PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN VỀ VIỆC THỰC THI CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN 5 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY - Pdf 22

TRƯNG ĐI HC KINH T QUC DÂN H NI
VIN ĐO TO SAU ĐI HC
 
BI THẢO LUẬN TI CHÍNH NGÂN HNG V SỰ
PHÁT TRIỂN
(đã chỉnh sửa)
ĐỀ TI:
PHÂN TÍCH V BÌNH LUẬN VỀ VIỆC THỰC THI
CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT
NAM TRONG THI GIAN 5 NĂM TRỞ LI ĐÂY
Giảng viên : T S. Đặng Anh Tuấn
Lớp : CH 19 A
Nhóm HV thực hiện : Hoàng Lê Mai Phương
Trần Thị Thanh Hải
Nguyễn Thị Phượng
Nguyễn Thị Thảo
Phạm Thị Phương Thảo (1984)

Hà Nội, 2011
Bài thảo luận TCNH và sự phát triển GV :TS. Đặng Anh
Tuấn
MỤC LỤC

Đề tài 7 Lớp : CH
19A
2
Bài thảo luận TCNH và sự phát triển GV :TS. Đặng Anh
Tuấn
LỜI MỞ ĐẦU
Trước ngưỡng cửa của sự hội nhập, trở thành thành viên chính thức của tổ
chức thương mại thế giới (WTO), Đảng và Nhà nước ta luôn xác định chiến lược

1.1. Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ
1.1.1. Khái niệm
CSTT là tổng hòa các phương thức mà NHNN sử dụng nhằm tác động đến
lượng tiền cung ứng để đạt được mục tiêu kinh tế, xã hội đất nước trong thời kỳ
nhất định.
Có 2 CSTT chủ yếu:
- CSTT mở rộng: cung ứng thêm tiền, khuyến khích đầu tư, mở rộng
sản xuất… chống suy thoái.
- CSTT thắt chặt giảm cung ứng tiền nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm
sự phát triển quá nóng của nền kinh tế…, kiềm chế lạm phát.
1.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Mục tiêu của CSTT rất đa dạng như kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả, tạo
công ăn việc làm(giảm tỷ lệ thất nghiệp), tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường
tài chính, lãi suất, tỷ giá hối đoái…
Do lạm phát tăng cao có tác động xấu đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, trong
khi đó nguyên nhân lạm phát lại là tiền tệ. Chính vì vậy, ở hầu hết các nước, kiềm
chế lạm phát, ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu và mục tiêu dài hạn của CSTT.
Tùy vào tình hình kinh tế mỗi nước mà sẽ có một tỷ lệ lạm phát phù hợp. Bên
cạnh đó, còn 2 mục tiêu khác là tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm, giảm
tỷ lệ thất nghiệp. Để thực hiện 2 mụa tiêu này thì NHNN thường thực hiện CSTT
mở rộng.
Xét cả 3 mục tiêu thì thấy, lạm phát, bình ổn giá cả thì phải áp dụng chính
sách tiền tệ thắt chặt. Và như vậy thì trong ngắn hạn không thể thực hiện được 2
mục tiêu còn lại. Ngược lại, khi nền kinh tế mở rộng, thất nghiệp giảm, nền kinh
tế phát triển quá nóng dẫn đến lạm phát gia tăng… Tuy nhiên, xét các mục tiêu
trên trong dài hạn thì chúng lại không mâu thuẫn với nhau. Mối quan hệ giữa mục
tiêu giảm thất nghiệp và mục tiêu tăng trưởng kinh tế không mâu thuẫn cả trong
ngắn hạn và dài hạn.

Đề tài 7 Lớp : CH

tác động đến lãi suất cho vay chiết khấu.

Đề tài 7 Lớp : CH
19A
5
Bài thảo luận TCNH và sự phát triển GV :TS. Đặng Anh
Tuấn
Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất mà ngân hàng đánh vào các khoản tiền
cho các ngân hàng thương mại vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bất
thường của các ngân hàng này.
Khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt thực tế của ngân hàng thương mại giảm xuống
đến gần tỷ lệ an toàn tối thiểu thì họ sẽ phải cân nhắc việc có tiếp tục cho vay hay
không vì buộc phải tính toán giữa số tiền thu được từ việc cho vay với các chi phí
liên quan trong trường hợp khách hàng có nhu cầu tiền mặt cao bất thường.
- Nếu lãi suất chiết khấu bằng hoặc thấp hơn lãi suất thị trường thì ngân
hàng TM sẽ tiếp tục cho vay đến khi dự trữ tiền mặt giảm đến mức tối thiểu cho
phép vì nếu thiếu tiền mặt họ có thể vay từ ngân hàng trung ương mà không phải
chịu bất kỳ thiệt hại nào.
- Nếu lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, các ngân hàng thương
mại không thể để cho tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm đến mức tối thiểu cho phép, thậm
chí phải dự trữ thêm tiền mặt để tránh phải vay tiền từ ngân hàng trung ương với
lãi suất cao hơn lãi suất thị trường khi phát sinh nhu cầu tiền mặt bất thường từ
phía khách hàng.
Tuy nhiên, tác dụng của CS này chỉ phát huy khi các tổ chức tín dụng có nhu cầu
vay vốn từ NHNN.
1.2.3. Dự trữ bắt buộc
Là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản gửi ở ngân
hàng trung ương.
Sự tăng lên hay giảm xuống của tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế
tạo tiền và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại, qua đó tác động đến

Việt Nam trong ngắn hạn. Theo luật Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ áp
dụng cho đồng việt nam, do NHNN công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng
ấn định lãi suất kinh doanh. (Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất
thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng nhà
nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung
– cầu vốn. Theo luật dân sự, các tổ chức tín dụng không cho vay với lãi suất cao

Đề tài 7 Lớp : CH
19A
7
Bài thảo luận TCNH và sự phát triển GV :TS. Đặng Anh
Tuấn
gấp rưỡi lãi suất cơ bản. Lãi suất cơ bản chỉ được công bố lần đầu vào ngày 30- 5-
2000. Trong lần đầu công bố, lãi suất cơ bản chỉ ở mức 7,2%/năm. Vào thời điểm
tháng 6 năm 2008, lãi suất cơ bản là 14%/ năm. Điều này có nghĩa là các tổ chức
tín dụng có thể quyết định mức lãi suất cho vay của mình cao tới 21%).
Lãi suất tái cấp vốn là loại lãi suất mà ở đó NHTW áp dụng cho các nghiệp
vụ tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng trung gian (bao gồm ngân hàng TM). Ở
Việt Nam, Ngân hàng TW tái cấp vốn cho các NHTM qua hình thức: cho vay lại
theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác, cho vay dưới hình thức cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn.

Đề tài 7 Lớp : CH
19A
8
Bài thảo luận TCNH và sự phát triển GV :TS. Đặng Anh
Tuấn
2. VIC THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN T CỦA NHNN VIT NAM
TRONG 5 NĂM TRỞ LI ĐÂY (2006-2010)
2.1. Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam giai đoạn 2006-2008

vay chịu rủi ro cao: cho vay kinh doanh chứng khoán, cho vay thị trường bất động
sản.
+ Tín dụng đầu tư vào thị trường chứng khoán được kiểm soát chặt chẽ và
giảm dần cả số tuyệt đối và tỷ lệ dư nợ qua các tháng, góp phần thúc đẩy thị
trường chứng khoán phát triển ổn định. Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản
cũng được theo dõi, giám sát chặt chẽ nhằm góp phần hạn chế những tiềm ẩn
rủi ro trong hoạt động ngân hàng và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển
bền vững.
+ Chất lượng tín dụng được cải thiện: Tỷ lệ nợ xấu tháng 9/2006 là 2,2%,
có xu hướng giảm so với tỷ lệ nợ xấu tháng 12/2006 (2,64%), trong đó tỷ lệ nợ
xấu của các nhóm TCTD đều giảm. Cụ thể là: tỷ lệ nợ xấu của các NHTM nhà
nước là 2,8% (giảm 0,4%); tỷ lệ nợ xấu của các NHTM cổ phần là 1,26% (giảm
0,34%); tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng liên doanh và chi nhánh nước ngoài là
0,8% (giảm 0,4%); tỷ lệ nợ xấu của các TCTD khác là 2,4% (giảm 0,5%).
+ Các sản phẩm dịch vụ tín dụng đã được đa dạng hơn, nhiều lĩnh vực cho
vay đầu tư được mở rộng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều điều kiện thuận
lợi tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng để phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm,
giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần ổn định xã hội, cho vay phát triển nông nghiệp
nông thôn, cho vay chính sách hỗ trợ các hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh vùng
khó khăn cũng được mở rộng, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu xoá đói giảm
nghèo. Bên cạnh đó, việc cho vay tiêu dùng cũng được mở ra rất đa dạng đáp ứng
đầy đủ các nhu cầu của xã hội
2.1.1.4. Lãi suất
Các mức lãi suất thị trường được quyết định đều dựa trên quan hệ cung cầu
vốn vay. NHNN không quy định trần lãi suất đối với huy động, cho vay và duy trì
ổn định mức lãi suất cơ bản. Đồng thời, trong điều kiện nguồn cung ngoại tệ dồi
dào, từ 01/03/2007, NHNN đã chính thức thực hiện bỏ qui định về trần lãi suất

Đề tài 7 Lớp : CH
19A


Đề tài 7 Lớp : CH
19A
11
Bài thảo luận TCNH và sự phát triển GV :TS. Đặng Anh
Tuấn
- Qui mô thị trường tiền tệ mở rộng và ổn định, không để xảy ra những cú
sốc về lãi suất và tỷ giá trước những biến động khó lường của tình hình thị trường
tài chính quốc tế.
+ Lãi suất thị trường liên ngân hàng mặc dù có biến động mạnh trong vài
ngày giữa tháng 11/2007, song, nhìn chung, mặt bằng lãi suất ổn định: lãi suất huy
động và cho vay của TCTD đầu năm 2007 có xu hướng giảm nhẹ so với cuối năm
2006, tạo điều kiện cho việc huy động vốn và đầu tư cho tăng trưởng kinh tế.
- Diến biến tổng phương tiện thanh mặc dù tăng cao, nhưng cơ cấu thay đổi
theo chiều hướng tích cực
+ Tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán giảm từ mức 19,3% năm
2006 xuống mức 17,8% năm 2007.
+ Tỷ lệ ngoại tệ trên tổng tiền gửi từ mức 25,9% năm 2006 xuống còn
22,6% năm 2007.
- Giảm mức độ đô la hoá của nền kinh tế.
2.1.2.2. Hạn chế
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng không được kiểm soát là nguyên nhân chính
dẫn tới làm phát tăng cao vào đầu năm 2008. Nên kinh tế không được kiểm soát
chặt chẽ, cộng thêm tác động mạnh mẽ từ cuộc khủng hoảng nhà đất từ thị trường
Mỹ đã dẫn tới cuộc khủng hoảng trầm trọng năm 2008
- Chính sách tỉ giá với biên độ giao động nhỏ làm cho nền kinh tế chưa kịp
thích ứng với môi trường bên ngoài.
2.2. Năm 2008 – Khủng hoảng kinh tế
Tổng quan kinh tế thế giới cuối năm 2007 -2008: Kinh tế thế giới đối mặt
với nhiều khó khăn: Khủng hoảng tín dụng thế chấp dưói chuẩn ở Mỹ từ tháng

điểm chú ý, và trong bối cảnh đó cũng chứng minh một điều rằng, khi nền kinh tế
biến động thì những quyết định trong điều kiện bình thường được coi là "hành
chính" đã trở thành biện pháp "can thiệp" cần thiết.

Đề tài 7 Lớp : CH
19A
14
Bài thảo luận TCNH và sự phát triển GV :TS. Đặng Anh
Tuấn
Chính sách tiền tệ trong năm 2008 được chia làm 02 giai đoạn:
2.2.1. Giai đoạn 1: 6 tháng đầu năm 2008: Thực hiện CSTT thắt
chặt nhằm kiềm chế lạm phát.
Trong 6 tháng đầu năm, áp lực lạm phát gia tăng mang tính toàn cầu, CPI
của Việt Nam trong 6 tháng tăng bình quân là 15,03%, mức thâm hụt cán cân
thương mại ở mức kỷ lục (hơn 14% GDP).
- Dự trữ bắt buộc: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc giai đoạn này xác lập ở mức cao
nhất trong 10 năm trở lại đây. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 1% và xác lập ở mức
11% đối với VND. Lần đầu tiên, NHNN mở rộng diện dự trữ bắt buộc đối với cả
loại tiền gửi có kỳ hạn từ 24 tháng trở lên (trước đây chỉ có kỳ hạn 24 tháng trở
xuống mới chịu dự trữ bắt buộc)
NHNN phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc vào ngày 17/3/2008), tổng khối
lượng phát hành: 20.300 tỷ đồng, lãi suất 7,8%/năm, kỳ hạn 364 ngày, trong đó
các NHTM Nhà nước phải mua 9.500 tỷ đồng, các TCTD khác: 10.800 tỷ đồng.
- Kiểm soát hoạt động tín dụng: NHNN đã bước đầu định hướng tốc độ
tăng trưởng tín dụng cả năm là 30% toàn hệ thống.
Tuy nhiên, một tình huống khó lường là các NHTM đã không phản ứng kịp thời
trước việc thắt chặt chính sách tiền tệ nên vẫn tiếp tục đẩy mạnh tín dụng, cùng
với việc quản lý thanh khoản của các NHTM còn bất cập đã gây nên tình trạng
thiếu khả năng thanh khoản tại nhiều ngân hàng.
Để bù đắp thiếu hụt thanh khoản, các NHTM đã đua nhau tăng lãi suất huy

tháng 3, tháng 5, NHNN thực hiện cơ chế điều hành lãi suất mới, theo đó quy định
các NHTM cho vay nền kinh tế không vượt quá 150% lãi suất cơ bản và mức lãi
suất cơ bản được điều chỉnh từ mức 12%/năm lên 14%/năm.
Quy định này phù hợp với Bộ luật Dân sự, đó như là một liệu pháp mạnh
mang tính tình thế đã có tác động ổn định lãi suất và tăng trưởng tín dụng đã chậm
lại từ tháng 5 cho đến hết năm.
- Tỷ giá hối đoái: sự kiện nổi bật trong năm 2008 là tỷ giá giữa USD/VND
xuống thấp kỷ lục bởi đồng USD giảm giá do ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế ở
Mỹ và việc FED cắt giảm lãi suất cơ bản đồng USD xuống mức thấp nhất trong
nhiều năm qua (có lúc xuống 0,25%) khiến cho việc xuất khẩu hàng hoá của Việt
Nam gặp nhiều khó khăn.

Đề tài 7 Lớp : CH
19A
16
Bài thảo luận TCNH và sự phát triển GV :TS. Đặng Anh
Tuấn
Để khuyến khích xuất khẩu, NHNN đã quyết định mua vào hơn 7 tỷ USD,
tương đương với việc “bơm” thêm hơn 112.000 tỷ VND vào nền kinh tế làm cho
lạm phát càng thêm trầm trọng. Biện pháp mua vào 7 tỷ USD có mặt tích cực đó
là gia tăng dự trữ ngoại hối quốc gia (còn đang ở mức rất thấp so với các nước
trong khu vực), đồng thời nâng giá trị đồng USD nhằm khuyến khích nền kinh tế
xuất khẩu qua đó tạo điều kiện phát triển sản xuất trong nước, điều chỉnh giảm bội
chi cán cân thương mại. Mặc dù sau đó, NHNN đã thực hiện nghiệp vụ thị trường
mở (Open Market) để “hút"”tiền trở lại nhưng chỉ thu hồi được hơn 82.000 tỷ.
Tuy nhiên, việc làm này vẫn làm gia tăng áp lực lớn về lạm phát vì với một khối
lượng tiền quá lớn đã được NHNN cung vào nền kinh tế.
Để bình ổn thị trường ngoại hối, NHNN đã thực hiện hàng loạt biện pháp,
như nới rộng biên độ tỷ giá từ ±1% lên mức ±2% tạo sự linh hoạt tỷ giá sát với
cung - cầu thị trường; thực hiện mở rộng đối tượng bán ngoại tệ cho các NHTM,

nguy cho tình hình này, hầu hết các nền kinh tế chủ chốt đã thực hiện chính sách
tiền tệ và chính sách tài khóa nới lỏng nhằm tăng tính thanh khoản cho thị trường,
khuyến khích các NHTM mở rộng cho vay, kích thích đầu tư
Trong tình hình kinh tế thế giới như vậy, mặc dù những tháng cuối năm 2008
mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế Việt
Nam, nhất là thị trường tài chính Việt Nam còn nhỏ, song để ngăn chặn ảnh
hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và giảm áp lực lạm phát vẫn diễn ra ở Việt
Nam đến tận tháng 9.2008, NHNN đã phải tiếp tục áp dụng một số biện pháp hỗ
trợ thị trường như nâng lãi suất tín phiếu bắt buộc (từ 7.8%/năm lên mức
13%/năm), cho phép các TCTD thanh toán tín phiếu NHNN bắt buộc trước hạn
theo nhu cầu (21/10/2008), trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND
Để kích thích kinh tế chống lại nguy cơ giảm phát, bắt đầu từ tháng 10.2008,
các loại lãi suất chỉ đạo đã liên tục được hạ xuống theo một lộ trình thích hợp. Lãi
suất cơ bản từ mức 14%/năm sau 4 lần hạ hiện xuống còn 8,5%/năm, lãi suất tái
chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn cũng được hạ tương ứng, biên độ dao động tỷ giá
được nâng từ từ +/-2% lên +/- 3%
Hành động này nhằm tạo sự hợp lý giữa các công cụ CSTT, giảm một phần
chi phí hoạt động cho các NHTM, để các NHTM có điều kiện hạ lãi suất cho vay

Đề tài 7 Lớp : CH
19A
18
Bài thảo luận TCNH và sự phát triển GV :TS. Đặng Anh
Tuấn
hỗ trợ cho các doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất, khuyến khích xuất khẩu
trong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái.
Các chỉ số thị trường tiền tệ (tốc độ tăng M2, tín dụng và lãi suất) và các chỉ
số kinh tế đạt được trong những tháng cuối năm cho thấy việc thực thi CSTT của
NHNN năm 2008, mặc dù có những bất cập nhất định, nhưng thực sự đã có những
tác động rất rõ nét đến việc ổn định thị trường tiền tệ, ngăn chặn đà lạm phát đang

lưu thông được thực hiện thông qua việc siết chặt các khoản vay không hiệu quả
để tập trung tăng trưởng tín dụng cho sản xuất, xuất khẩu, cho lĩnh vực nông
nghiệp, nông dân và nông thôn, cho hộ chính sách và đặc biệt là đối với các dự án
dang dở có hiệu quả phải đầu tư nhanh để phát huy hiệu quả. Đồng thời NHNN đã
linh hoạt kịp thời nới lỏng CSTT bằng cách hạ lãi suất cơ bản, giảm tỷ lệ dự trữ
bắt buộc… khi có dấu hiệu giảm áp lực lạm phát và tăng trưởng khó khăn, nhất là
khi tình trạng suy thoái kinh tế đang lan tỏa ra toàn cầu và có thể tác động mạnh
đến nền kinh tế Việt Nam trong năm 2009 nếu Việt Nam không có giải pháp ứng
phó.
Về thị trường tài chính ngân hàng, thanh khoản của hệ thống ngân hàng
được đảm bảo, khả năng quản trị điều hành của các TCTD được cải thiện.
2.2.4. Hạn chế và bài học kinh nghiệm
Có thể nói, NHNN đã sử dụng một cách linh hoạt và khá hiệu quả các công
cụ chính sách tiền tệ để bình ổn nền kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, lẽ ra,
NHNN nên phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô khác để điều phối nhịp nhàng
hơn sự vận hành của nền kinh tế như: chính sách tài khóa, chính sách xuất khẩu,
nhập khẩu, Đặc biệt, khi NHNN thắt chặt tiền tệ, hạn chế tín dụng, các doanh
nghiệp sẽ khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn, kế hoạch sản xuất kinh
doanh thì vẫn phải thực hiện trong khi nguồn vốn đầu vào lại không có. Cộng
thêm các khủng hoảng sẵn có trên thị trường là một bài toán khó tháo gỡ cho các
doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nếu thời điểm đó, NHNN
kết hợp thêm với chính sách tài khóa, như giảm thuế cho các doanh nghiệp, có
thể bức tranh thị trường sẽ đỡ ảm đạm hơn

Đề tài 7 Lớp : CH
19A
20
Bài thảo luận TCNH và sự phát triển GV :TS. Đặng Anh
Tuấn
Một bài học cũng cần rút ra cho thực thi CSTT, đó là do chưa lường trước

2.3.1. Có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và các chính
sách vĩ mô khác nhằm thúc đẩy sự phát trển của nền kinh tế.
Trong năm 2009, chính phủ Việt Nam đã thực hiện biện pháp kích cầu
thông qua chính sách hỗ trợ lãi suất 4% đối với các doanh nghiệp, các chương
trình miễn, giảm và giãn thuế, bảo lãnh cho các DN vay vốn tại các Ngân hàng
thương mại, … Cụ thể như sau:
Ngày 12/5/2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố chính thức về gói kích
cầu có giá trị 143.000 tỷ đồng (tương đương 8 tỷ USD) của Chính phủ, sau đó
tăng lên 160 nghìn tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD). Theo đó, gói kích cầu tương
đương 8 tỷ USD được chia thành 8 phần có các giá trị khác nhau. Cụ thể các phần
của gói kích cầu này bao gồm:
- Hỗ trợ lãi suất 4% vay vốn tín dụng khoảng tương đương 17.000 tỷ đồng;
đối tượng ưu tiên là các donh nghiệp xuất khẩu. Trước mất, có ba tiêu chí để các
công ty xuất khẩu có thể được hỗ trợ: thứ nhất là có lượng công nhân lớn, thứ hai
là đang sử dụng tối đa nguồn lực, nguyên liệu trong nước, thứ ba là phải đem lại
hiệu quả nhanh.
- Tạm thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước khoảng 3.400 tỷ đồng.
- Ứng trước ngân sách nhà nước để thực hiện một số dự án cấp bách
khoảng 37.200 tỷ đồng.
- Chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 khoảng
30.200 tỷ đồng.
- Phát hành thêm trái phiếu Chính phủ khoảng 20.000 tỷ đồng.
- Thực hiện chính sách giảm thuế khoảng 28.000 tỷ đồng.
- Tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp khoảng 17.000 tỷ
đồng.
- Các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo
an sinh xã hội khoảng 7.200 tỷ đồng.

Đề tài 7 Lớp : CH
19A

xã hội.

Đề tài 7 Lớp : CH
19A
23
Bài thảo luận TCNH và sự phát triển GV :TS. Đặng Anh
Tuấn
Những dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế thể hiện rõ trong quý II.2009,
phần nào phản ánh những nỗ lực hỗ trợ hoạt động kinh tế của Chính phủ. Gói kích
thích kinh tế khá lớn được đưa ra vào đầu năm 2009 bao gồm nhiều biện pháp
khác nhau, từ chương trình hỗ trợ lãi suất, miễn và giãn thuế, và đầu tư vốn bổ
sung. Kết quả là GDP tăng 4,5% trong quý II và 5,8% trong quý III, nâng tốc độ
tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm 2009 lên 4,6% so với cùng kỳ năm 2008.
Những dấu hiệu tích cực đó tiếp tục được duy trì. Theo Báo cáo Cập nhật tình
hình kinh tế Việt Nam của Tổng cục Thống kê, Việt nam đã vượt qua cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu tốt hơn nhiều nước khác. Cụ thể: GDP tăng 5,3% trong
năm 2009 trong đó quý IV đã đạt mức 6,9%. Lạm phát đã giảm từ 19,9% năm
2008 xuống còn 6,5% năm 2009. Quý I/2010 nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục đà
phục hồi của những quý cuối năm 2009 với tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
đạt 5,83%, gấp gần 1,9 lần tốc độ tăng trong quý I/2009. GDP quý II.2010 tăng
6,2-6,4%, tạo nên mức tăng trưởng kinh tế 6 tháng đạt khoảng 6,1% so với cùng
kỳ năm trước. Công nghiệp được xem là mảng tỏa sáng trong bức tranh kinh tế 6
tháng đầu năm nay. Các ngành công nghiệp đã trỗi dậy mạnh mẽ với mức tăng
trưởng giá trị sản xuất toàn ngành 6 tháng đầu năm 2010 ở mức 13,8%. Tóm lại,
không thể phủ nhận rằng gói kích cầu thứ nhất đã có những tác động tích cực đến
nền kinh tế Việt Nam năm 2009, góp phần đưa Việt Nam sớm thoát ra khỏi khủng
hoảng kinh tế.
* Tác động tiêu cực và các vấn đề của gói kích cầu thứ nhất
Bên cạnh những dấu hiệu khả quan, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tiềm ẩn
nhiều nguy cơ. Xuất khẩu năm 2009 giảm, thâm hụt thương mại lên đến 12 tỷ

vay sớm nhất mới được giải ngân. Nếu xét trên tiêu chí ngắn hạn, chỉ một phần
của gói kích cầu của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí này. Ngày 30/10/2009,
Quốc hội khóa XII đã tán thành và
Việc đáp ứng nguyên tắc số 2 về đúng đối tượng là vấn đề nghiêm trọng
nhất. Vấn đề này nảy sinh chủ yếu từ gói hỗ trợ lãi suất. Theo báo cáo của NHNN,
có đến 3.923 món vay vi phạm, tương đương 8.334 tỷ đồng. Vi phạm nhiều nhất
là ở Ngân hàng thương mại cổ phần với 5.916 tỷ đồng. Hiện nay kiểm toán nhà
nước đang thực hiện kiểm toán kết quả thực hiện gói hỗ trợ lãi suất. Con số vi
phạm thực tế có thể cao hơn rất nhiều. Thực tế là nhiều các doanh nghiệp đảo nợ

Đề tài 7 Lớp : CH
19A
25

Trích đoạn GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status