LUẬN VĂN:
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng
tại
Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam
Định
Lời mở đầu
Quá khứ hiện tại và tương lai là chuỗi nối tiếp thời gian, có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Nền kinh tế Việt Nam đã hoà cùng dòng chảy, xu hướng phát triển kinh tế của thế
giới. Với những kinh nghiệm đúc kết từ ngày hôm qua để khắc phục những sai lầm,
phát huy những thuận lợi nhằm bổ trợ cho hôm nay đồng thời phải luôn nhạy bén, dự
báo những biến động trong tương lai để phòng ngừa hạn chế bất lợi, biết được tiềm
năng để sâu lại thành nhiệm vụ hoạt động cho ngày hôm nay. Kinh tế Việt Nam chuyển
từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, kinh tế
nước ta đã đạt được nhiều bước chuyển biến đáng kể. Nền kinh tế thị trường đã tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát huy thế mạnh
của mình vì mục tiêu phát triển và tích cực vào sự tăng trưởng của đất nước. Cùng với
các hoạt động kinh tế của cả nước, hoạt động của nghành Ngân hàng là hoạt động mang
tính chất chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn
trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện
thanh toán, đã xứng đáng chiếm vị trí quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp, điều tiết nguồn lực cho sự phát triển kinh tế đất nước.
Trong hoạt động Ngân hàng nghiệp vụ tín dụng thường đem lại nguồn thu nhập chính (
chiếm khoảng 70% ). Song nghiệp vụ này lại chứa đựng nhiều rủi ro bởi quy luật lợi
nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, đồng thời thực tế đã cho thấy khi hiệp định thương
mại Việt Mỹ được thực thi thì xu hướng cạnh tranh giữa các Ngân hàng trong nước và
Ngân hàng nước ngoài ngày càng trở nên khốc liệt. Vì vậy các NHTM luôn quan tâm
chú trọng tới việc nâng cao chất lượng tín dụng nhằm tăng khả năng cạnh tranh với các
tổ chức khác.
Do thực tế trên, cùng với quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Kinh tế Quốc
dân và thời gian thực tập tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định, em đã chọn
dân, thúc đẩy quá trình xã hội hoá một cách nhanh hơn. Đóng góp vào những thành tựu
to lớn đó, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam với truyền thống 47 năm xây dựng
và trưởng thành trải qua những thập niên đầy biến động của lịch sử nhất là từ năm 1990
đến nay, bằng những bước tiến mới trong việc thực hiện phục vụ sự nghiệp đầu tư phát
triển, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ nền kinh tế tăng trưởng một cách ổn
định vững chắc là một thành tựu to lớn, góp phần xây dựng nền móng cho sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Những năm qua trong điều kiện thị trường tiền tệ của Việt Nam chưa phát triển,
chúng ta còn thiếu những công cụ gián tiếp để điều hành chính sách tiền tệ, chưa chủ
động được việc kiểm soát khả năng thanh toán trong toàn hệ thống ngân hàng. Nhưng
với những chủ trương và quyết sách lớn của thống đốc ngân hàng Việt Nam thông qua
hai quyết định:
• Quyết định 293/QĐ-NH9 ngày 18/11/1994
• Quyết định 79/QĐ-NH5 ngày 2/3/1995
Là sự biến đổi sâu sắc, mang tính khai phá, mở đường đưa hệ thống Ngân hàng
đầu tư và phát triển Việt Nam vào cơ chế thị trường theo mô hình một Ngân hàng
thương mại quốc doanh mà trước đó một thập niên Ngân hàng đầu tư và phát triển là
một đại diện không thể thiếu được trong thời kì bao cấp với chức danh truyền thống là
vừa cấp phát vừa cho vay kéo dài hàng mấy thập kỉ. Ngày nay Ngân hàng đầu tư và
phát triển đã hội tụ đầy đủ bản chất và chức năng nhiệm vụ của một ngân hàng thương
mại quốc doanh mang bản chất XHCN để phục vụ và phát triển môi trường của một nền
kinh tế mở đang tiến tới xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, bằng trí thông minh và lòng
sáng tạo với nền kinh tế tri thức đã vuợt qua các nhân tố quản lí và kinh doanh truyền
thống để trở thành nhân tố phát triển rực rỡ nhất vào đầu thế kỉ tới.
Đối với Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Nam Định, trong hoạch định chiến
lược kinh doanh của toàn hệ thống, ngay từ những năm đầu của thập kỉ 90 khi còn là
Ngân hàng kiến thiết tỉnh Hà Nam Ninh (từ 26/4/1957) và đổi tên là Ngân hàng đầu tư
và xây dựng Hà Nam Ninh (từ 26/4/1981) năm 1992 chia tách Hà Nam Ninh thành chi
nhánh Nam Hà và Ninh Bình và năm 1997 chia tách Nam Hà thành chi nhánh ngân
hàng đầu tư và phát triển tỉnh Nam Định và Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Hà
hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán, đã xứng đáng chiếm vị trí
quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, điều tiết
nguồn lực cho sự phát triển kinh tế đất nước. Hay nói cách khác Ngân hàng là một tổ
chức chuyên sản xuất kinh doanh tiền tệ với các sản phẩm như tín dụng ngắn hạn, trung
hạn và dài hạn…
1.2.2. Hình thức pháp lí:
Hệ thống Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam vào cơ chế thị trường theo
mô hình một Ngân hàng thương mại quốc doanh mà trước đó một thập niên Ngân hàng
đầu tư và phát triển là một đại diện không thể thiếu được trong thời kì bao cấp với chức
danh truyền thống là vừa cấp phát vừa cho vay kéo dài hàng mấy thập kỉ. Ngày nay
Ngân hàng đầu tư và phát triển đã hội tụ đầy đủ bản chất và chức năng nhiệm vụ của
một Ngân hàng thương mại quốc doanh mang bản chất XHCN để phục vụ và phát triển
môi trường của một nền kinh tế mở đang tiến tới xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, bằng
trí thông minh và lòng sáng tạo với nền kinh tế tri thức đã vuợt qua các nhân tố quản lí
và kinh doanh truyền thống để trở thành nhân tố phát triển rực rỡ nhất vào đầu thế kỉ
tới.
1.2.3. Những đặc điểm về sản phẩm và thị trường.
1.2.3.1. Những đặc điểm về sản phẩm:
Là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng luôn cung cấp những sản phẩm,
dịch vụ Ngân hàng có chất lượng cao, tiện ích tốt nhất cho khách hàng. Không ngừng
nghiên cứu và phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng mỗi ngày một tốt
hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng. Luôn lắng nghe, tìm hiểu nhu cầu, tiếp thu ý kiến
khách hàng để không ngừng cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lí chất lượng, nâng cao
sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng nhằm cung ứng cho thị trường những
sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Sự đa dạng về sản phẩm
phong phú về dịch vụ của đơn vị kinh doanh đặc biệt này ta có thể khái quát như sau:
*Dịch vụ tiền gửi: bao gồm
- Dịch vụ mở tài khoản:
+ Khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp đều được mở các tài khoản bằng (VND và
ngoại tệ).
- Nghiệp vụ thanh toán trong nước:
+ Thanh toán bằng tiền mặt:
• Rút tiền mặt kể cả nhận tiền chuyển từ nơi khác đến
• Nộp tiền mặt để chuyển tiền đi nơi khác
+ Thanh toán không dùng tiền mặt:
• Séc: chuyển khoản, bảo chi, chuyển tiền
• Uỷ nhiệm chi
• Uỷ nhiệm thu
• Ngân phiếu thanh toán
• Thẻ thanh toán
+ Dịch vụ hỗ trợ thanh toán:
• Dịch vụ rút tiền tự động (ATM)
• Ngân hàng tại nhà (Home banking)
- Nghiệp vụ thanh toán quốc tế:
+ Thanh toán hàng xuất khẩu
+ Thanh toán hàng nhập khẩu
+ Nghiệp vụ bảo lãnh
+ Các dịch vụ thanh toán quốc tế khác:
• Thanh toán thẻ tín dụng
• Dịch vụ thanh toán séc du lịch, thanh toán nhờ thu séc
• Dịch vụ chuyển tiền kiều hối
* Các dich vụ khác
- Bảo hiểm
- Hỗ trợ các doanh nghiệp có hợp tác với Lào
- Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán
- Tư vấn đầu tư
- Mua bán ngoại tệ
- Dịch vụ ngân quỹ, tiền mặt
- Dịch vụ chi trả hộ lương cho CBCNV
- Đại lý bán séc du lịch
+ Phòng tín dụng 2
+ Phòng dịch vụ khách hàng
+ Phòng kế toán tài vụ
+ Phòng giao dịch số 1
+ Phòng tổ chức hành chính
- Các tổ gồm năm tổ:
+ Tổ kho quỹ
+ Bàn tiết kịêm trung tâm
+ Bàn tiết kiệm khu vực Chợ Rồng
+ Tổ thanh toán quốc tế
+ Tổ thẩm định
Sơ đồ bộ máy tổ chức của Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định
Giám Đốc
Phó Giám
đốc
Phó Giám
đốc
Phó Giám
đốc
P.tc - hc
P.Nguồn
vốn
&
p. DV-KH
P.Kiểm toán
Kế toán tàI
vụ
p.Tín dụng
1
P.giao dịch
không sử dụng tối ưu nguồn vốn.
Tình hình huy động vốn
Đơn vị: Triệu đồng
Với mục tiêu tạo nền vốn ổn định vững chắc cho kinh doanh, coi nguồn vốn nội
tệ ( VND ) là quyết định; chú trọng tăng trưởng nguồn vốn TG có kỳ hạn, tăng tỷ trọng
vốn trung dài hạn đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển và SXKD của khách hàng. Trong 5
năm trở lại đây Ngân hàng đầu tư và phát triển luôn cố gắng hết mình trong công tác
huy động vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, để đáp ứng nhu cầu về thị trường
vốn trên địa bàn mà nổi bật là năm 2003:
- Tổng nguồn vốn tự huy động năm 2003 là 689 ngàn triệu đồng, tăng trưởng so với
năm 2002 là 3,69%, chiếm tỷ trọng 85% tổng nguồn vốn. Trong đó:
+ Tiền gửi các tổ chức kinh tế: 79 ngàn triệu đồng, tăng so năm 2002 là 31,67%, tỷ
trọng huy động vốn các TCKT chiếm 11,5% tổng nguồn vốn tự huy động.
Chỉ tiêu
2000
2001
2002
2003
2004
Chỉ tiêu
Tổng
số
Tỷ
trọng
%
Tổng
số
Tỷ
trọng
%
T.T thị
Tổng so sánh
100% 100%
Trong năm 2003 các Ngân hàng
thương mại trên địa bàn huy động
vốn với tỷ lệ
lãi suất cao hơn hệ thống Ngân hàng đầu
tư và phát triển; hình thức phong phú hơn
kết
hợp quay số dự thưởng, quà tặng kèm
theo và với lợi thế về mạng lưới hoạt
động rộng,
cán bộ gấp nhiều lần Ngân hàng đầu tư
và phát triển do đó thị phần huy động vốn
của
họ tăng. Hệ thống Ngân hàng đầu tư và
phát triển trong năm 2003 và chi nhánh
Nam
Định do điều chỉnh hạ lãi suất huy động 4
lần trong năm, nhu cầu vốn vay bằng
ngoại tệ
(USD) năm 2003 chỉ bằng 50% so với
năm 2002 do vậy Chi nhánh không có
nhu cầu
huy động vốn nhiều USD để tránh rủi ro
về lãi suất, thừa nguồn vốn trong kinh
doanh.
+ Về cơ cấu huy động: Vốn nội tệ (VND)
chiếm 68,8% tổng nguồn vốn tự huy
động
1,5% ( Năm 2002 so với năm 2001 là
18,7% ) nguồn thuê tài chính là 744 triệu
đồng
giảm so với năm 2002: 36,4% do trả nợ
theo hợp đồng.
1.3.2. Công tác tín dụng:
Cơ chế cho vay của Ngân hàng
đầu tư và phát triển đối với khách
hàng theo
quyết định 1627 của thống đốc Ngân hàng
Việt Nam có hiệu lực thi hành từ đầu năm
2002 đã cơ bản tháo gỡ tất cả các vướng
mắc về cơ chế cho vay trước đây. Cuối
tháng
10/2002 chính phủ ban hành nghị định
85/NH/CP về: sửa đổi bổ sung cơ chế bảo
đảm
tiền vay, giao quyền tự chủ cho các tổ
chức tín dụng. Tất cả các quyết định đó
cho thấy
Chính phủ và Ngân hàng nhà nước đã cơ bản tháo gỡ những khó khăn về hoạt động tín
dụng, tạo điều kiện cung ứng vốn tối đa cho nền kinh tế là kết quả của công việc cơ cấu
lại của toàn nghành đã có tác động tốt đến sức mạnh tài chình và nguồn vốn của Ngân
hàng. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định đã bám sát
đường lối phát triển kinh tế xã hội của tỉnh để phục vụ tập trung vốn vào các nghành có
thế mạnh của địa phương như: Dệt may, xuất nhập khẩu hàng nông sản, tiểu thủ công
mỹ nghệ, sản suất hàng tiêu dùng phục vụ nhân dân tăng dịch vụ xã hội.
Tốc độ tăng trưởng nợ tín dụng trong những năm qua ngày một cao:
- Tổng dư nợ năm 2003: 486 tỷ đồng tăng trưởng 5,4 % so với năm 2002, tăng so
với năm 2001 là 17,67%.
năm 2002 ( không kể nợ được khoanh ) nhưng vẫn thấp hơn mức tăng trưởng bình quân
của các Ngân hàng thương mại khác trên địa bàn như Ngân hàng nông nghiệp tăng
trưởng 47,7%; Ngân hàng công thương tăng 16,6% so với năm 2002. Dẫn đến thị phần
tín dụng của Ngân hàng đầu tư và phát triển trên địa bàn bị thu hẹp:
Năm
Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn(%)
Tỷ trọng tín dụng trung, dài hạn(%)
1998
38,10
61,9
1999
41,40
58,60
2000
63,52
36,48
2001
TT
Tên Ngân hàng
Thị phần
2002(%)
Thị phần
2003(%)
Tổng so sánh
100 100
Dư nợ cho vay bình quân đầu người
như sau:
+ Ngân hàng đầu tư và phát triển
5,72triệu/ người giảm so với năm
2002 là 6,99%
ngàn đồng
Tổng số nợ lãi 19.350.891.254 đồng
ngoài ra còn xử lý nợ tồn đọng của
một số đơn vị
khác – Tinh hình tài chính, bảng
tổng kết tài sản của Ngân hàng đã
được cải thiện
Hinh thành quỹ DPRR tín dụng trên
cơ sở kết quả và khả năng tài chính
của Chi nhánh.
Luỹ kế quỹ DPRR tín dụng 8839
triệu; số thực trích DPRR tín dụng 3700
triệu đồng đạt
100% kế hoạnh do TW giao.
Đi đôi với tăng trưởng tín dụng,
Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh
Nam Định
cũng rất chú trọng nâng cao chất lượng tín
dụng. Ngân hàng thường xuyên rà soát
sàng
lọc, phân tích chất lượng tín dụng theo dõi
chặt chẽ quá trình sử dụng vốn vay của
khách hàng, áp dụng các chế tài tín dụng
để tận thu các khoản nợ khó đòi. Do đó
trong
những năm qua nợ quá hạn giảm mạnh
( Nợ tồn đọng giảm 100% so với năm 2002
)
Thông qua hoạt động tín dụng của Ngân
hàng đã góp phần rất lớn trong việc tháo
1.3.5. Hiệu quả kinh doanh
Trong chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, Chi nhánh chấp hành
tuân thủ pháp lệnh kế toán thống kê, chế độ hạch toán của nghành các quy định của nhà
nước. Đảm bảo các tỷ lệ về dự trữ, trạng thái ngoại tệ, đảm bảo các khả năng thanh toán
đáp ứng cho khách hàng nhanh chóng chính xác an toàn
Hoạt động kinh doanh có lợi nhuận: Lợi nhuận trước thuế đạt 4639,8 triệu động
tăng trưởng 15,2% so với năm 2002, đạt 103,1% kế hoạch lợi nhuận TW giao
Trích dự phong rủi ro tín dụng 3700 triệu đồng tăng trưởng 23,33% so với năm
2002 và đạt 100% kế hoạch trích dự phòng rủi ro TW giao
1.3.6. Công tác quản trị điều hành
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của ban giám đốc là yếu tố quan trọng, là nhân tố
quyết định đến kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh
Quản trị diều hành bám sát định hướng phát triển tăng trưởng mục tiêu của kinh
tế địa phương, các chỉ tiêu, kế hoạch Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam giao cho
Chi nhánh .Từ đó Chi nhánh xây dựng các giải pháp giao kết quả cụ thể đến từng người
lao động về các chỉ tiêu về tăng trưởng nguồn vốn tăng trưởng tín dụng chất lượng tín
dụng, tăng trưởng doanh thu dịch vụ Ngân hàng
Kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ chủ chốt
từ trưởng phó phòng ban, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn đội ngũ cán bộ, đào
tạo và đào tạo lại, tập trung và bổ sung các lĩnh vực còn thiếu, yếu: Thẩm định, tin học,
thanh toán quốc tế, tín dụng thương mại.
Tóm lại: Thông qua những kết quả đạt được trong những năm gần đây ta có thể nhận
thấy tiềm năng mở rộng và phát triển các mặt hoạt động kinh doanh. Song bên cạnh đó
quy mô và tốc độ phát triển kinh tế chung trên cả nước là còn chậm
CHƯƠNG II: Thực trạng chất lượng tín dụng
tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Nam Định
2.1. Chất lượng tín dụng Ngân hàng
2.1.1. Khái niệm chất lượng tín dụng Ngân hàng
Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng yêu cầu khách hàng phù hợp
với sự phát triển KTXH, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
NQH/ Tổng tài sản
Tuy nhiên hiện nay tỷ lệ NQH/ Tổng dư nợ được sử dụng nhiều hơn.
Tỷ lệ NQH/ Tổng dư nợ càng thấp thì chất lượng càng cao và ngược lại.
2.1.2.2.2. Hiệu quả tín dụng
Hiệu quả tín dụng cũng là một chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá chất
lượng tín dụng của Ngân hàng. Chỉ tiêu hiệu quả tín dụng càng cao thì phản ánh chất
lượng tín dụng của Ngân hàng đó càng tốt.
Các tỷ lệ: Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng/ Tổng dư nợ.
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng/ DS cho vay trong kỳ.
2.1.2.2.3. Đảm bảo tiền vay
Đảm bảo tiền vay thường được Ngân hàng ứng dụng trong các hợp đồng tín
dụng. Trong nhiều trường hợp có thể xảy ra rủi ro khi khách hàng sử dụng vốn kém
hiệu quả, sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản… nên Ngân hàng phải bán tài sản đảm
bảo. Số tiền do bán tài sản có thể đủ để trả hết món nợ vay, nhưng cũng có thể chỉ trả
được một phần món vay, điều đó ảnh hưởng đến thu nhập của Ngân hàng và làm suy
giảm chất lượng tín dụng. Để đánh giá chất lượng tín dụng người ta xác định bằng công
thức:
Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản đảm bảo = Số tiền thu nợ do khách hàng bán tài sản /
Tổng DS thu nợ.
Tỷ lệ này được tính theo định kỳ ( tháng, quý, năm )
2.1.2.2.4. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Chỉ tiêu này được tính toán để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và
chất lượng tín dụng trong việc thoả mãn nhu cầu khách hàng, giải quyết hợp lý giữa ba
lợi ích: Nhà nước, Khách hàng, Ngân hàng.
Vòng quay vốn tín dụng = DS thu nợ/ Dư nợ bình quân.
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển vốn tín dụng ( thường là một năm). Hệ số này
càng cao thể hiện tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng
càng cao.
Ngoài ra còn một số chỉ tiêu và phương pháp đánh giá khác như:
-
dụng, các phòng, ban có liên quan trong Ngân hàng phải thực hiện khi tài trợ cho khách