Câu hỏi: Những bất cập trong việc thực thi chế độ ưu đãi xã hội tại việt nam hiện nay?
Bài làm:
Trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước bên cạnh việc chú trọng đẩy mạnh về kinh
tế thì Việt Nam cũng đã, đang và sẽ quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo bình
ổn xã hội trong đó chú trọng chăm lo đến lực lượng lớn những người đã cống hiến cả cuộc
đời cho sự nghiệp cách mạng, bảo vệ tổ quốc .Có thể nói, đây là một vấn đề quan trọng thu
hút sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nó không những đã thể hiện trách nhiệm của các
cấp các ngành mà còn phản ánh truyền thống đạo lý cao đẹp “uống nước nhớ nguồn”, “ăn
quả nhớ kẻ trồng cây” của nhân dân ta đối với những người có công đóng góp cho sự nghiệp
đấu tranh giải phóng và xây dựng đất nước.
1. Một số vấn đề về chế độ ưu đãi xã hội
1.1. Văn bản:
Hiện nay, chế độ ưu đãi xã hội được quy định trong khoảng 150 văn bản của Nhà nuớc, dưới
dạng các pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư… Nội dung chủ yếu thể hiện trong các
văn bản:
-Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” ngày
29/8/1994 của Uỷ ban thuờng vụ Quốc hội;
-Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng ngày 29 tháng 6 năm 2005 có hiệu lực vào
ngày 1.10.2005;
-Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng
ngày 21 tháng 6 năm 2007;
-Nghị định huớng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách
mạng;
-Các thông tư hướng dẫn của Bộ Lao Động – Thuơng binh và Xã hội và các bộ, liên bộ, liên
bộ hữu quan như Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục – đào tạo…
-Một số văn bản liên quan khác như hệ thống pháp luật về đất đai, nhà ở, giáo dục, các luật
thuế…
1.2. Khái niệm:
a. Ưu đãi xã hội:
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ của Nhà nuớc, của cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật
chất cũng như tinh thần đối với người có công và gia đình họ.
Với tư cách là chủ thể quản lí, chủ thể đại diện cho cộng đồng, Nhà nước phải có trách
nhiệm trong việc thực hiện chế độ ưu đãi xã hội đối với người có công.
b. Thực hiện công bằng và công khai trong ưu đãi xã hội.
Yếu tố công bằng được thể hiện trước hết là sự bình đẳng giữa những người có công, không
phân biệt dân tộc, giới tính, vùng miền… Mọi người có công đều đuợc hưởng chế độ ưu đãi,
những người có mức đóng góp như nhau thì được huởng ưu đãi và tạo điều kiện như nhau
trong cuộc sống. Những người bị tổn thất, mất mát nhiều hơn phải được ưu đãi nhiều hơn.
Sự bình đẳng còn được hiểu ở nghĩa rộng hơn, đó còn là sự bình đẳng giữa những người có
công và các thành viên khác trong cộng đồng, tránh tình trạng ưu đãi lại trở thành sự phân
biệt đối xử giữa những người có công với các thành viên khác trong xã hội.
Sự công khai thể hiện trong từng địa phuơng, trong toàn xã hội và trong cả cộng đồng. Về
nội dung phải công khai điều kiện, loại chế độ ưu đãi, mức hưởng…
c. Xác định các chế độ ưu đãi hợp lí
Ưu đãi xã hội phải vừa đảm bảo cuộc sống vật chất vừa phải đảm bảo cuộc sống tinh thần
cho người có công do đó không chỉ dừng lại ở việc trợ cấp mà còn phải có các chế độ ưu đãi
khác như việc làm, nhà ở, chăm sóc sức khoẻ…
d. Mức ưu đãi phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước.
Ưu đãi đối với những ngưòi có công là nhằm đảm bảo và hỗ trợ cuộc sống vật chất và tinh
thần cho họ song mức ưu đãi phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước. Sự
phát triển của kinh tế xã hội là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách đối với người có
công, thực hiện công bằng xã hội.
e. Xã hội hoá công tác ưu đãi xã hội
Ưu đãi đối với người có công không chỉ là trách nhiệm của Nhà nuớc mà còn là của toàn xã
hội, của cộng đồng. Việc xã hội hoá các hoạt động ưu đãi đối với người có công là vấn đề tất
yếu và hàon toàn phù hợp với hoàn cảnh của nuớc ta trong giai đoạn hiện nay và phù hợp
với nguyên tắc đa dạng hoá , xã hội hoá các hoạt động an sinh xã hội.
2. Những bất cập trong việc thực thi chế độ ưu đãi xã hội ở nước ta hiện nay:
Ưu đãi xã hội đối với người có công bước đầu đã bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công khai,
công bằng xã hội. Người có công được chăm lo, đền đáp, đền ơn trả nghĩa, người cống hiến
hy sinh nhiều được chăm lo ưu đãi nhiều hơn. Họ được ưu tiên, ưu đãi trong giáo dục, đào
440.000 đồng/tháng.
-Thương binh, thương binh loại B suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên có vết thương
đặc biệt nặng, mức trợ cấp 901.000 đồng/tháng.
Mức trợ cấp kể trên rõ ràng chưa thể coi đã là ưu đãi bởi chưa đảm bảo nhu cầu tối thiểu
nhất cho bản thân, thực tế họ còn phải gánh vác việc nuôi con, phụ giúp gia đình.
Thêm một minh chứng nữa là, đối với đối tượng người cao tuổi bị địch bắt tù đày, hưởng chế
độ một lần theo quy định hiện hành tối đa là 2,5 triệu đồng/người có thời gian bị tù đày từ
10 năm trở lên theo quy định tại Nghị định Số 52/2011/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ
cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Số tiền trợ cấp này giảm theo hệ số năm bị
bắt tù đày, mức thấp nhất là 500.000 đồng. Ngoài ra, người bị bắt tù đày không được hưởng
các chế độ khác như hưu trí, thương binh, bệnh binh, mất sức Điều này dẫn đến khó khăn
cho đối tượng này, nhất là trong trường hợp không có thu nhập nào khác lại ốm đau, bệnh
tật đặc biệt là trong tình hình giá cả leo thang và biến động như hiện nay.
c. Tình trạng thực hiện sai sót đối tượng trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ đặc biệt vẫn
còn ở nhiều địa phương như một số đối tượng không thuộc diện chính sách ưu đãi, nhưng do
quá trình thực hiện chưa được giám sát chặt chẽ nên được xét hưởng chính sách hỗ trợ đặc
biệt; một bộ phận người có công thật sự nhưng lại chưa được hưởng chính sách hỗ trợ.
d. Ưu đãi trợ cấp thường xuyên được chú trọng, song những ưu đãi ngoài trợ cấp còn bị xem
nhẹ. Những việc làm tình nghĩa và phong trào chăm sóc người có công chưa được thực hiện
thường xuyên, chưa phát triển đồng đều ở các địa phương, nhất là những nơi kinh tế chậm
phát triển. Còn nhiều nơi phong trào mới chỉ tập trung trong dịp 27 tháng 7 hàng năm. Việc
thực hiện chính sách đối với một số đối tượng còn chậm (cựu thanh niên xung phong, các
chiến sỹ, du kích tham gia kháng chiến bị hy sinh…). Vấn đề xã hội hóa công tác chăm sóc
người có công (tăng cường nguồn lực đầu tư, đổi mới cơ chế chính sách, huy động nguồn lực
xã hội) và phong trào đền ơn đáp nghĩa 3 năm qua có xu hướng giảm.
Ngoài những chế độ trợ cấp thường xuyên, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng
còn quy định thêm các chính sách ưu đãi ngoài trợ cấp. Tuy nhiên chỉ có một số chế độ ưu
đãi được hướng dẫn và thực hiện như BHYT, giáo dục đào tạo và một phần của chế độ ưu
đãi nhà, đất. Còn khá nhiều chế độ ưu đãi khác qui định ở Pháp lệnh không đi vào đời sống.
Chính vì thế, ý nghĩa, hiệu quả của ưu đãi xã hội bị giảm bớt, mục tiêu nâng cao mức sống
Bên cạnh đó, Thông tư Số: 08/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn về hồ sơ, lập hồ sơ thực hiện
chế độ ưu đãi người có công với cách mạng quy định về thủ tục giám định trong một số
trường hợp bị mắc bệnh do nhiễm chất độc hoá học nhưng lại không quy định việc xác định
tỷ lệ suy giảm khả năng lao động, do đó không có căn cứ để xác định mức trợ cấp.
Thêm nữa, hiện nay, hội đồng chưa được trang bị một số máy móc như máy xét nghiệm,
máy Xquang…cơ sở vật chất lẫn nhân lực của Hội đồng GĐYK còn hạn chế, cộng với thực tế
diện lập hồ sơ hưởng chế độ chính sách này ngày càng tăng nên việc mất thời gian chờ đợi
khám giám định là khó tránh khỏi.
g. Mức và nội dung được hưởng chính sách ưu đãi: Điều này được thể hiện rất rõ khi so sánh
các mức ưu đãi trong nội bộ những người được thụ hưởng chính sách. Thực tế đã có sự
chênh lệch giữa chính những đối tượng nhận chính sách. Có những đối tượng cùng một lúc
hưởng rất nhiều chính sách ưu đãi, trong khi những đối tượng khác lại chỉ nhận được một
chính sách hoặc chưa được hưởng chính sách… Tại điểm d khoản 8.2 Điều 8 Thông tư
25/2007/TT-BLĐTB và XH ngày 15.11.2007, “nếu sau khi trừ tỉ lệ suy giảm khả năng lao
động do thương tật mà tỉ lệ suy giảm khả năng lao động do bệnh tật còn dưới 41% thì được
chọn hưởng một trong hai chế độ: bệnh binh hoặc thương binh”. Quy định chế độ ưu đãi với
người vừa là thương binh, bệnh binh vừa mất sức lao động nhưng lại chỉ được hưởng một
chế độ khiến cử tri ở một số địa phương phản ứng gay gắt, nhưng đến nay vẫn chưa được
điều chỉnh.
Hiện nay, thanh niên xung phong không thuộc đối tượng điều chỉnh của Pháp lệnh Người có
công, ngoài chế độ trợ cấp một lần là 1,5 triệu đồng, họ không được hưởng chế độ nào
khác. Trên thực tế, đa số các đối tượng TNXP có hoàn cảnh rất khó khăn. Đây cũng là điều
bất hợp lý, cần được nghiên cứu, sửa đổi quy định cho phù hợp.
h. Quy định trách nhiệm của các cơ quan chức năng thực hiện chính sách ưu đãi xã hội chưa
kịp thời, đầy đủ và rõ ràng. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực xã hội còn chưa cụ thể, có nội dung
mâu thuẫn với qui định pháp luật khác.
- Hàng loạt chính sách, chế độ ưu đãi xã hội với người có công đã được ban hành với số tiền
không nhỏ được ngân sách nhà nước chi trả hằng năm. Nhưng thực tế cho thấy điều quan
trọng nhất đối với gia đình người có công không chỉ ở những khoản trợ cấp mà là các chính
sách trợ giúp để họ thoát nghèo bền vững.
các quy định liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về ưu đãi xã hội.
i. Cùng đó, dự thảo cũng sẽ quy định chế độ ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng, theo
hướng Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình thì có người phục vụ. Theo đó, người phục
vụ được hưởng trợ cấp hàng tháng và cấp thẻ bảo hiểm y tế.
j. Bộ LĐ-TB và XH tiếp tục phối hợp các ngành, địa phương có biện pháp cụ thể và khả thi
để hỗ trợ các gia đình chính sách còn khó khăn từng bước vượt qua nghèo khó, đạt tới mức
sống trung bình trong xã hội. Trước hết là ưu tiên giải quyết chỗ ở, hỗ trợ vốn phát triển sản
xuất thông qua việc “điều tiết” nguồn vốn từ Quỹ đền ơn đáp nghĩa. Chính phủ cũng đang
tìm giải pháp để hoàn thiện, nâng cấp, tu bổ các nghĩa trang liệt sĩ, phần mộ liệt sĩ, đài, bia
tưởng niệm liệt sĩ thật khang trang, đồng thời đáp ứng nguyện vọng thiêng liêng của các
thân nhân liệt sĩ muốn chăm sóc phần mộ liệt sĩ tại quê nhà.
k. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân nội dung của Pháp lệnh ưu đãi
người có công với cách mạng, các hoạt động phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, về những tấm
gương thương binh, thân nhân liệt sỹ, người có công vượt khó, làm giàu, tiêu biểu trong lao
động, sản xuất, hoạt động văn hóa - xã hội
l. Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách ưu đãi, kiên quyết xử lý những
trường hợp vi phạm. Quy định rõ hành vi vi phạm pháp luật ưu đãi xã hội và thẩm quyền xử
lý vi phạm.
m. Kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác chính sách bảo đảm đủ phẩm chất, năng lực công
tác, chuyên môn, đủ khả năng tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện có hiệu
quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
n. Khuyến khích, động viên, tạo điều kiện để người có công tích cực tham gia các hoạt động
xã hội, phát triển kinh tế sản xuất, kinh doanh góp phần ổn định và nâng cao đời sống gia
đình, xứng đáng người công dân kiểu mẫu.
o. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ,
người có công với cách mạng luôn luôn gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công
bằng xã hội. Đảng, Nhà nước ta luôn coi ưu đãi xã hội, bảo đảm cho gia đình chính sách có
cuộc sống “ổn định về vật chất, vui vẻ về tinh thần” là trách nhiệm đối với lịch sử, phát huy
đạo lý, truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam, là động lực phát triển xã hội.