so sánh thủ tục thành lập doanh nghiệp theo luật công ty 1990. luật doanh nghiệp tư nhân 1990, luật doanh nghiệp 1999 và luật doanh nghiệp 2005 - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
o0o
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN LUẬT

ĐỀ TÀI:

SO SÁNH THỦ TỤC THÀNH LẬP DOANH
NGHIỆP THEO LUẬT CÔNG TY 1990, LUẬT
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1990, LUẬT
DOANH NGHIỆP 1999 VÀ LUẬT DOANH
NGHIỆP 2005 Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS. DƯ NGỌC BÍCH TRẦN THỊ THU HUYỀN
MSSV : 5044038
Lớp : Luật TM - K30


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Phạm vi nghiên cứu 1
3. Mục tiêu nghiên cứu 1
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Kết cấu đề tài 2
CHƯƠNG 1:THỦ TỤC THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP THEO LUẬT
CÔNG TY 1990 VÀ LUẬT DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1990 3
1.1 Luật công ty 1990 và luật doanh nghiệp tư nhân 1990 3
1.2 Thủ tục thành lập theo luật công ty 1990 và luật doanh nghiệp tư nhân 1990 3

4.2 So sánh về các thủ tục đăng ký sau kinh doanh 53
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: Dư Ngọc Bích 1
LỜI NÓI ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Với tốc độ phát triển của nền kinh tế như hiện nay đã từng bước thúc đẩy các
nước có nền kinh tế đang phát triển chuyển sang giai đoạn mới và trưởng thành. Từ
đó làm nhịp cầu cho các nước có nền kinh tế đang phát triển tiếp cận khoa học kĩ
thuật tiên tiến và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Việt Nam ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong nền kinh tế, đó là
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước.
Để điều tiết nền kinh tế nhà nước đã sử dụng nhiều công cụ khác nhau. Một trong
những công cụ không thể thiếu được là pháp luật. Pháp luật được sử dụng như một
công cụ sắc bén nhất và không thể thay thế được. Quản lý kinh tế bằng pháp luật đòi
hỏi tất yếu của nền kinh tế thị trường và sự quản lý khoa học nhất. Pháp luật hiện nay
đã trở thành một bộ phận cơ bản của nền Kinh tế thị trường. Do đó nhà nước luôn
quan tâm ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh cho phù hợp.

GVHD: Dư Ngọc Bích 2
doanh nghiệp 2005”, tác giả nghiên cứu nhằm mục tiêu:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về luật công ty, luật doanh nghiệp tư
nhân, luật doanh nghiệp 1999 và luật doanh nghiệp 2005,
- Tìm hiểu về thủ tục thành lập doanh nghiệp qua các luật,
- Nhằm so sánh thủ tục thành lập giữa các luật nhằm tìm ra những điểm tiến bộ
cũng như những bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng phương pháp phân tích và tổng
hợp tài liệu, phương pháp liệt kê, so sánh.
5. Kết cấu đề tài
Bố cục của đề tài gồm có:
Phần mở đầu
Chương 1: Thủ tục thành lập doanh nghiệp theo luật công ty 1990 và luật doanh
nghiệp tư nhân 1990
Chương 2: Thủ tục thành lập doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp 1999
Chương 3: Thủ tục thành lập doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp 2005
Chương 4: So sánh thủ tục thành lập doanh nghiệp theo luật công ty 1990, luật
doanh nghiệp tư nhân 1990, luật doanh nghiệp 1999 và luật doanh nghiệp 2005.
Kết luận
Lời cảm ơn: Để hoàn thành được đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật trước
hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến cô Dư Ngọc Bích đã đóng góp nhiều ý kiến quý
giá trong việc chỉnh sửa đề tài, và hướng dẫn tôi tận tình trong quá trình nghiên
cứu đề tài, đồng thời gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô trong khoa luật
trường Đại Học Cần Thơ cùng các bạn sinh viên đã giúp đỡ tôi trong quá trình
tìm kiếm tài liệu.


lập công ty. Việc thành lập và đăng ký kinh doanh cũng là quyền của công dân
song phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Sự phát triển của doanh nghiệp phản ánh sự phát triển kinh tế. Việt Nam là một
nước nông nghiệp và người dân quê tha thiết với mảnh đất tổ tiên không bao giờ
chịu bỏ làng mạc. Nông nghiệp là một nghề cực nhọc nhưng người dân vốn cần cù
chịu khó nên nước ta vẫn có truyền thống là một nước chuyên về nông nghiệp.
Trong đời thường cuộc sống hằng ngày phải có sự trao đổi hàng hoá và sản phẩm
để thoả mãn những nhu cầu thực dụng, nhưng ở một xã hội chuyên sản xuất nông
nghiệp thì một mặt không có nhiều sản phẩm cho việc trao đổi thương mại, mặt
khác nhu cầu vật chất rất hạn chế không đủ thúc đẩy cho thương mại phát triển.
Ban đầu việc phát triển thương mại chỉ diễn ra trong phạm vi tỉnh hay chỉ là phạm
vi trong nước. Việc giao lưu thực tế chưa được người Việt Nam biết tới. Cho tới
thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, những công ty kỹ nghệ ở Việt Nam còn rất
hiếm mà những công ty nào tương đối quan trọng đều là những công ty của người
pháp. Như công ty điện lực, công ty nước,… Do đó chúng ta thấy rằng trước kia ở
nước ta về lĩnh vực công nghiệp, thương mại phát triển rất hạn chế, các công ty,
doanh nghiệp được thành lập rất ít.
Mặc dù việc lập công ty là tự do, những người Việt Nam lúc đó có thể chưa
nhận thấy rằng công ty cổ phần, công ty TNHH là những hình thức doanh nghiệp
có nhiều ưu thế phải sử dụng nếu muốn nắm được thế thượng phong trong thị
trường kinh tế. Như vậy, ở Việt Nam các doanh nghiệp đã có khá lâu, nhưng nó
thực sự phát triển năm 1954 đến nay.
Luật công ty 1990 và luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 được ban hành đã
đánh dấu sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Trước kia có rất ít doanh nghiệp
được thành lập, và cho đến khi nước ta thực hiện chính sách mở cửa giao lưu với
các nước, lúc đó ở nước ta xuất hiện nhiều công ty và doanh nghiệp tư nhân cũng
xuất hiện nhiều hơn. Luật công ty và doanh nghiệp tư nhân 1990 đã mở ra những
điều kiện thuận lợi mới giúp cho việc thành lập doanh nghiệp được dễ dàng hơn.
Và hai luật này ra đời đã đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình đi lên của
đất nước.

vũ trang nhân dân.
- Người bị mất trí, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án tù mà
chưa được xoá án. Đó là những người bị hạn chế năng lực hành vi và bị hạn chế
quyền công dân.
Việc hạn chế viên chức tại chức và sĩ quan tại ngũ là nhằm tách bạch chức năng
quản lý nhà nước ra khỏi các hoạt động kinh doanh.
Ngoài các cá nhân được thành lập công ty, thì các tổ chức kinh tế có tư cách
pháp nhân, các tổ chức xã hội cũng được tham gia thành lập công ty. Tổ chức kinh
tế có thể là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể, công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn.
Luật doanh nghiệp tư nhân 1990 cũng quy định những trường hợp không được
thành lập doanh nghiệp tư nhân, cụ thể quy định tại Điều 6 và Điều 7.
1.2.2 Điều kiện cấp giấy phép thành lập
Về nguyên tắc, mọi công dân tổ chức đã nêu trên đều có quyền tham gia thành
lập công ty hay doanh nghiệp tư nhân nhưng phaỉ có những điều kiện nhất định
mới được cấp giấy phép thành lập.
Theo Điều 15 luật công ty 1990, Điều 9 luật doanh nghiệp tư nhân 1990 thì phải
có những điều kiện sau mới được cấp giấy phép thành lập:
- Mục tiêu, Ngành nghề kinh doanh rõ ràng có trụ sở giao dịch và phương án
kinh doanh cụ thể,
- Đối với doanh nghiệp tư nhân phải có đủ vốn đầu tư ban đầu phù hợp với quy
mô và ngành nghề kinh doanh. Vốn đầu tư ban đầu không được thấp hơn vốn pháp
định do hội đồng bộ trưởng quy định. Đối với công ty (Theo luật công ty 1990)
GVHD: Dư Ngọc Bích 5
phải có vốn điều lệ phù hợp với quy mô ngành nghề kinh doanh. Vốn điều lệ không
được thấp hơn vốn pháp định do hội đồng bộ trưởng quy định.
- Ngoài các điều kiện trên thì người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh
phải có trình độ chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi đối với một số ngành
nghề.
Các điều kiện mà luật công ty 1990 và luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 quy

- Mục tiêu ngành nghề kinh doanh cụ thể.
- Vốn điều lệ và cách thức góp vốn. Đối với doanh nghiệp tư nhân là vốn đầu tư
ban đầu trong đó ghi rõ phần vốn bằng tiền việt nam, ngoại tệ, vàng, tài sản bằng
hiện vật.
- Biện pháp bảo vệ môi trường.
Đơn phải kèm theo phương án kinh doanh ban đầu và dự thảo điều lệ công ty.
Luật công ty 1990 còn quy định đơn xin phép thành lập công ty phải có trương
trình xây dựng công ty.
Trong thời hạn 60 ngày ( Doanh nghiệp tư nhân theo luật doanh nghiệp tư nhân
1990 thì trong thời hạn là 30 ngày) kể từ ngày nhận đơn, Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi
nhận đơn phải cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp, nếu thấy có đủ các điều kiện
GVHD: Dư Ngọc Bích 6
mà pháp luật quy định. Trường hợp không đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp thì
uỷ ban nhân dân phải từ chối cấp giấy phép thành lập và nói rõ lý do, người bị từ
chối cấp giấy phép thành lập có quyền khiếu nại lên trọng tài kinh tế cấp trên trực
tiếp.
Sau khi nhận được giấy phép thành lập, các sáng lập viên phải tiến hành triệu
tập cuộc họp toàn thể các thành viên để tiến hành công việc thành lập và thông qua
điều lệ của công ty.
Ngoài ra luật công ty 1990 (Điều 11) và luật doanh nghiệp tư nhân 1990 (Điều
5) cũng quy định ngoài một số ngành nghề mà pháp luật cấm kinh doanh việc
thành lập công ty, doanh nghiệp tư nhân trong một số các ngành nghề phải được sự
cho phép của chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng. Các ngành nghề như:
+ Sản xuất và lưu thông thuốc nổ, chất độc, hoá chất độc
+ Khai thác các loại khoáng sản quý.
+ Sản xuất và cung ứng điện, nước có quy mô lớn
+ Sản xuất các phương tiện phát sóng truyền tin dịch vụ bưu chính viễn thông;
truyền thanh, truyền hình, phát thanh, xuất bản;
+ Vận tải viễn dương và vận tải hàng không;
+ Chuyên kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu;

Việc đăng kí kinh doanh của công ty cổ phần phải được tiến hành trong thời
hạn 1 năm kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập.
Quá thời hạn nói trên mà chưa đăng ký kinh doanh. Nếu muốn tiếp tục thành
lập công ty thì các sáng lập viên phải làm thủ tục xin phép thành lập. Trong trường
hợp có lý do chính đáng, UBND đã cấp giấy phép thành lập không quá 90 ngày.
Như vậy khi nộp hồ sơ đăng kí kinh doanh phải nộp đủ các giấy tờ cần thiết
theo quy định của pháp luật. Trong hồ sơ đăng kí kinh doanh phải có giấy chứng
thực trụ sở giao dịch nhưng thực tế nhiều doanh nghiệp đăng kí kinh doanh địa chỉ
trụ sở cụ thể trong hồ sơ nhưng thực chất không hoạt động tại nơi đăng ký hình
thành nhiều “doanh nghiệp ma”.
Ngoài ra trong hồ sơ đăng ký kinh doanh phải có điều lệ công ty. Điều lệ công
ty là bản cam kết của tất cả thành viên về thành lập và hoạt động của công ty, được
thông qua tại đại hội đồng thành lập.
Điều lệ công ty phải có nội dung chủ yếu sau đây:
- Hình thức, mục tiêu, tên gọi trụ sở, thời hạn hoạt động của công ty,
- Họ, tên các sáng lập viên;
- Vốn điều lệ trong đó ghi rõ phần vốn góp bằng hiện vật hoặc bằng bản quyền
sở hữu công nghiệp
- Phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty TNHH; mệnh giá cổ phiếu
và số cổ phiếu phát hành đối với công ty cổ phần.
- Thể thức hoạt động và thông qua quy định của đại hội đồng
- Cơ cấu quản lý và kiểm soát công ty
- Các loại quỹ m ức giới hạn các quỹ được lập tại công ty
- Thể lệ quyết toán và phân chia lợi nhuận
- Các trường hợp sáp nhập chuyển đổi hình thức, giải thể công ty và thể thức
thanh lý tài sản công ty.
Đối với doanh nghiệp tư nhân theo luật doanh nghiệp tư nhân 1990 thì trong
thời hạn 60 ngày kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập, chủ doanh nghiệp tư
nhân phải đăng ký kinh doanh tại trọng tài kinh tế cùng cấp UBND đã cấp giấy
phép thành lập.

để thành lập công ty hay doanh nghiệp tư nhân nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục
qua hai giai đoạn: Xin phép thành lập và đăng ký kinh doanh. Từ những quy định
trên chúng ta thấy rằng đó là một hạn chế lớn của pháp luật nước ta, những khâu
thủ tục ở nước ta quá rườm rà, hệ thống pháp luật cồng kềnh, tốn nhiều thời gian
trong quá trình xin phép thành lập và đăng ký kinh doanh. Việc quy định thủ tục
thành lập doanh nghiệp vẫn chưa tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư.

lên.
Trước kia hình thức công ty hợp danh còn chưa phát triển thì cho đến năm 2004
khi luật doanh nghiệp năm 1999 có hiệu lực được 5 năm trong nền kinh tế nước ta
mới có khoảng 10 công ty hợp danh
1
. Như vậy khi luật doanh nghiệp năm 1999
được ban hành thì có rất nhiều loại hình doanh nghiệp được thành lập và phát triển.
Ngay khi luật doanh nghiệp 1999 có hiệu lực, Chính phủ đã thành lập tổ công
tác về thi hành luật doanh nghiệp và ngày 3/2/2000 đã ban hành 3 văn bản pháp lý
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng góp phần đưa luật doanh nghiệp đi vào thực tế cuộc
sống đó là: Nghị định 02/2000/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh. Nghị định
03//2000/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành một số điều của luật doanh nghiệp, và
quyết định số 19/2000/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về bãi bỏ 84 loại giấy
phép trái với quy định tại luật doanh nghiệp. Ngoài ra, còn có các văn bản khác
được ban hành sau đó như: các văn bản về giấy phép; các văn bản về ngành nghề
kinh doanh có điều kiện và chứng chỉ hành nghề, v.v… (thống kê đến hết năm
2001 có khoảng hơn 30 văn bản loại này được chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang
bộ ban hành). Trong các văn bản pháp lý nêu trên, Nghị định 02/2000/NĐ-CP về
đăng ký kinh doanh đã góp phần quan trọng vào công cuộc cải cách và đơn giản
hoá thủ tục hành chính về thành lập doanh nghiệp như quy định tại luật doanh
nghiệp nhưng vẫn đảm bảo việc tăng cường vai trò quản lý của nhà nước, giám sát

1
Xem: Quốc Cường – Thanh Thảo, luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật mới trong kinh doanh, NXB
thống kê, năm 2004, trang 5.
GVHD: Dư Ngọc Bích 10
bằng pháp luật đối với doanh nghiệp.
Tính phức tạp và sự phiền phức của thủ tục thành lập công ty và doanh nghiệp
tư nhân ở nước ta trước khi ban hành luật doanh nghiệp rõ ràng không đáp ứng
được yêu cầu của nhà đầu tư, tạo kẽ hở cho sự vi phạm pháp luật của các cán bộ,

thành lập doanh nghiệp
6
.
Qua đó ta thấy rằng ở các nước trên thế giới thủ tục thành lập của họ rất đơn
giản và nhanh chóng. Do đó để phù hợp với tình hình của nền kinh tế nhà nước ta
cũng nên sửa đổi bổ sung tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp trong việc
thành lập và đăng ký kinh doanh.
2.2 Thủ tục thành lập
Trước kia theo luật công ty năm 1990 để khai trương một doanh nghiệp tư
nhân hoặc công ty, cần thiết phải tiến hành hai thủ tục pháp lý tương đối độc lập
nhau đó là:
- Xin phép thành lập
- Đăng ký kinh doanh
Lúc đó các chuyên gia nước ngoài cũng đã có những thắc mắc về vấn đề này.
Theo họ tự do thành lập doanh nghiệp thuộc nội hàm của quyền tự do của công
dân, do đó công dân không cần phải xin phép cơ quan nhà nước khi thành lập
doanh nghiệp. Tuy nhiên, với mục đích ngay từ đầu thông qua thủ tục thành lập,
nhà nước có thể quản lý các doanh nghiệp và định hướng cho sự hình thành doanh

2
Xem: Điều 3 - Nghị định 03/2000/NĐ-CP ngày 3-2-2000.
3
Xem: Điều 4 - Nghị định 03/2000/NĐ-CP ngày 3-2-2000.
4
Xem: Điều 5 - Nghị định 03/2000/NĐ-CP ngày 3-2-2000.
5
Xem: Điều 6 - Nghị định 03/2000/NĐ-CP ngày 3-2-2000.
6
xem: Lê minh Toàn, những điều cần biết về luật doanh nghiệp dành cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp,
NXB chính trị quốc gia, năm 2001, trang 90.

của nhà nước và công quỹ để thành lập doanh nghiệp, kinh doanh thu lợi riêng cho
đơn vị, cơ quan mình.
- Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức.
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong
các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân.
- Cán bộ lãnh đạo quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp nhà nước trừ
những người cử đi làm đại diện để quản lý phần vốn góp của nhà nước tại các
doanh nghiệp khác.
Người chưa thành niên, người thành niên bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi
dân sự.
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình
phạt hoặc bị toà án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu làm hàng giả,
kinh doanh trái phép, trốn thuế lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy định
của pháp luật.
- Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp doanh của công ty hợp doanh,
giám đốc (tổng giám đốc) Chủ tịch và các thành viên của hội đồng quản trị, hội
đồng thành viên của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập

7
Xem: Nguyễn Viết Tý, luật so sánh và thực tiễn xây dựng luật doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí luật học số
4/2007, trang 73

GVHD: Dư Ngọc Bích 12
doanh nghiệp, không được làm người quản lý doanh nghiệp trong thời hạn từ một
năm đến ba năm kể từ ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, trừ các trường hợp
quy định tại luật phá sản doanh nghiệp.
- Tổ chức nước ngoài, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam. Và giải thích
cụ thể tại điều 9 Nghị định số 02/NĐ-CP ngày 3/2/2000 hướng dẫn thi hành một số
điều của luật doanh nghiệp. Việc cấm một số đối tượng thành lập công ty nói riêng
thành lập doanh nghiệp nói chung là cần thiết và phù hợp với thông lệ quốc tế. Quy

Với điều kiện nước ta đang là một nước đang phát triển để đưa đất nước trở
thành một nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì trước hết nhà nước ta cần phải
xây dựng được một hệ thống pháp luật luôn ổn định và thuận lợi cho các chủ thể
tham gia hoạt động kinh doanh, và thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư nước ngoài
góp vốn vào các doanh nghiệp ở việt Nam.
2.2.2 Thủ tục đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp
Đây là một điểm mới của luật doanh nghiệp. Thể hiện tinh thần đổi mới và cải
cách hành chính của nước ta trong thời kỳ này.
Tính phức tạp và phiền hà của thủ tục thành lập công ty và doanh nghiệp tư
nhân ở nước ta trước khi ban hành luật doanh nghiệp rõ ràng không đáp ứng được
GVHD: Dư Ngọc Bích 13
nhu cầu của nhà đầu tư, tạo kẽ hở cho vi phạm pháp luật của các cán bộ, cơ quan
nhà nước có thẩm quyền và chính bản thân các nhà đầu tư. Do vậy, luật doanh
nghiệp năm 1999 và nhiều văn bản được ban hành như: Các văn bản về giấy phép;
các văn bản về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và chứng chỉ hành nghề.v.v…
đã đơn giản thủ tục thành lập doanh ngiệp theo hướng gộp việc xin phép thành lập
và đăng ký kinh doanh thành một và chỉ còn quy định việc đăng ký kinh doanh đối
với doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp 1999 ra đời trên cơ sở tiếp thu những điểm
tiến bộ của luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân 1990. Thủ tục thành lập và
đăng ký kinh doanh chỉ giữ lại những thủ tục, hồ sơ thật sự cần thiết, trên cơ sở
nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Những cải cách trong luật doanh nghiệp đã
giảm bớt được những thủ tục, hồ sơ thành lập, không cần thiết, qua đó giảm bớt
được chi phí về thời gian, công sức và tiền bạc cho việc thành lập doanh nghiệp.
Đặc biệt đã xoá đi một phần điều kiện phát sinh tiêu cực trong việc thành lập doanh
nghiệp. Những cải cách được tiến hành trong luật doanh nghiệp đã tháo bỏ được
một số cản trở đã tồn tại song song với việc tồn tại của luật công ty 1990 và luật
doanh nghiệp tư nhân 1990, làm cho việc thành lập doanh nghiệp để kinh doanh trở
nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư tham
gia vào thị trường Việt Nam, tuy nhiên vẫn đảm bảo vai trò quản lý của nhà nước,
giám sát bằng pháp luật đối với doanh nghiệp. Doang nghiệp có quyền chủ động

Đối với các ngành, nghề khi kinh doanh đòi hỏi phải có giấy chứng chỉ hành
nghề như:
+ Kinh doanh dịch vụ pháp lý
+ Kinh doanh dịch vụ khám chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm ,
+ kinh doanh dịch vụ thú y
+Kinh doanh dịch vụ thiết kế công trình, kinh doanh dịch vụ kiểm toán, kinh
doanh dịch vụ môi giới chứng khoán … .
Đây là những ngành, nghề khi kinh doanh đòi hỏi người quản lý phải có trình
độ chuyên môn về những lĩnh vực này .
Trong hồ sơ đăng ký kinh doanh thì đơn đăng ký kinh doanh phải được lập
đúng theo yêu cầu. Nội dung đơn phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
- Tên doanhnghiệp
- Địa chỉ, trụ sở chính của doanh nghiệp
- Mục tiêu và ngành, nghề kinh doanh
- Vốn điều lệ đối với công ty, vốn đầu tư ban đầu của chủ doanh nghiệp đối với
doanh nghiệp tư nhân,
- Phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, và
công ty hợp danh, số cổ phần và cổ đông sáng lập đăng ký mua, loại cổ phần mệnh
giá cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại đối với công ty
cổ phần.
- Họ, tên, chữ ký, địa chỉ thường trú của doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư
nhân, của người đại diện theo pháp luật đối với công ty Trách nhiệm hữu hạn và
công ty cổ phần, của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh.
Đơn đăng ký kinh doanh được lập theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký
kinh doanh quy định.
2.2.2.2 Trình tự và thủ tục đăng ký kinh doanh
* Cơ quan đăng ký kinh doanh
Cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) và ở huyên, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện), bao gồm:

ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội).
b) Tên doanh nghiệp được đặt đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 24 luật
doanh nghiệp 1999 tức là:
+ Không trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp khác đã đăng ký kinh
doanh ,
+ Không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá đạo đức và thuần phong mỹ tục
của dân tộc.
+ Phải viết bằng tiếng việt và có thể viết thêm bằng một hoặc một số tiếng nước
ngoài với khổ chữ nhỏ hơn.
+ Ngoài các quy định trên thì còn phải viết rõ loại hình doanh nghiệp, Công ty
trách nhiệm hữu hạn cụm từ trách nhiệm hữu hạn viết tắt là TNHH, công ty cổ
phần từ cổ phần viết tắt là CP, công ty hợp danh từ hợp danh viết tắt là HD, doanh
nghiệp tư nhân từ tư nhân viết tắt là TN.
Tuy nhiên, việc quy định tên doanh nghiệp vẫn còn nhiều vướng mắc. Chẳng
hạn việc quy định tên trùng và tên gây nhầm lẫn thì luật doanh nghiệp năm 1999
chỉ quy định rất chung chung, chưa cụ thể, không quy định thế nào là tên trùng , thế
nào là tên gây nhầm lẫn. Do đó vấn đề này đã gây nhiều tranh cãi về tính pháp lý
trong việc đăng ký tên doanh nghiệp.
c) Hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ theo quy định: Đầy đủ giấy tờ, có nội dung
khai đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật.
d) Nộp đủ lệ phí theo quy định.
Như vậy, nếu hội đủ các điều kiện theo quy định trên, doanh nghiệp sẽ được
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh .
Sau khi được cấp giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp được khắc
dấu và có quyền sử dụng con dấu của mình .
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cấp có hiệu lực trong phạm vi
toàn quốc. Kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp
có quyền hoạt động mà không phải xin phép bất kỳ cơ quan nhà nước nào, trừ
trường hợp doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề phải có điều kiện.
Trong trường hợp hồ sơ không hợp lệ hoặc tên doanh nghiệp không hợp lệ, trụ

+ Nơi đăng ký kinh doanh.
- Khi thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải công bố nội
dung những thay đổi đó theo quy định.
2.2.2.3 Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Theo quy định của luật doanh nghiệp 1999 và nghị định 02/2000/NĐ-CP, việc
xử lý bằng hình thức thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh chính là nhằm
mục đích thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp bằng pháp luật,
tăng cường trách nhiệm của phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cũng như trách
nhiệm của doanh nghiệp. Cụ thể doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh trong các trường hợp sau:
a) Không tiến hành hoạt động kinh doanh trong thời hạn một năm, kể từ ngày
được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
b) Ngừng hoạt động kinh doanh một năm liên tục mà không thông báo với cơ
quan đăng ký kinh doanh;
c) Không báo cáo về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với cơ quan đăng
ký kinh doanh trong hai năm liên tiếp.
d) Doanh nghiệp không gởi báo cáo về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày có yêu cầu
bằng văn bản;
đ) Kinh doanh ngành nghề bị cấm.
Nghị định 02/2000/NĐ-CP quy định việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh cụ thể như sau:
(i) Trong thời hạn 15 ngày nhận được thông báo của phòng đăng ký kinh doanh
GVHD: Dư Ngọc Bích 17
cấp tỉnh đối với trường hợp quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 121 luật doanh
nghiệp mà doanh nghiệp vi phạm vẫn không hoạt động kinh doanh, thì phòng đăng
ký kinh doanh cấp tỉnh có quyền yêu cầu người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp đến trụ sở của phòng để giải trình.
Nếu trong trường hợp người được yêu cầu không đến, thì phòng đăng ký kinh
doanh cấp tỉnh có quyền công bố công khai về hành vi vi phạm của doanh nghiệp

Trường hợp người được yêu cầu không đến, thì phòng đăng ký kinh doanh cấp
tỉnh công bố công khai hành vi vi phạm và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh.
(v) Trường hợp phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh phát hiện doanh nghiệp
kinh doanh ngành, nghề bị cấm, thì thông báo bằng văn bản yêu cầu doanh nghiệp
chấm dứt ngay việc kinh doanh ngành, nghề đó.
Nếu doanh nghiệp tiếp tục vi phạm kinh doanh ngành, nghề bị cấm, thì phòng
đăng ký kinh doanh cấp tỉnh có quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, đồng thời thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy
định của pháp luật.
Để nâng cao hơn nữa vai trò của công tác quản lý nhà nước đối với doanh
GVHD: Dư Ngọc Bích 18
nghiệp bằng pháp luật; Luật doanh nghiệp và nghị định 02/2000/NĐ-CP quy định
cho phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh buộc doanh nghiệp giải thể theo quy định
của pháp luật do đó:
(vi) Sau khi công bố các hành vi vi phạm của doanh nghiệp theo quy định tại
các khoản (i); (ii); (iii), (iv) và (v), phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh buộc doanh
nghiệp làm thủ tục giải thể theo quy định tại khoản 5 điều 112 luật doanh nghiệp và
xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh.
(vii) Trường hợp cơ quan quản lý chuyên ngành phát hiện doanh nghiệp có
hành vi vi phạm pháp luật, thì trực tiếp xử lý theo thẩm quyền được pháp luật quy
định hoặc thông báo với phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đăng
ký kinh doanh để xử lý.
2.2.2.4 Thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh.
Sau khi tiến hành đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh và đi vào
hoạt động chính thức; doanh nghiệp (công ty, doanh nghiệp tư nhân) có những
thay đổi quan trọng liên quan đến hoạt động kinh doanh. Những thay đổi đó có thể
bao gồm: Thành lập các chi nhánh, văn phòng đại diện; đăng ký bổ sung, thay đổi
ngành, nghề kinh doanh so với ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký khi thành lập
doanh nghiệp; đăng ký thay đổi địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; đăng ký

a) đăng ký lập chi nhánh, văn phòng đại diện

8
Xem: Điều 19, luật doanh nghiệp năm 1999.
9
xem: Điều 9 - Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 3-2-2000.
GVHD: Dư Ngọc Bích 19
Khi lập chi nhánh văn phòng đại diện, doanh nghiệp phải gửi thông báo tới
phòng dăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi đặt chi nhánh, văn phòng đại diện. Nội
dung thông báo gồm có:
- Tên và địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;
- Ngành, nghề kinh doanh;
- Họ tên, chữ ký, nơi cư trú của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
- Tên và địa chỉ trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện;
- Nội dung, phạm vi hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện;
- Họ, tên, nơi cư trú của người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện.
Kèm theo thông báo quy định trên đây phải có: Bản sao giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh của doanh nghiệp; Bản sao điều lệ công ty đối với công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh.
Nếu ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh phù hợp với ngành, nghề kinh
doanh của doanh nghiệp, nội dung hoạt động của văn phòng đại diện phù hợp với
nội dung hoạt động của doanh nghiệp thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận
được thông báo, phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, chi nhánh, văn phòng đại
diện được khắc dấu và có quyền sử dụng con dấu của mình.
Sau thời hạn 7 ngày, kể từ ngày gửi thông báo quy định trên đây đến phòng
đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, mà chi nhánh văn phòng đại diện không được cấp
giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, thì doanh nghiệp có quyền khiếu nại theo quy
định tại khoản 5 điều 8 Nghị định 02/2000/NĐ-CP.

đó, trừ trường hợp ngành, nghề đăng ký bổ sung, thay đổi là ngành, nghề kinh
doanh có điều kiện.
c) Đăng ký thay đổi địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp.
Khi chuyển địa chỉ trụ sở chính đến nơi khác trong phạm vi tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương, doanh nghiệp gửi thông báo đến phòng đăng ký kinh doanh cấp
tỉnh.
Nội dung thông báo gồm có: Tên doanh nghiệp, số đăng ký kinh doanh, ngày
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;
địa chỉ trụ sở chính dự định chuyển đến; Họ, tên, chữ ký và nơi cư trú của người
đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Khi nhận thông báo, phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh phải trao giấy biên
nhận và xác định ngày ghi đăng ký chuyển địa chỉ trụ sở chính vào bản chính giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh nghiệp trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận
thông báo.
Sau thời hạn 7 ngày nói trên mà doanh nghiệp vẫn không được đăng ký chuyển
địa chỉ trụ sở chính, thì doanh nghhiệp vẫn có quyền chuyển sang trụ sở mới,
nhưng phải gửi thông báo về địa chỉ trụ sở mới cho tất cả các chủ nợ biết trước khi
chuyển địa chỉ.
Khi chuyển địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp sang tỉnh khác, doanh nghiệp
gửi thông báo đến phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đã dăng ký
và phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp dự định đặt trụ sở mới.
Nội dung thông báo gồm: tên doanh nghiệp, số đăng ký kinh doanh, ngày và nơi
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;
địa chỉ trụ sở chính dự định chuyển đến; họ tên, chữ ký và nơi cư trú của người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiêp.
Kèm theo thông báo gửi đến phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh
nghiệp dự định đặt trụ sở mới, phải có điều lệ công ty và danh sách thành viên đối
với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên, danh sách cổ đông
sáng lập đối với công ty cổ phần, danh sách thành viên hợp danh đối với công ty
hợp danh.

ký đổi tên và ghi tên mới vào bản chính giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong
thời hạn 7 ngày.
Nếu tên dự kiến thay đổi bị trùng hoặc nhầm lẫn với tên doanh nghiệp đã đăng
ký thì phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thông báo bằng văn bản cho doanh
nghiệp biết và hướng dẫn chọn tên khác và đăng ký đổi tên doanh nghiệp như trên.
Việc thay đổi tên của doanh nghiệp không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của
doanh nghiệp.
e) Đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Trường hợp công ty hợp danh tiếp nhận thành viên hợp danh, khai trừ thành
viên hợp danh, có thành viên hợp danh rút khỏi công ty, thì công ty hợp danh gửi
thông báo đến phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, nơi công ty đăng ký kinh doanh.
Nội dung thông báo gồm có:
- Tên công ty, số đăng ký kinh doanh, ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh;
- Địa chỉ trụ sở chính của công ty;
- Họ tên, nơi cư trú của thành viên hợp danh mới, của thành viên hợp danh bị khai
trừ hoặc tự nguyện rút khỏi công ty;
- Chữ ký cuả tất cả thành viên hợp danh hoặc thành viên hợp danh được uỷ quyền.
Khi nhận thông báo, phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh trao giấy biên nhận và
xác định ngày ghi đăng ký thay đổi thành viên hợp danh vào bản chính giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh của công ty trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận thông
báo.
Trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu
hạn và công ty cổ phần, thì công ty gửi thông báo đến phòng đăng ký kinh doanh
cấp tỉnh nơi công ty đã đăng ký.
Nội dung thông báo bao gồm: Tên công ty, số đăng ký kinh doanh, ngày cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; địa chỉ trụ sở chính của công ty; Họ tên,
chức danh, nơi cư trú của người đang là đại diện theo pháp luật của công ty; Họ
tên, chức danh, nơi cư trú của người thay thế làm đại diện theo pháp luật của công
ty; họ tên và chữ ký của chủ tịch hội đồng thành viên, của người đại diện theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status