Thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện và giải pháp hoàn thiện
Một xã hội phát triển trước hết phải có những con người khoẻ mạnh. Có sức khoẻ con người
mới có thể thực hiện các hoạt động sống phục vụ cho chính bản thân mình và cho cộng đồng.
Nhưng không phải lúc nào con người cũng khoẻ mạnh và không phải ai cũng có khả năng chi trả
chi phí khám chữa bệnh khi không may gặp rủi ro bất ngờ như ốm đau, bệnh tật … Chính vì vậy ở
hầu hết các quốc gia trên thế giới đều triển khai BHYT nhằm giúp đỡ và tạo ra sự công bằng trong
chăm sóc sức khoẻ đối với người bệnh.
Ở nước ta BHYT được thực hiện từ năm 1992, tuy đã đạt được nhiều kết quả nhưng còn rất
nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Mặc dù vậy tại Đại hội Đảng IX, Nhà nước ta đã
quyết tâm đến 2010 nước ta sẽ tiến tới BHYT toàn dân, tạo điều kiện chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
mà không phân biệt địa vị, giới tính, nơi cư trú …Muốn đạt được mục tiêu này phải từng bước tăng
nhanh đối tượng tham gia, đặc biệt là trú trọng BHYT tự nguyện bởi lẽ diện bắt buộc tham gia
BHYT của nước ta chưa nhiều. Hơn 80 triệu dân mới chỉ có trên 30 triệu người có thẻ BHYT bắt
buộc, còn lại đều thuộc diện tự nguyện, trong đó học sinh - sinh viên chiếm hơn 20% dân số khoảng
23 triệu người vẫn chỉ nằm trong diện vận động tham gia.
I. Giới thiệu chung.
1/ Khái niệm bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài lực từ sự đóng
góp của những người tham gia bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm, và sử dụng quỹ để thanh toán
các chi phí khám chữa bệnh cho người được bảo hiểm khi ốm đau.
Theo khoản 1, Điều 2 Luật BHYT: BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh
vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối
tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT.
Như vậy, bảo hiểm y tế tự nguyện là hình thức bảo hiểm do Nhà nước thực hiện không vì
mục đích lợi nhuận. Người dân tự nguyện tham gia để được chăm sóc sức khỏe khi đau ốm, bệnh
tật từ quỹ bảo hiểm y tế.
2/ Đối tượng tham gia:
Bảo hiểm y tế tự nguyện được áp dụng với mọi công dân Việt Nam (trừ những người đã có
thẻ BHYT bắt buộc được quy định tại Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-
CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ và trẻ em dưới 6 tuổi)”.
3/ Vai trò của bảo hiểm y tế tự nguyện:
2008, số thẻ BHYT tự nguyện ở TP.HCM đã lên đến 359.000. Số người tham gia BHYT tự nguyện
tại TP.HCM là 247.400, cao hơn gấp đôi tổng số người tham gia của 4 năm trước.
Đó là chưa kể số thẻ BHYT tự nguyện mà học sinh - sinh viên tham gia, cộng dồn đến nay
là 851.000 thẻ. "Đến nay, tại TP.HCM số người tham gia BHYT tự nguyện và BHYT bắt buộc đã
gần ngang nhau, khoảng hơn 1,2 triệu thẻ BHYT tự nguyện và khoảng 1,5 triệu thẻ BHYT bắt
buộc" (ông Bùi Đức Tráng, Phó giám đốc BHXH TP.HCM).
2. Các tỉnh khác:
Thanh Hóa:
Năm 2009 toàn tỉnh có 2.218.972 người tham gia BHYT, đến nay đã có trên 2,4 triệu người
tham gia BHYT, chiếm 71% dân số toàn tỉnh. Trong đó, BHYT người nghèo trên 1.006.959 người,
tăng 25,2% so với năm 2010; BHYT tự nguyện nhân dân 64.800 người, tăng 15% so với năm 2010
Thừa thiên huế
Tính đến thời điểm 31/12/2008, đã có 2.234 đơn vị tham gia BHXH, BHYT bắt buộc cho
272.960 người với số thu được 314,253 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 104,75% kế hoạch năm. Tham gia BHYT
tự nguyện có 345.783 người với số thu đựợc 58,133 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 114,68% kế hoạch năm. Tổng
thu 2 nguồn được 372,386 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 106, 19% (tăng hơn 1,6% so với cùng kỳ năm trước).
Kontum:
Tính đến cuối ngày 30/6/2011, tổng số thu BHXH, BHYT, BH thất nghiệp là 169,435 tỷ
đồng, đạt 49,7% kế hoạch năm, tăng 39,101 tỷ đồng (vượt 30%) so với cùng kỳ năm ngoái. Trong
đó, thu BHXH, BHYT là: 158,253 tỷ đồng, đạt 48,9% kế hoạch năm (tăng 29%); thu BHXH tự
nguyện là 193,866 triệu đồng, đạt 54,2% kế hoạch năm; thu bảo hiểm thất nghiệp là 10,987 tỷ đồng
(kể cả số ghi thu tại BHXH Việt Nam), đạt 63,7% kế hoạch năm
Thực trạng quỹ BHYTTN:
Năm 2005, Quỹ Bảo hiểm y tế bội chi 138 tỷ đồng; năm 2006 bội chi 1.210 tỷ đồng; năm
2007 bội chi 1.837 tỷ đồng; năm 2008 bội chi 1.476 tỷ đồng. Tức là nguồn thu từ Quỹ Bảo hiểm y
tế những năm gần đây luôn thấp hơn nguồn chi và mỗi năm thâm hụt một gia tăng. Tuy nhiên, sau
nhiều năm liên tục bội chi, năm 2010 quỹ BHYT đã cân đối và có kết dư.
III/Thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện:
1/ Tích cực:
BHYT tự nguyện là loại hình BHYT thứ hai đang được thực hiện ở nước ta. So với BHYT
Theo tâm lý chung, đối với việc tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện, thông thường chỉ những
người có nhu cầu khám chữa bệnh mới có nhu cầu mua bảo hiểm y tế. Điều đó dẫn đến một
kết quả là, những người tham gia bảo hiểm y tế chỉ bao gồm : những người tham gia bảo
hiểm y tế bắt buộc và và những người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện mà chủ yếu là
những người nghèo và cận nghèo có nhu cầu chữa bệnh.
Trên thực tế còn tồn tại sự không cân bằng giữa những người tham gia BHYT bắt buộc và
những người tham gia BHYT tự nguyện
- Những người tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc thì có những người đóng mức phí rất cao.
Tuy nhiên, do họ phải gánh quá nhiều nên đến khi họ rơi vào trường hợp được thụ
hưởng bảo hiểm, chất lượng của dịch vụ trở nên rất kém. Điều này như tạt một gáo nước
lạnh vào họ.
- Ngược lại, đối với những người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện, do đa số những người
tham gia đều là những người có nhu cầu khám chữa bệnh, do đó những người tham gia
bảo hiểm y tế tự nguyện không thể « gánh » cho nhau.
Vì thế, nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa người có thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những
người có nhiều bệnh và những người ít bệnh chỉ hoạt động đối với những đối tượng tham
gia bảo hiểm y tế bắt buộc. Trong khi đó, nguyên tắc này không vận hành được đối với loại
hình bảo hiểm y tế tự nguyện.
Hiện đang có sự mâu thuẫn giữa quy định tại Nghị định 63/2005/NĐ-CP và Thông tư liên
tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 30 tháng 3 năm 2007 khi quy định về đối tượng
tham gia BHYT tự nguyện. Theo quy định tại Điều 25 Nghị định 63/2005/NĐ-CP: những
3
người đã tham gia BHYT bắt buộc nhưng muốn tham gia BHYT tự nguyện để hưởng mức
dịch vụ y tế cao hơn, người tham gia BHYT bắt buộc có thể tham gia BHYT tự nguyện. Tuy
nhiên, Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC , Điểm 2 phần I lại quy định: BHYT
tự nguyện không áp dụng với những người đã có thẻ BHYT bắt buộc. Điều này đã gây khó
khăn cho việc áp dụng pháp luật trên thực tế.
Mức đóng bảo hiểm y tế tự nguyện theo Thông tư mới này thấp hơn nhiều so với chi phí
khám chữa bệnh bình quân của mỗi người tham gia bảo hiểm y tế (trong năm 2006 gần
900.000 đồng/người/năm). Với những sửa đổi kể trên, chắc chắn quỹ bảo hiểm y tế sẽ phải
hưởng chế độ kỹ thuật cao, thai sản thuốc và vật cầu hoặc bị gián đoạn tư y tế đặc biệt…)
lại thuộc về những trường hợp không mua được BHYT tự nguyện theo nhu
Đối với khám chữa bệnh (KCB) ngoại trú, người bệnh sẽ được thanh toán 100% nếu chi phí
đó dưới 100 ngàn đồng cho một đợt KCB ngoại trú. Người bệnh chỉ được thanh toán 80%
nếu đợt KCB ngoại trú từ 100 ngàn đồng trở lên, 20% còn lại người bệnh phải tự trả! Nhiều
người cho rằng, tại sao lại "bóp" ở mức 100 ngàn đồng, vì mỗi đợt KCB, tiền khám, tiền
thuốc, xét nghiệm (nếu cần) ít khi dưới 100 ngàn đồng! Đối với trường hợp KCB nội trú,
người tham gia BHYTTN chỉ được thanh toán 80%, và phải chi trả 20% còn lại.
4
Xét tổng thể, năm 2010, quỹ BHYT đã cân đối và có kết dư nhưng vẫn còn sự mất cân đối
thu chi ở nhóm đối tượng tự nguyện nhân dân. Số chi của đối tượng tham gia BHYT tự
nguyện nhân dân luôn lớn hơn nhiều lần so với số thu, ví dụ như:
- Năm 2009 chi gấp 2,8 lần so với thu, năm 2010 chi gấp hơn 2 lần so với thu.
- Mặt khác, tần suất khám chữa bệnh của nhóm này khoảng từ 3,7 đến 3,9 lần/năm,
gấp gần 2 lần so với tần suất khám chữa bệnh chung.
Một trong số những lý do người dân ít tham gia BHYT tự nguyện và việc triển khai thu bảo
hiểm y tế tự nguyện trong nhân dân còn khó khăn vì nhóm dân cư này gặp khó khăn về kinh
tế, nhận thức về chính sách bảo hiểm y tế chưa thấu đáo; không mang ý thức phòng xa.
Nhiều người dân hiện vẫn mang tâm lý khi đi khám chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế sẽ bị
nhân viên trong ngành y tế có thái độ thờ ơ, khó chịu…nên khám tư nhân cho vừa nhanh,
vừa thoải mái, tốn kém một chút cũng được.
IV. Giải pháp, kiến nghị
Thứ nhất, cần sự phối hợp của nhiều cơ quan, địa phương trong việc thực hiện chính
sách BHYT tự nguyện:
Như chúng ta đã biết, tổ chức, thực hiện BHYT tự nguyện là công việc đòi hỏi có sự phối
hợp của cơ quan BHXH với chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp huyện, xã. Trên
thực tế, BHXH cấp quận không thể đặt bàn lập danh sách thu tiền của người dân tham gia BHYT
như các loại hình bảo hiểm thân thể, bảo hiểm xe máy Để phát hành thẻ BHYT cho người tham
gia sao cho thuận tiện nhất như Thông tư 14/2007/TTLT/BYT-BTC quy định, cơ quan bảo hiểm
phải lập danh sách người tham gia theo địa bàn xã, phường, trên cơ sở có đăng ký hộ khẩu tại đó.
bao nhiêu phần trăm, miễn trừ cho dân là bao nhiêu phần trăm, việc công khai mức thu viện phí hết
sức quan trọng, không nên nói chung chung là “thu một phần viện phí” như hiện nay. Căn cứ vào
mức thu viện phí mà các cơ quan chức năng mới có khung “chuẩn” để xây dựng mức phí đóng
BHYT. Các đối tượng được miễn giảm viện phí khác cũng sẽ được cấp kinh phí để tham gia
BHYT, số lượng người tham gia BHYT tự nguyện nhân dân càng nhiều thì quỹ KCB BHYT sẽ
càng lớn, khả năng cân đối thu chi mới bền vững, không bị thâm hụt như hiện nay.
Thiết nghĩ, giải bài toán về thiếu hụt quỹ KCB BHYT tự nguyện nói riêng và quỹ KCB
BHYT nói chung sẽ rất khả thi, nếu Chính phủ và các bộ, ngành, các địa phương đều thực sự quan
tâm và cùng nhau phối hợp thực hiện.
Để có cơ sở điều chỉnh những mức giá bất hợp lý theo đúng nguyên tắc thu một phần viện
phí, cần phải tiến hành khảo sát chi phí thực tế tại các cơ sở KCB. Đồng thời kiểm tra việc chấp
hành việc định giá các dịch vụ y tế tại tất cả các cơ sở KCB thuộc sở hữu Nhà nước. Xử lý nghiêm
minh các trường hợp tự qui định giá các dịch vụ y tế, gây ảnh hưởng đến quyền lợi người bệnh.
Thứ tư, mở rộng các gói dịch vụ bảo hiểm y tế (BHYT) tự nguyện.
Qua cách làm này, nhiều doanh nhân sẵn sàng bỏ ra hàng triệu đồng mua bảo hiểm để được
hưởng các ưu đãi như vượt tuyến, chọn bác sĩ, chọn bệnh viện (BV) Trong trường hợp nếu họ
đóng BHYT tự nguyện giá cao mà không sử dụng hết, ngành bảo hiểm có thể sử dụng số tiền này
để chi trả cho những bệnh nhân khác. Đó cũng là sự chia sẻ rủi ro giữa người giàu và người nghèo.
Thứ năm, nâng cao chất lượng KCB cho người tham gia BHYT.
Hiện nay, trình độ của cán bộ y tế, cũng như cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện nay chưa
đồng bộ, đặc biệt thiếu hụt ở tuyến xã. Bên cạnh đó, trong những năm vừa qua, tinh thần thái độ
phục vụ của cán bộ y tế đã nhận được sự đánh giá cao do sự cải thiện tích cực các chính sách đãi
ngộ đối với cán bộ y tế và các biện pháp tuyên truyền giáo dục kiểm tra của lãnh đạo các bệnh viện.
Tuy nhiên, tình trạng xuống cấp y đức của một số thầy thuốc vẫn diễn ra do sự quá tải ở các bệnh
viện luôn ở tình trạng đáng báo động, chính sách đãi ngộ của cán bộ y tế vẫn còn rất thấp, trong khi
đó một số bệnh nhân cũng có những yêu cầu quá mức. Trong thời gian tới, cần nghiên cứu để sắp
xếp lại hệ thống bệnh viện theo các địa bàn dân cư, tăng đầu tư cho các bệnh viện tuyến dưới để
tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của nhân dân, hạn chế tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến
trên. Ngành y tế cần tích cực sắp xếp lại tổ chức bộ máy, đề xuất chính sách đãi ngộ, chính sách ưu
đãi đối với cán bộ y tế, cán bộ dược, cán bộ y học cổ truyền.Bên cạnh việc quy định chế độ khám
lý thấp. PTTT này đang được nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Philipin áp dụng và tỏ ra
có hiệu quả cao trong quản lý quỹ và bảo đảm quyền lợi cho người tham gia BHYT. Do đó, nên áp
dụng rộng rãi hơn PTTT này trong thực tế Việt Nam hiện nay.
Thứ bảy, chế tài xử lý vi phạm:
Cần có chế tài xử phạt nghiêm khắc hơn để xử lý các vi phạm về BHYT như: lợi dụng, lừa
đảo tiền bảo hiểm. Bên cạnh đó, nên tăng trách nhiệm và quyền hạn cho cơ quan BHXH. Cần quy
định thêm chức năng giám sát chất lượng KCB của các bệnh viện cho cơ quan BHXH, bên cạnh lực
lượng thanh tra y tế còn rất mỏng hiện nay để tăng hiệu quả của công tác này.
Như vậy Bảo hiểm y tế (BHYT) hay BHYT tự nguyện từ trước đến nay luôn là một lĩnh vực
đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt là đối
với các quốc gia đang phát triển. Và ở Việt Nam, một quốc gia luôn đề cao quyền con người thì vấn
đề trên luôn dành được sự quan tâm không chỉ của riêng các cơ quan lập pháp và hành pháp mà còn
là sự quan tâm chung của toàn xã hội.
Qua bài viết này chúng tôi đã đi tìm hiểu chi tiết về tình hình quản lý và sử dụng quỹ bảo
hiểm y tế ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt tập trung vào các kiến nghị lập pháp trong lĩnh vực này
nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế Việt Nam tiến tới mục tiêu bảo hiểm y tế toàn
dân trong giai đoạn hiện nay. Hy vọng rằng hệ thống Pháp luật về bảo hiểm sẽ ngày một hoàn thiện
hơn, tiến bộ hơn vì mục đích cộng đồng, vì sức khỏe con người, vì tương lai đất nước
7