Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM - Pdf 22

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hội nhập kinh tế, để đứng vững trên thị trường các doanh
nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh. Một tất yếu họ cần phải có uy tín với nhà
đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng…Đó sẽ là những người quan tâm tới tình hình tài
chính của doanh nghiệp, tuy nhiên mục đích quan tâm khác nhau với từng đối tượng:
đối với chủ doanh nghiệp thì mục đích quan tâm tới tình hình tài chính, để biết chính
xác thực trạng tài chính của doanh nghiệp mình, từ đó đưa ra các quyết định kinh
doanh, đối với các chủ đầu tư là để có thể đưa ra các quyết định để đầu tư, đối với
đối tác là để hợp tác hay không hợp tác…
Báo cáo tài chính cung cấp thông tin đầy đủ nhất cho mọi người quan tâm tới
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên để có thể hiểu được tình hình cụ thể
về tài chính thông qua báo cáo tài chính của doanh nghiệp điều đó không đơn giản.
Vì vậy công tác phân tích và quản lý tình hình tài chính thông qua hệ thống báo cáo
tài chính có ý nghĩa quan trọng, giúp cho những người quan tâm biết được cụ thể về
tình hình tài chính và những lĩnh vực mà mình quan tâm.
Trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư
VILEXIM em đã chọn để tài “ Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty cổ
phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM” là nội dung cho chuyên đề với
mong muốn học hỏi được phần nào thực tế công tác quản lý tài chính tại công ty.
Được sự chỉ bảo nhiệt tình của Cô giáo hướng dẫn là Th.S Bùi Thị Hồng
Việt và các anh chị trong phòng xuất nhập khẩu 4 đã giúp em hoàn thành chuyên đề
của mình. Tuy nhiên, do thời gian và kiến thức có hạn nên bài viết của em còn nhiều
thiếu sót em mong được sự góp ý của thầy cô để bài viết của mình hoàn thiện hơn.
Nội dung của chuyên đề được chia thành các phần sau:
Chương1: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính doanh nghiệp
Chương2: Thực trạng công tác quản lý tài chính của Công ty VILEXIM
Chương3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

1

SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

2
Chuyên đề tốt nghiệp
Hệ thống quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị thuộc phạm trù bản chất tài
chính doanh nghiệp gồm:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế với
Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính.
Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn
tài trợ. Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu
cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài
hạn. Ngược lại doanh nghiệp phải trả lãi vốn vay, trả cổ phần cho những nhà tài trợ.
Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền
chưa sử dụng.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác.
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp
khác trên thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động. Đây là thị trường mà
tại đó doanh nghiệp có thể tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm
lao động... Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định
được nhu cầu hàng hoá, dịch vụ cần thiết cung ứng.
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa cổ đông và người
quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các
mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như:
chính sách cổ tức. chính sách đầu tư, chính sách cơ cấu vốn, chi phí...
1.1.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
- Giao dịch và ghi nhận các hoạt động tài chính, đặc biệt là trong quản lý
ngân quỹ (Chức năng vận hành).

động của tổ chức.
- Giảm thiểu các lỗi, gian lận trong hoạt động của tổ chức.
1.2.3 Nguyên tắc của quản lý tài chính doanh nghiệp
Hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp dù nhỏ hay lớn căn bản là giống
nhau nên nguyên tắc quản lý tài chính đều có thể áp dụng chung cho tất cả các loại
hình doanh nghiệp. Tuy nhiên giữa các doanh nghiệp khác nhau cũng có sự hiểu biết
2
PGS.TS. Lưu Thị Hương- Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân 2007
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

4
Chuyên đề tốt nghiệp
khác biệt nhất định nên khi áp dụng nguyên tắc quản lý tài chính phải gắn với những
điều kiện cụ thể.
- Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận
Quản lý tài chính phải dựa trên quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuân. Nhà đầu tư
có thể lựa chọn những đầu tư khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro mà họ chấp
nhận và lợi nhuận kỳ vọng mà họ mong muốn. Khi họ bỏ tiền vào những dự án mà
rủi ro cao, hy vọng dự án mang lại lợi nhuận kỳ vọng cao.
- Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền
Để đo lường giá trị tài sản cuả chủ sở hữu, cần sử dụng khái niệm giá trị thời
gian của tiền, tức là phải đưa lợi ích và chi phí của dự án về một thời điểm thường là
thời điểm hiện tại. Theo quan điểm của nhà đầu tư, dự án được chấp nhận khi lợi ích
lớn hơn chi phí. Trong trường hợp này, chi phí cơ hội của vốn được đề cập như là tỷ
lệ chiết khấu.
- Nguyên tắc chi trả.
Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần đảm bảo mức ngân quỹ tối
thiểu để thực hiện chi trả. Do vậy, điều đáng quan tâm ở các doanh nghệp là các dòng
tiền chứ không phải là lợi nhuận kế toán. Dòng tiền ra và dòng tiền vào được tái đầu
tư phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí. Không những thế, khi đưa ra

đưa ra các quyết định vì lợi ích của các cổ đông của doanh nghiệp. Vì vậy, để làm rõ
mục tiêu quản lý tài chính, cần phải trả lời một câu hỏi cơ bản hơn: theo quan điểm
của cổ đông, một quyết định quản lý tài chính tốt là gì?
Nhà quản lý tài chính hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông bằng các
quyết định làm tăng giá trị thị trường cổ phiếu. Mục tiêu của quản lý tài chính là tối
đa hoá giá trị hiện hành trên một cổ phiếu, là tăng giá trị của doanh nghiệp. Do đó
phải xác định được kế hoạch đầu tư và tài trợ sao cho giá trị của cổ phiếu có thể
được tăng lên. Trên thực tế, hành động của nhà quản lý vì lợi ích tốt nhất của cổ đông
phụ thuộc vào 2 yếu tố: Thứ nhất, mục tiêu của quản lý có sát với mục tiêu của cổ
đông không? Vấn đề này liên quan tới hoạt động kiểm soát của doanh nghiệp.
- Tác động của thuế.
Trước khi đưa ra quyết định tài chính nào, nhà quản lý tài chính luôn tính tới
tác động của thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi xem xét tới một quyết
định đầu tư, doanh nghiệp phải tính tới lợi ích thu được trên cơ sở dòng tiền thu được
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

6
Chuyên đề tốt nghiệp
trên cơ sở dòng tiền sau thuế do dự án tạo ra. Hơn nữa, tác động của thuế cần được
phân tích kỹ lưỡng khi thiết lập cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Bởi lẽ, khoản nợ có
một lợi thế nhất định về chi phí so với vốn chủ sở hữu. Đối với doanh nghiệp, chi phí
trả lãi là chi phí giảm thuế. Vì thuế là một công cụ quản lý vĩ mô của Chính phủ,
thông qua thuế, Chính phủ có thể khuyến khích hoặc hạn chế tiêu dùng và đầu tư.
Các doanh nghiệp cần cân nhắc, tính toán để điều chỉnh các quyết định tài chính cho
phù hợp, đảm bảo được lợi ích của các cổ đông.
1.3 Nội dung của quản lý tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Phân tích tài chính doanh nghiệp.
“ Phân tích tài chính doanh nghiệp là sử dụng một tập hợp các khái niệm,
phương pháp và công cụ để thu thập và xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác
trong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực


Nếu gặp khó khăn tài chính, doanh nghiệp có thể không còn khả năng
thanh toán đúng hạn các khoản phải trả hoặc cần mở rộng hạn mức tín dụng tài ngân
hàng. Kết quả là, nợ ngắn hạn sẽ tăng nhanh hơn tài sản ngắn hạn và chỉ số thanh
toán ngắn hạn có thể giảm xuống. Đây có thể là tín hiệu đầu tiên về trục trặc tài
chính. Tất nhiên, chỉ số thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp cũng cần được tính
toán và thống kê trong khoảng thời gian đủ dài để có cái nhìn đầy đủ với lịch sử vận
hành và phát triển của doanh nghiệp. Ngoài ra, cũng có thể so sánh chỉ tiêu này giữa
các doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá hiệu quả tương đối của doanh nghiệp.
Nếu trị số của chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1, doanh nghiệp có đủ khả năng
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính bình thường hoặc có khả
quan và ngược lại chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1, khả năng thanh toán ngắn hạn của
doanh nghiệp càng thấp.
-
Tài sản nhanh là những tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi nhanh chóng và dễ
dàng thành tiền mặt. Hàng tồn kho là tài khoản có khả năng chuyển đổi sang tiền mặt
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

- Hệ số thanh toán ngắn
hạn
=
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh =
Tiền + Các khoản phải thu
Nợ ngắn hạn
8
Chuyên đề tốt nghiệp
thấp nhất. Đa số người phân tích tài chính coi trọng khả năng thanh toán của doanh
nghiệp với các khoản nợ ngắn hạn dựa trên tổng tài sản nhanh.

Nợ đến hạn
Hệ số nợ tổng tài sản =
Tổng nợ phải tra
Tổng tài sản
9
Chuyên đề tốt nghiệp
lớn và ngược lại, khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp thấp thì cũng thể hiện
khả năng sinh lợi của tài sản của doanh nghiệp thấp
Chỉ riêng hệ số thanh toán khả năng thanh toán lãi vay thì chưa đủ để đánh giá
một công ty vì hệ số này chưa đề cập đến các khoản thanh toán cố định khác như tiền
trả nợ gốc, chi phí tiền thuê và chi phí cổ tức ưu đãi.
-

Cho biết tỷ trọng đầu tư vào các tài sản của doanh nghiệp, xu hướng biến động
của tài sản qua các kỳ báo cáo, tính hợp lý trong việc bố trí về cơ cấu tài sản của
doanh nghiệp tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
-

Dùng để đo lường sự ổn định của việc tăng vốn. Bổ sung vào vốn góp bởi các
cổ đông và các khoản dự trữ vốn thì vốn chủ sở hữu cũng góp phần tạo ra dự trữ cho
vốn điều lệ và thặng dư. Nguồn vốn này không cần trả lại nên càng cao thì doanh
nghiệp càng được đánh giá cao.
c, Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động
-
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản lý hàng tồn kho. Vòng
quay hàng tồn kho là số lần mà hàmg hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ.
Hệ số này lớn cho thấy tốc độ vòng quay của hàng hoá trong kho là nhanh và ngược
lại. Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng dự trữ
hàng hoá trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả
năng doanh nghiệp bị mất khách hàng vì đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa,

của từng ngành nghề kinh doanh. Kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ thì vòng quay của
các khoản phải thu càng nhanh, cho biết hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng
cao.
d, Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận và khả năng phân phối lợi nhuận
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

Vòng quay vốn lưu động =
Doanh thu thuần
TSLĐ bình quân
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Doanh thu thuần
TSLĐ bình quân
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân
Kỳ thu tiền bình quân =
Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân một ngày
11
Chuyên đề tốt nghiệp
-
Cho biết một đồng doanh thu tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

-
Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lợi trên một đồng vốn đầu tư vào công ty.
-
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng tạo lãi của một đồng vốn mà nhà đầu tư bỏ ra để
đầu tư vào công ty.
e, Nhóm chỉ tiêu về phân phối lợi nhuận
-

Chuyên đề tốt nghiệp
Chỉ tiêu này nói lên công ty chi trả phần lớn thu nhập cho cổ đông hay giữ lại
để tái đầu tư.
1.3.2 Quản lý nguồn vốn doanh nghiệp.
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và
tiến hành các hoạt động sản xuất- kinh doanh.Vì vậy, quản lý nguồn vốn có ý nghĩa
quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp. Tuy nhiên trong quản lý nguồn vốn,
chủ yếu đề cập tới các hình thức huy động vốn và xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới
cách thức lựa chọn nguồn vốn của doanh nghiệp.
Trong mọi doanh nghiệp, vốn đều bao gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và
nợ, mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tuỳ theo tính
chất của chúng. Tuy nhiên việc lựa chọn nguồn vốn trong các doanh nghiệp khác
nhau sẽ không giống nhau, nó phụ thuộc vào một loạt các nhân tố: trạng thái của nền
kinh tế, ngành kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, quy mô và cơ
cấu tổ chức của doanh nghiệp...
1.3.2.1 Phương pháp lựa chọn nguồn vốn
Chiến lược tài trợ của doanh nghiệp phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường
vốn, thị trường chứng khoán, sự ổn định của nền kinh tế, uy tín cuả doanh nghiệp và
khả năng thích ứng của nhà quản lý trong từng tình huống cụ thể. Trên thực tế thường
xem xét để lựa chọn nguồn tài trợ theo các xu hướng sau:
+ Một là: sử dụng toàn bộ nguồn tài trợ dài hạn để tài trợ cho tổng tài sản của
doanh nghiệp. Chiến lược này rủi ro thấp nhưng chi phí vốn cao.
+ Hai là: Sử dụng tài trợ dài hạn cho toàn bộ tài sản dài hạn( TSCĐ) và tài trợ
ngắn hạn cho toàn bộ tài sản ngắn hạn(TSLĐ). Chiến lược này có độ rủi ro cao
nhưng chi phí thấp.
+ Ba là: Toàn bộ tài sản dài hạn và một phần tài sản ngắn hạn được tài trợ
bằng nguồn vốn dài hạn. Chiến lược này có độ rủi ro trung bình và chi phí trung bình.
1.3.2.2 Các nguồn vốn của doanh nghiệp và hình thức huy động.
- Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm:
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

công chúng về cổ phiếu đó.
+ Tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới.
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

14
Chuyên đề tốt nghiệp
Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng là phát hành cổ phiếu để huy động
vốn cho doanh nghiệp. Phát hành cổ phiếu được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của
doanh nghiệp. Một số loại cổ phiếu được phát hành là: Cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu
tiên
- Nợ và các phương thức huy động nợ của doanh nghiệp.
+ Nguồn vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại
+ Phát hành trái phiếu công ty: trái phiếu có lãi suất cố định, trái phiếu có lãi
suất thay đổi, trái phiếu có thể thu hồi được, chứng khoán có thể chuyển đổi được.
1.3.3 Quản lý tài sản doanh nghiệp
1.3.3.1 Quản lý tài sản lưu động
Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển
trong quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản lưu
động thể hiện ở bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự
trữ tồn kho. Giá trị các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp kinh doanh sản xuất
thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của chúng. Quản lý sử dụng hợp
lý các loại tài sản lưu động có ảnh hưởng quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm
vụ chung của doanh nghiệp
- Quản lý dự trữ
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh
doanh thì việc tồn tại hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá
trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Hàng hoá tồn kho có ba loại : nguyên
liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm sản xuất kinh doanh,
sản phẩm dở dang và thành phẩm. Đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật

nhiên doanh nghiệp bị chậm trễ trơng việc trả tiền vì tiền có giá trị theo thời gian nên
doanh nghiệp sẽ quy định giá cao hơn.
+ Tín dụng thương mại làm giảm được chi phí tồn kho của hàng hoá.
+ Tín dụng làm cho tài sản cố định được sử dụng có hiệu quả hơn và hạn chế
phần nào về hao mòn vô hình.
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

16
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng chi phí hoạt
động của doanh nghiệp.
+ Tín dụng thương mại làm tăng chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ
để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ.
Với tác động nêu trên buộc nhà quản lý phải so sánh giữa thu nhập và chi phí
tăng thêm, từ đó để quyết định có nên cấp tín dụng thương mại hay không? Và các
điều khoản trong đó như thế nào cho phù hợp.
1.3.3.2 Quản lý tài sản cố định
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu mà nó có đặc điểm cơ bản
là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chất không thay đổi từ chu kỳ sản
xuất đầu tiên cho đến khi bị sa thải khỏi quá trình sản xuất. Những tư liệu lao động
được coi là tài sản cố định khi đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn sau:
+ Tiêu chuẩn về giá trị thời gian: Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên.
+ Tiêu chuẩn giá trị: Tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên.
Quản lý tài sản cố định bao gồm:
- Khai thác và tạo nguồn vốn cố định
Để dự báo các nguồn vốn đầu tư vào TSCĐ, có thể dựa vào các căn cứ sau:
+ Quy mô và khả năng sử dụng quỹ đầu tư phát triển hoặc quỹ khấu hao để
đầu tư mua sắm TSCĐ hiện tại và các năm tiếp theo.
+ Khả năng ký kết các hợp đồng liên doanh với các tổ chức khác
+ Khả năng huy động vốn vay dài hạn từ các tổ chức tín dụng hoặc phát hành

trước khi xây dựng xét duyệt và quyết định dự toán ngân sách, khi phân tích tài chính
và lập kế hoạch tài chính
+ Nội dung kiểm tra: kiểm tra sự phù hợp của các dự án đầu tư, kế hoạch tài
chính với khai thác khả năng tiềm tàng của tổ chức thông qua các công cụ phân tích
và các phương pháp so sánh đối chiếu của các chỉ tiêu tài chính, kiểm tra việc tính
toán và áp dụng các phương pháp lập kế hoạch.
+ Ý nghĩa: kiểm tra trước có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sự vận
động của các luồng tài chính qua việc tạo lậo các quỹ tiền tệ đúng với yêu cầu, khả
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

18
Chuyên đề tốt nghiệp
năng của công ty, ngăn chặn các sai lầm khi ra quyết định về quản lý tài chính và tạo
cơ sở cho kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính.
- Kiểm tra thường xuyên quá trình thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch tài
chính đã được quyết định:
+ Là việc kiểm tra ngay trong các hoạt động tài chính, trong các nghiệp vụ tài
chính phát sinh, trên cơ sở đó thúc đẩy hoàn thành các kế hoạch tài chính, bảo toàn,
phát triển và sử dụng vốn có hiệu quả.
+ Nội dung kiểm tra: kiểm tra các hoạt động thu- chi tài chính, kiểm tra về
thanh toán, về kết cấu tài chính, về khả năng sinh lời thông qua phân tích hệ số khả
năng thanh toán, hệ số doanh lợi, điều hoà vốn. Kiểm tra việc phân phối và sử dụng
các qũy tiền tệ để đánh giá hiệu năng hoạt động và dự báo xu hướng phát triển của tổ
chức.
+ Ý nghĩa: đánh giá được ưu nhược điểm trong quản lý các hoạt động tài
chính, tìm ra các giải pháp tài chính, đưa ra các quyết định tài chính một cách chính
xác, đúng đắn và kịp thời.
- Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính:
+ Là kiểm tra được thực hiện sau khi các hoạt động tài chính, các nghiệp vụ
tài chính diễn ra, được hạch toán, ghi chép vào hệ thống các loại sổ sách, bảng biểu.

- Kiểm tra thực tế: là cách kiểm tra được tiến hành tại hiện trường, tại nơi
diễn ra các hoạt động kinh tế tài chính của bộ phận chịu sự kiểm tra.
1.3.5 Quyết định đầu tư tài chính
Đầu tư là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định sự phát triển của tổ
chức và của nền kinh tế quốc dân.
Trong hoạt động này, tổ chức sử dụng nguồn tài trợ dài hạn, nhằm hình
thành và bổ sung những tài sản cần thiết hoặc đầu tư và các tổ chức khác để thực hiện
mục tiêu của mình. Hoạt động này được tập trung thông qua việc thực hiện các dự án
đầu tư hoặc góp vốn liên doanh, liên kết, đầu tư công ty con, công ty thành viên...
- Phân loại đầu tư:
+ Theo cơ cấu vốn: đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư về vốn lưu động thường
xuyên cần thiết, đầu tư liên doanh và đầu tư về tài sản tài chính khác.
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

20
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Theo mục tiêu: đầu tư hình thành doanh nghiệp, đầu tư cho việc tăng năng
lực sản xuất, đầu tư cho đổi mới sản phẩm, đầu tư thay đổi thiết bị, đầu tư có tính
chất chiến lược, đầu tư ra bên ngoài.
- Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư:
+ Chính sách kinh tế của chính phủ: đầu tư vào ngành, lĩnh vực mà Nhà
nước khuyến khích
+ Yếu tố thị trường: nhu cầu sản phẩm, dịch vụ hiện tại tương lai, mức độ
cạnh tranh.
+ Lãi xuất tiền vay và chính sách thuế: xác định chi phí đầu tư, chính sách
thuế có thể khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư.
+ Tiến bộ khoa học kỹ thuật
+ Khả năng tài chính của tổ chức.
- Phương pháp đánh giá lựa chọn đầu tư:
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đầu tư: xem xét lợi ích mang lại trong tương

công ty đổi tên thành công ty xuất nhập khẩu với Lào. Trước chính sách mở cửa nền
kinh tế của đất nước, để tồn tại và tiếp tục phát triển công ty đã không ngừng mở
rộng mối quan hệ hợp tác kinh doanh với nhiều tổ chức, công ty kinh doanh của nước
ngoài. Đến nay công ty đã có quan hệ ngoại giao với khoảng 40 nước và quan hệ
kinh doanh với khoảng trên 23 nước trên thế giới.
- Quá trình phát triển của Công ty chia làm hai giai đoạn :
+ Giai đoạn 1: 1987 – 1993 Công ty được Bộ thương mại giao nhiệm vụ tiến
hành các hoạt động xuất nhập khẩu với nước CHDC nhân dân Lào.
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

22
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Giai đoạn 2 : từ 1993 đến nay theo xu thế của cơ chế thị trường và sự đổi
mới của đất nước để có thể thích ứng và vươn lên Công ty phải có những thay đổi
trong chiến lược xuất nhập khẩu kinh doanh và thị trượng. Do vậy Bộ Thương
mại( nay là Bộ Công thương) đã có những điều chỉnh để Công ty không chỉ thực hiện
kinh doanh xuất nhập khẩu với Lào và thay mặt chính phủ nhận nợ cho Nhà nước do
chính phủ Lào trả mà còn được phép tiến hành hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
với các nước trên thế giới và cả thị trường trong nước góp phần vào phát triển chung
của nền kinh tế đất nước.
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn.
- Chức năng
+ Trực tiếp xuất khẩu theo giấy phép của Bộ Thương Mại( nay là Bộ Công
Thương) với các nước trên thế giới, góp phần thúc đẩy sự hợp tác phát triển quan hệ
với các quốc gia trên thế giới đồng thời đáp ứng nhu cầu hội nhập của nền kinh tế đất
nước vào thị trường thế giới.
+ Công ty nhận ủy thác xuất nhập khẩu, kinh doanh chuyển khẩu thuộc phạm
vi của công ty
+ Liên doanh, liên kết, hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế thuộc mọi
thành phần kinh tế ở trong nước và nước ngoài.

+ Được vay vốn kể cả bằng ngoại tệ ở trong hoặc ngoài nước, được thực hiện
liên doanh liên kết sản xuất với các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ở
trong và ngoài nước.
+ Tổ chức doanh nghiệp theo hình thức tự chủ pháp nhân , tổ chức hạch toán
kinh tế độc lập, có tài khoản tại ngân hàng, có con dấu riêng theo quy định của pháp
luật.
+ Trực tiếp xuất khẩu theo giấy phép của Bộ Thương Mại( nay là Bộ Công
Thương) với các nước trên thế giới, góp phần thúc đẩy sự hợp tác phát triển quan hệ
với các quốc gia trên thế giới đồng thời đáp ứng nhu cầu hội nhập của nền kinh tế đất
nước vào thị trường thế giới.
+ Công ty nhận ủy thác xuất nhập khẩu, kinh doanh chuyển khẩu thuộc phạm
vi của công ty
+ Liên doanh, liên kết, hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế thuộc mọi
thành phần kinh tế ở trong nước và nước ngoài.
SV: Phạm Thị Thái Lớp : Quản lý kinh tế 48A

24
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Xuất khẩu lao động nhằm tăng thu nhập cho người lao động đồng thời làm
tăng nguồn thu ngoại tệ đối với Nhà nước.
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty Vilexim
( Nguồn: Phòng tổ chức hành chính công ty Vilexim)
- Phòng tổ chức hành chính: Tham mưu cho giám đốc quản lý nhân sự trong
công ty. Gồm: Sắp xếp, tuyển chọn, thuyên chuyển, lập kế hoạch đào tạo cán bộ,
đánh giá chất lượng cán bộ, xét duyệt định mức tiền lương lao động trong công ty.
Ngoài ra còn quản lý công văn, giấy tờ trong các quan hệ đối nội và đối ngoại của
công ty.
- Phòng kế toán tài vụ: có chức năng huy động vốn và các nguồn lực khác
phục vụ cho công tác kinh doanh của công ty, tiến hành nhận vốn và tài sản của nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status