợn cai sữa cao hơn so với trung bình bố mẹ. Kết
quả này phù hợp với kết quả 5,0-9,0% tìm đợc của Nguyễn Văn Đức (1999) đối với các tổ hợp
lợn nái lai F
1
(LRxMC), F
1
(LWxMC) và F
1
(PixMC).
Tóm lại, để sản xuất lợn sữa xuất khẩu đạt hiệu quả kinh tế nhất, năng suất sinh sản của
lợn nái cao và tỷ lệ nuôi sống lợn con và tăng khối lợng của lợn con cao là yếu tố quyết định.
Muốn có năng suất sinh sản cao: Số con sơ sinh sống và cai sữa; khối lợng lợn sơ sinh và cai sữa
thì các tổ hợp lợn lai cần phải đợc khai thác, đặc biệt là tổ hợp lợn lai F
1
(PixMC) vì chúng dễ
nuôi, tỷ lệ sống cao, tăng khối lợng giai đoạn lợn con cao do chúng có ƯTL cao. Hơn nữa, chất
(LRxMC)
và F
1
(LWxMC)
Tính trạng n F
1
(PixMC) F
1
(LRxMC) F
1
(LWxMC)
Tăng trọng (g/ngày) 160 511,0355,11 505,7261,22 509,0056,09
Tiêu tốn thức ăn
(kg:kg)
160 3,41
0,33 3,76
0,42 3,68
0,49
Dày mỡ lng P
2
(mm) 160 24,742,25 25,942,51 26,482,75
Dày mỡ lng khảo sát
(mm)
24 30,21 31,19 31,27
Tỷ lệ móc hàm (%) 24 78,58 78,38 77,95
9
Pi(PixMC) đến 12,62% ở tổ hợp lai LW(PixMC). Kết quả này chứng tỏ rằng, ngoài u thế lai trực
tiếp, TKL của các tổ hợp lợn lai cũng đợc thừa hởng u thế lai của mẹ lai mà đóng góp của
thành phần này cũng có ý nghĩa rất rõ rệt, làm tăng khoảng 3-4% so với các tổ hợp lai tạo thành
từ bố mẹ thuần chủng.
Với những kết quả trên hai bảng 2 và 3 cho thấy đối với tính trạng TKL, u thế lai đợc
khai thác tốt ở các tổ hợp lai nên giá trị trung bình đã tăng lên đáng kể so với bố mẹ chúng và khi
sử dụng mẹ lai u thế lai càng cao hơn. Điều này càng khảng định, để nâng cao khả năng sản suất
làm tăng KL của lợn trong giai đoạn vỗ béo và khai thác có hiệu quả nhất đối với tính trạng TKL
phục vụ cho sản phẩm xuất khẩu, các tổ hợp lợn lai, đặc biệt tạo ra từ mẹ lai, là con đờng tất yếu
trong ngành chăn nuôi lợn.
Bảng 3. TKL, TTTA, DML và chất lợng thịt xẻ của tổ hợp lợn lai Pi(PixMC), Pi(LRxMC)
Pi(LWxMC), LR(PixMC) và LW(PixMC)
Tính trạng n Pi(PixMC) Pi(LRxMC) Pi(LWxMC) LR(PixMC) LW(PixMC)
Tăng KL (g/ngày) 200 596,0367,13 601,0269,28 603,0969,09 601,1362,07 604,1668,19
TTTA (kg:kg) 200 3,220,31 3,240,36 3,210,39 3,230,37 3,200,42
DML P
2
(mm) 200 20,702,16 21,942,59 21,432,75 22,712,41 22,762,64
DML khảo sát(mm) 20 28,24 29,12 29,18 30,11 30,14
Tỷ lệ móc hàm (%) 20 80,28 80,09 80,05 79,88 79,79
Tỷ lệ thịt xẻ (%) 20 69,12 69,07 69,06 68,72 68,66
S cơ thăn (cm
2
) 20 42,56 42,22 42,15 40,79 41,08
Tỷ lệ thịt nạc (%) 20 52,73 51,95 51,93 50,88 50,78
3.5.2. Tiêu tốn thức ăn của tổ hợp lợn lai
10
tổ hợp lợn lai F
1
(LRxMC) và F
1
(YxMC). DML đo bằng máy siêu âm Renco trên cơ thể lợn sống
là phơng pháp duy nhất để xác định tỷ lệ nạc ở lợn sống và giá trị này khá chính xác và rất
thuận tiện để xác định tỷ lệ nạc cho lợn giống. Trong lúc đó, DML P2 của các tổ hợp lai có u
thế lai có mẹ lai biến động từ 20,70 đến 22,76mm, cụ thể là 20,702,16; 21,942,59;
21,43
2,75; 22,71
2,41; 22,76
2,64mm đối với các tổ hợp lợn lai Pi(PixMC), Pi(LRxMC)
Pi(LWxMC), LR(PixMC) và LW(PixMC).
Độ dày mỡ lng (DML) khảo sát đo tại 3 điểm: sờn 6-7, 13, khum của các tổ hợp lợn lai
trên biến động từ 30,21 đến 31,27 mm thấp hơn so với kết quả 45 và 50mm của Nguyễn Thiện và
cộng sự (1985) nghiên cứu trên tổ hợp lợn lai F
1
(LRxMC) và F
1
(YxMC). Trong lúc đó, các tổ
hợp lai có u thế lai của mẹ lai đã làm giảm DML xuống thấp hơn và biến động trong phạm vi từ
28,24 đến 30,14mm, chứng tỏ lợn lai có 3/4 nguồn gen lợn ngoại có tỷ lệ nạc cao hơn rõ rệt so
với lợn MC lai có 50% gen lợn ngoại.
3.5.4. Chất lợng thịt xẻ và tỷ lệ nạc của tổ hợp lợn lai
Chất lợng thịt xẻ của hầu hết các tổ hợp lợn lai nh tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ và diện
1
(PixMC), F
1
(LRxMC) và F
1
(LWxMC) đạt tới 44,56; 42,72 và 42,90%
(Bảng 2). Đặc biệt, trong các tổ hợp lai mà mẹ của chúng là các tổ hợp lai Pi(PixMC),
Pi(LRxMC), Pi(LWxMC), LR(PixMC) và LW(PixMC) đạt khá cao: 52,73; 51,95; 51,93; 50,88
và 50,78% (Bảng 3) vì chúng đợc sự đóng góp quan trọng của thành phần u thế lai của mẹ lai.
Tỷ lệ nạc của các tổ hợp lai có gen Pi tham gia đều đạt cao, nhất là tổ hợp lai có 75% gen Pi, đạt
tới 52,73%. Sự sai khác về tỷ lệ nạc có ý nghĩa thống kê rõ rệt. Để tăng tỷ lệ nạc làm sản phẩm
xuất khẩu đạt hiệu quả cao, lợn lai có sự tham gia của giống lợn Pi là tốt nhất.
Ưu thế lai về tính trạng TLN ở lợn lai giữa các giống MC, Pi, LR và LW tuy không cao,
song có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện chất lợng thịt lợn MC lai, đặc biệt tổ hợp lai có
giống Pi tham gia. Hầu hết, các trờng hợp ở các tổ hợp lai thứ nhất đề có u thế lai âm vì TLN
thấp hơn so với trung bình bố mẹ, song ở các tổ hợp lai có 3 giống, TLN đã tăng lên rõ rệt, làm
tăng từ 0,2 đến 4%. Vì vậy, để cải thiện tính trạng TLN nhằm đảm bảo chất lợng thịt đủ điều
kiện xuất khẩu, các tổ hợp lai hai hoặc 3 giống, đặc biệt có nguồn gen Pi, là con đờng sẽ thu
đợc kết quả tốt nhất. 11
3.5.5. Chất lợng thịt của các tổ hợp lợn lai
Ngoài chất lợng thịt xẻ, chất lợng thịt cũng là một trong yếu tố quan trọng trong tiêu
chuẩn xuất khẩu, quyết định hiệu quả ngành chăn nuôi lợn thịt. Trong các chỉ tiêu chất lợng thịt,
axit amin, đặc biệt các axit amin không thay thế trong thịt lợn thể hiện giá trị dinh dỡng của thịt
lợn cao hay thấp.
Hàm lợng protein tổng số trong thịt lợn của các tổ hợp lai nuôi tại Đông Anh Hà Nội
và Thái Bình biến động từ 20,3% đến 20,9%. Trong tổng số protein, 16 axit amin cơ bản chiếm từ
18,8 ở tổ hợp lai có gen LW đến 19,2% ở tổ hợp lai có gen Pi. Đặc biệt, trong thịt lợn của các tổ
để sản xuất lợn sữa phục vụ xuất khẩu. Hiện nay, tổ hợp lợn lai F
1
(PixMC) đã đợc ngời chăn
nuôi chấp thuận vì SCSS, SCCS, Pss và Pcs lớn, dễ nuôi, ít bệnh tật, lớn nhanh và đợc ngời tiêu
dùng a chuộng vì thịt lợn sữa có hình thức đẹp khi quay, mùi vị thơm ngon, chất lợng tốt.
Chúng ta cần phải áp dụng các phơng pháp lai tạo giống, tạo chọn các tổ hợp lai, khai
thác tối đa u thế lai nhằm xác định tổ hợp lai thích hợp cho mỗi vùng sinh thái, tiến tới xây dựng
hệ thống giống lợn MC lai đạt năng suất cao, chất lợng tốt và hiệu quả kinh tế lớn trong phơng
thức chăn nuôi nông hộ tại các tỉnh miền Bắc, đặc biệt để làm lợn sữa phục vụ xuất khẩu.
4.2. Đối với tính trạng sản xuất:
TKL của các tổ hợp lợn lai ở nghiên cứu này đều cao hơn trung bình bố mẹ chúng và có
u thế lai cao, nhất là ở các tổ hợp lai có mẹ lai, biến động từ 11,51% ở tổ hợp lai Pi(PixMC) đến
12,62% ở tổ hợp lai LW(PixMC).
12
Ưu thế lai về tính trạng TLN ở lợn lai giữa các giống MC, Pi, LR và LW tuy không cao,
song có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện chất lợng thịt lợn MC lai, đặc biệt tổ hợp lai có
giống Pi tham gia, đã tăng lên từ 0,2 đến 4%. Vì vậy, để cải thiện TLN, các tổ hợp lai là con
đờng thu đợc kết quả tốt nhất.
Ngoài ra, các tính trạng sản xuất khác cũng đợc cải thiện ở các tổ hợp lai so với trung
bình bố mẹ chúng.
Tỷ lệ của 16 axit amin cơ bản cao, chiếm từ 18,8 đến 19,2% so với protein tổng số 20,3%-
20,9%, chứng tỏ chất lợng thịt lợn của các tổ hợp lai này rất tốt.
4.3. Kết luận chung
Để có sản phẩm lợn sữa tốt nhất phục vụ xuất khẩu nên nuôi lợn nái MC và sử dụng đực
giống Pi và để có sản phẩm thịt lợn phục vụ xuất khẩu đạt chất lợng cao và hiệu quả kinh tế lớn
nên nuôi các tổ hợp lợn lai giữa nái MC lai và đực giống Pi. 5. Tài liệu tham khảo
8.
Nguyễn Văn Đức, B.P. Kinghorn và Graser, H.U.
(1997), Hội nghị Di truyền và Tạo giống
Động Vật, WA, Australia, Vol. 12: 189-193.
9. Nguyễn Văn Đức, Kinghorn, B.P. và Graser, H.U. (1998), Hội nghị ứng dụng Di truyền
học vào chăn nuôi của Thế giới lần thứ 6 tổ chức tại NSW, Australia 12-16/1/1998.
10. Nguyễn Văn Đức, Tạ Thị Bích Duyên, Phạm Nhật Lệ và Lê Thanh Hải (2000), Nghiên
cứu các thành phần đóng góp vào tổ hợp lai giữa 3 giống MC, LR và LW về tốc độ tăng
trọng tại đồng bằng sông Hồng, Tạp chí Nông Nghiệp & CNTP, Số 9: 398-401.
11.
Falconer D.S. and Mackay T.F.C.
(1996),
Introduction to Quantitative Genetics.,
4th
edition, Longman, London.
13
12. Ikeobi C.O.N. (1994), Heterosis in exotic breeds of pig in Nigerian herds. Proc. 5th World
Congr. Genet. Appl. Livest. Prod., 17, pp. 437-441.
13. T.D. Khanh, N.V. Đức, Đ.T. Sơn, L.Đ. Cờng, N.T. Thìn, P.T. Anh, N.V. Đức và V.N.
Chính,
(2004),
Kết quả về tăng P của lợn lai F
1
(LRxMC) và F
1
(LWxMC) trong các nông
hộ nghèo xã Đông Kinh và Nam Trung - Thái Bình. TT KHKT Chăn nuôi. Số 3: 5-12.
14. T.D. Khanh, N.V. Đức, Đ.T. Sơn, L.Đ. Cờng, N.T. Thìn, P.T. Anh, N.V. Đức và V.N.
TS. Đỗ Văn Quang TS. Nguyễn Văn Đức