A. PHẦN MỞ ĐẦU
Trên thế giới từ lâu việc thanh toán bằng thẻ đã trở nên phổ biến và được người dân dùng
rất linh hoạt trong cuộc sống hằng ngày. Trong các giao dịch thương mại cổ điển, việc thanh
toán được thực hiện bằng tiền mặt (cash) kèm theo nhiều rủi ro và bất tiện, người ta đã
nghĩ ra các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, điển hình là thanh toán bằng séc
(cheque), bằng thẻ (card) và bằng các phương thức viễn thông khác như telegraphic
transfer (TTR) Những hình thức thanh toán trên đã mang lại rất nhiều thuận lợi trong giao
dịch hằng ngày. Tất cả đều là những hình thức thanh toán không bằng tiền mặt. Việc sử
dụng thẻ ATM cũng là một hình thức thanh toán nói trên.
Bài tiểu luận sẽ đi sâu tìm hiểu những vấn đề chung nhất liên quan đến thẻ ATM đang ngày
càng phổ biến ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, nhóm phân tích những ưu, nhược điểm của cách
thanh toán này, đồng thời đưa ra một số giải pháp khắc phục để việc sử dụng thẻ ATM ngày
càng an toàn và rộng rãi hơn ở Việt Nam.
B. NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẺ ATM
1. Khái niệm thẻ ATM
Thẻ ATM là một loại thẻ theo chuẩn ISO 7810, bao gồm thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, dùng để
thực hiện các giao dịch tự động như kiểm tra tài khoản, rút tiền hoặc chuyển khoản, thanh
toán hóa đơn, mua thẻ điện thoại v.v. từ máy rút tiền tự động (ATM). Loại thẻ này cũng
được chấp nhận như một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tại các điểm thanh
toán có chấp nhận thẻ.
2. Đặc điểm của thẻ ATM
Thẻ là một miếng plastic thường thiết kế với kích thước chữ nhật tiêu chuẩn để phù hợp với
khe đọc thẻ, có kích thước thông thường là 8,5cm x 5,5cm.
Trên bề mặt thẻ dập nổi tên chủ thẻ, số thẻ, băng giấy để chủ thẻ ký tên, và băng từ (thẻ
từ) hoặc chip (thẻ chip) lưu trữ thông tin về tài khoản đã được khách hàng đăng ký tại ngân
hàng nào đó.
Thẻ thường do các ngân hàng phát hành cho khách hàng của mình để phục vụ cho việc
thanh toán. Việc thanh toán này thường thực hiện giữa các ngân hàng khác nhau.Vì thế có
các tổ chức thanh toán quốc tế như VISA, MasterCard, American Express, Delta, hoặc các
tổ chức thanh toán liên ngân hàng trong nội địa một nước (ví dụ NETS của Singapore)
b. Chủ thẻ (Cardholder)
Là người có tên ghi trên thẻ được dùng thẻ để chi trả thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch
vụ. Chỉ có chủ thẻ mới có thể sử dụng thẻ của mình mà thôi. Mỗi khi thanh toán cho các cơ
sở chấp nhận thẻ vể hàng hoá dịch vụ hoặc trả nợ, chủ thẻ phải xuất trình thẻ để nơi đây
kiểm tra theo qui trình và lập biên lai thanh toán.
c. Số PIN:
Chủ thẻ thực hiện giao dịch rút tiền tại các máy rút tiền tự động thông qua mã số cá nhân
riêng. Mã số này do Ngân hàng phát hành thẻ cung cấp cho chủ thẻ khi phát hành. Đối với
mã số PIN, người chủ thẻ phải giữ bí mật, chỉ một mình mình biết. Đây là cơ sở cho sự an
toàn về tài khoản của chủ thẻ.
d. BIN (Bank Identificate)
Đây là mã số chỉ Ngân hàng phát hành thẻ. Mỗi Ngân hàng có mã số này khác nhau. Trong
hiệp hội thẻ có nhiều ngân hàng thành viên, mỗi ngân hàng thành viên có một mã số riêng
giúp thuận lợi trong thanh toán và truy xuất.
e. Ngân hàng phát hành thẻ:
Ngân hàng phát hành thẻ là thành viên chính thức của các Tổ chức thẻ quốc tế, là Ngân
hàng cung cấp thẻ cho khách hàng.
Ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ,
mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng với chủ thẻ.
f. Ngân hàng thanh lý (Ngân hàng thanh toán)
Đây là Ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với cơ sở tiếp nhận và thanh toán các chứng từ giao
dịch do cơ sở chấp nhận thẻ xuất trình. Một Ngân hàng có thể vừa đóng vai trò thanh toán
thẻ vừa đóng vai trò phát hành.
g. Hạn mức tín dụng
Được hiểu là tổng số tín dụng tối đa mà Ngân hàng phát hành thẻ cấp chochủ thẻ sử dụng
đối với từng loại thẻ.
h. Ngày hiệu lực:
Ngày sao kê (Statement date): là ngày ngân hàng phát hành thẻ lập các sao kê về khoản
chi tiêu mà chủ thẻ phải thanh toán trong tháng.Ngày đáo hạn (Due date): là ngày mà ngân
hàng phát hành qui định cho chủ thẻ thanh toán toàn bộ hay một phần trong giá trị sao kê
Hiện nay ở Việt Nam có hai loại thẻ là thẻ mang thương hiệu quốc tế và thẻ ghi nội địa.
- Thẻ mang thương hiệu quốc tế:
Tại Việt Nam, có 15 ngân hàng đang phát hành các loại thẻ mang thương hiệu quốc tế, dẫn
đầu là Vietcombank, ACB, Techcombank, Sacombank…
- Thẻ ghi nội địa:
Các ngân hàng trong nước còn phát hành riêng thẻ ghi nợ nội địa, người Việt Nam quen gọi
là thẻ ATM, thẻ này có phạm vi hoạt động trong quốc gia. Năm ngân hàng đứng đầu thị
phần thẻ nội địa là Vietcombank, Agribank, Đông Á Bank, Vietinbank và BIDV với tổng thị
phần chiếm hơn 90%.
Hầu hết các loại thẻ mới phát hành đều có sẵn chức năng thanh toán trên ATM, POS… Còn
các chức năng thanh toán khác, chủ thẻ có thể phải đăng ký với ngân hàng phát hành để
được sử dụng.
5. Ý nghĩa của thẻ ATM
ATM là một loại thẻ ghi nợ hay thẻ ghi nợ nội địa, được chấp nhận như một phương tiện
thanh toán không dùng tiền mặt. Thẻ ATM là một loại thẻ ghi nợ nhưng thẻ ghi nợ không
hoàn toàn là 1 thẻ ATM. Vì vậy chúng không phải là một. Thẻ ATM chỉ dùng để rút tiền tại
máy ATM, còn nếu bạn dùng thẻ ghi nợ bạn có thể thanh toán cho bất kỳ chỗ nào bạn mua
hàng mà không phải trả bằng tiền mặt miễn là ở đó có POS (point of sale). Thường thì trên
mặt sau của thẻ ghi nợ có chữ ký của chủ thẻ còn thẻ ATM thì không.
Thẻ ATM còn là điều kiện để các tổ chức tín dụng trên địa bàn tiếp cận các dịch vụ nhanh
chóng, tiết kiệm thời gian như: trả tiền điện, tiền nước, nộp thuế Các ngân hàng còn có
thể mở rộng dịch vụ cung ứng các sản phẩm mới để phục vụ khách hàng. Ngân hàng Đầu tư
- Phát triển có thể cung cấp dịch vụ nạp tiền điện thoại di động, Ngân hàng Nông nghiệp -
Phát triển nông thôn có thể ký hợp đồng phát hành thẻ ATM cho học sinh, sinh viên vay vốn
từ Ngân hàng Chính sách Xã hội, Ngân hàng Thương mại Cổ phẩn Công thương, hợp đồng
thu thuế của các hộ kinh doanh, thuế thu nhập cá nhân. …
II. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC PHÁT HÀNH VÀ CÁCH SỬ DỤNG THẺ ATM
1. Trình tự, thủ tục phát hành thẻ ATM
Hiện nay, mỗi Ngân hàng quy định một trình tự thủ tục phát hành thẻ ATM riêng. Tuy nhiên,
quy chung lại thì có những trình tự, thủ tục cơ bản sau:
Bước 6: Nhập lại số PIN mới đã chọn để xác nhận, bấm ENTER.
Bước 7: Trên màn hình hiện lên dòng chữ: “Bạn đã đổi PIN thành công”.
Bước 8: Nhận lại thẻ từ máy, yêu cầu Quý khách nhận dứt khoát, tránh ấn thẻ vào trong,
thẻ sẽ bị nuốt.
b. Cách chuyển tiền tại máy ATM
Bước 1: Chọn nút "Chuyển khoản" trên màn hình
Bươc 2: Chọn số tài khoản chuyển đi
Bước 3 : Từ bàn phím, nhập số tài khoản chuyển đến và bấm OK để xác nhận, hoặc bấm
Cancel để hủy bỏ lựa chọn
Bước 4: Từ bàn phím, nhập số tiền cần chuyển, bấm OK để xác nhận hoặc Cancel để hủy bỏ
giao dịch
Bước 5: Chọn Đồng ý để xác nhận lại hoặc Không để hủy bỏ giao dịch
c. Cách xem số dư tài khoản tại máy ATM:
Chọn nút Xem số dư trên màn hình
Trên màn hình sẽ hiện số dư tài khoản của Quý khách
d. Cách rút tiền tại máy ATM
Bước 1: Chọn nút "Rút tiền" trên màn hình
Bước 2: Chọn số tiền muốn rút nếu số tiền muốn rút trùng với số ghi trên màn hình máy,
nếu không chọn "Số khác"
Bước 3: Từ bàn phím, nhập số tiền Quý khách muốn rút rồi bấm OK để thực hiện giao dịch,
hoặc bấm Cancel nếu muốn hủy giao dịch
Bước 4: Nhận lại thẻ từ khe đọc thẻ của máy trước, sau đó nhận tiền và biên lai
e. Một số trường hợp liên quan đến việc sử dụng thẻ
- Bị kẹt thẻ trong ATM
Khi bị kẹt thẻ trong ATM, khách hàng không nhập laih số pin ma gọi ngay cho Ngân hàng để
yêu cầu hỗ trợ và không nhờ người bất kỳ ai giúp đỡ.
- Thẻ bị đánh cắp, thất lạc:
Khi bị mất thẻ hoặc bi thất lạc, khách hàng cần phải gọi ngay đến số điện thoại trực 24/24
của Ngân hàng (nơi phát hành thẻ) được ghi trên thẻ/trên các máy ATM, cung cấp các thông
tin (số thẻ, số tài khoản, số CMT) để yêu cầu khóa thẻ hoặc đề nghị có biện pháp xử lý phù
trên thị trường. Với phương thức thanh toán điện tử, các giao dịch được giải quyết qua hệ
thống ngân hàng thông qua hình thức chuyển khoản, qua đó giúp mọi người tiết kiệm được
về thời gian, chi phí đi lại. Trước kia, các dịch vụ ngân hàng chủ yếu được giao dịch trực tiếp
tại ngân hàng. Sau khi thẻ ATM ra đời, các hoạt động ngân hàng truyền thống được chuyển
hoá dần thành chức năng của thẻ.
Theo số liệu thống kê, cả nước có khoảng 20 NH phát hành thẻ; 14.000 điểm chấp nhận thẻ
và 3,5 triệu thẻ ATM. Tốc độ phát triển nhanh trong một thời gian ngắn của thị trường thẻ
tại Việt Nam kèm theo sự phổ cập ngày càng rộng rãi của mạng internet dự kiến sẽ góp
phần làm giảm tối đa lượng tiền mặt trong lưu thông
Thứ hai, hình thức này còn có thêm ưu điểm là giúp cho hoạt động của ngân hàng phù hợp
với thông lệ quốc tế và có điều kiện để các ngân hàng thương mại mở chi nhánh hoạt động
ở các nước phát triển, qua đó đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đồng thời,
thanh toán qua thẻ sẽ làm giảm tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, do đó giúp kiềm chế lạm
phát và các tiêu cực trong xã hội.
Thứ ba, thẻ ghi nợ cũng là một cách thanh toán ít rủi ro hơn so với việc thanh toán bằng
tiền mặt trực tiếp, do tài khoản của bạn bị mã khoá và chỉ có thể tiếp cận tài khoản này nếu
nhập đúng mã số pin, Bằng cách nhập mã số cá nhân (PIN - Personal Identification
Number), chủ thẻ có thể tiếp cận tài khoản cá nhân của mình tại ngân hàng mọi nơi, mọi
lúc, 24/24 mỗi ngày và 7 ngày trong tuần. ATM đã cung cấp cho khách hàng sử dụng thẻ
khả năng giao dịch ngoài giờ làm việc, ngoài ngân hàng và khả năng tự phục vụ.
Thứ tư, thẻ ATM có thể kết hợp nhiều dịch vụ trong đời sống hàng ngày của người dân liên
quan tới tài chính và hình thúc thanh toán tiện dụng. Ngày nay, các hộ gia đình có thể thanh
toán tiền điện, tiền nước, chi phí sinh hoạt, mua sắm,… qua thẻ ATM mà không cần tới các
cửa hàng, các điểm thu cước. Các doanh nghiệp có thể trả lương cho các nhân viên mà
không cần đưa trực tiếp, trả lương qua thẻ ATM giúp minh bạch hoá thu nhập cá nhân của
các nhân viên. Các trường đại học có thể thu học phí thông qua hệ thống ngân hàng đăng kí
mà không cần trực tiếp tới trường để nộp, giúp phụ huynh kiểm soát được hành vi của con
em học trọ xa.
2. Nhược điểm
Bên cạnh những tiện ích và ưu điểm, thẻ ATM không tránh khỏi những nhược điểm
mất thông tin tài chính cá nhân trong thời gian này. Bọn tội phạm luôn phát minh ra những
cách thức mới để ăn cắp. Cách đây vài năm, các công ty thẻ in thêm mã số gồm 3 ký tự ở
mặt sau thẻ, nhằm tăng cường bảo vệ cho chủ thẻ. Nhưng giờ đây công nghệ đó lại trở
thành lợi thế của bọn tội phạm. Để lấy được mật mã đó, bọn tội phạm thường sử dụng thiết
bị ăn cắp dữ liệu, lấy số thẻ rồi gọi điện cho chủ thẻ giả vờ là cán bộ ngân hàng muốn kiểm
tra giao dịch bất thường và thuyết phục chủ thẻ cung cấp mã số ở mặt sau thẻ. Đấy là
những thông tin cần thiết để chúng thanh toán qua mạng hay qua điện thoại.
Trường hợp ăn cắp thẻ là trường hợp khá phổ biến. Bước đầu tiên, bọn tội phạm sẽ lắp vào
khe đọc thẻ của máy một miếng nhựa có khả năng giữ thẻ và ngăn máy nhả ra. Thông
thường, trong tình huống này, chủ thẻ sẽ nghĩ mình đã thao tác nhầm và bị máy nuốt thẻ,
chứ không chú ý xem khe đọc thẻ có gì bất thường không, liệu có bị bọn tội phạm lắp đặt
thiết bị lạ vào khe đọc thẻ hay không, Khi chủ thẻ còn lúng túng chưa biết xử lý ra sao, kẻ
gian lại gần, giả vờ là người tốt bụng sẵn sàng giúp đỡ. Chúng sẽ “tư vấn” chủ thẻ nên nhập
lại số PIN để lấy lại thẻ và theo dõi. Tất nhiên việc nhập lại số PIN chả giúp ích gì cho chủ
thẻ cả, nhưng lại là cơ hội để kẻ gian biết được mật mã truy cập tài khoản thẻ của nạn
nhân. Khi chủ thẻ thất vọng bỏ đi, kẻ gian sẽ ở lại lấy thẻ ra, rồi dùng PIN vừa nhìn trộm
được để truy cập vào tài khoản và rút tiền.
Rõ ràng nạn tội phạm ATM không còn là nguy cơ xa vời tại Việt Nam. Chẳng hạn như cuối
năm 2008, công an TP Đà Nẵng đã bắt quả tang một trường hợp dùng thẻ ATM của khách
bỏ quên để chuyển 60 triệu đồng sang tài khoản của mình. Rõ ràng việc có được số PIN của
thẻ cộng với yếu tố lấy cắp được thẻ ATM của khách hàng đã giúp cho kẻ gian ăn cắp được
tiền từ tài khoản của nạn nhân
V. NGUYÊN NHÂN
Thứ nhất nguyên nhân từ phía Ngân hàng phát hành thẻ.
Dịch vụ ATM chỉ mới được sử dụng tại Việt Nam từ năm 2001 nên vẫn được xem là còn khá
mới đối với các Ngân hàng phát hành và người sử dụng. Các Ngân hàng vẫn chưa có sự đầu
tư đúng mức để nâng cao hệ thống các máy ATM. Do đó các sự cố kỹ thuật vẫn thường
xuyên xảy ra. Nguồn vốn chưa đủ nên các Ngân hàng hiện vẫn chưa đào tạo được một đội
ngũ nhân viên chuyên nghiệp để khắc phục các sự cố phát sinh từ việc sử dụng thẻ ATM. Sự
thiếu liên kết giữa các Ngân hàng với nhau cũng làm cho việc sử dụng thẻ ATM chưa phát
mặt trong nền kinh tế. Cạnh tranh có hợp tác, hợp tác thúc đẩy cạnh tranh vì sự vững mạnh
của hệ thống Ngân hàng Việt Nam.
- Cần có sự liên kết chặt chẽ giữa Ngân hàng, người sử dụng và Nhà nước trong việc lưu
hành thẻ, sử dụng thẻ. Kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm đối với những tội phạm được phát
hiện trong lĩnh vực này.
C. PHẦN KẾT LUẬN
Máy rút tiền tự động, phối hợp với thẻ ATM (thẻ ghi nợ), khuyến khích người dân sử dụng
dịch vụ ngân hàng cho chi tiêu hàng ngày bởi tính tiện dụng và an toàn của nó. Tuy nhiên,
với hệ thống máy móc vận hành vẫn còn chưa đạt yêu cầu, khả năng thông tin tài khoản
thẻ chưa được bảo toàn một cách triệt để…đã làm cho hình thức thanh toán này đối đầu với
rất nhiều rủi ro.
Thanh toán không dùng tiền mặt đang là xu hướng ưa chuộng trong kinh doanh hiện nay.
Nó đảm bảo cho việc mua bán hàng hóa quốc tế được xuyên suốt mà không cần phụ thuộc
vào thời gian thanh toán. Do đó, dù còn nhiều nhược điểm, phương thức thanh toán bằng
thẻ ATM nói riêng và phương thức thanh toán không bằng tiền mặt nói chung vẫn đang
được đẩy mạnh ở tất cả các quốc gia trên thế giới, trông đó có cả Việt Nam.
Sử dụng thẻ ATM là một lĩnh vực được coi là mang lại nhiều tiện lợi cho người dùng. Nhưng
hiện nay, dịch vụ này vẫn chưa phát triển ở nước ta. Đại đa số các chủ thẻ ở Việt Nam chỉ
mở thẻ ATM để rút tiền mặt mà chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ tiện ích mà thẻ có
thể mang lại. Vì vậy, thẻ ATM vẫn chưa phát huy hết ý nghĩa của nó là thay thế tiền mặt
trong thanh toán. Các Ngân hàng cần có những chính sách liên kết, mở rộng dịch vụ phát
hành thẻ ATM và không ngừng đầu tư, nâng cấp thiết bị máy móc, nâng cao chất lượng dịch
vụ để giảm thiểu rủi ro và phục vụ khách hàng tốt hơn.