MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các hình MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CÔNG ƯỚC ATA VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC HẢI
QUAN TẠI VIỆT NAM
8
1.1.
Lợi ích đối với cơ quan hải quan
16
1.1.3.3.
Lợi ích đối với Hiệp hội cấp phát và bảo lãnh quốc gia
16
1.1.4.
Sử dụng Sổ ATA
17
1.1.4.1.
Những điều kiện quy định việc sử dụng đúng đắn Sổ ATA
17
1.1.4.2.
Quyền hạn của Hiệp hội cấp phát và bảo lãnh
18
1.1.4.3.
Ngôn ngữ sử dụng
20
1.1.4.4.
Trách nhiệm của người sử dụng Sổ
20
1.1.4.5.
Trách nhiệm của các bên tham gia Công ước ATA
21
1.1.4.6.
Các bước tiến hành để xin cấp Sổ
22
1.1.4.7.
Lệ phí sử dụng Sổ
22
1.1.5.
2.1.4.
Một số chính sách quản lý cụ thể đối với hàng hóa kinh
doanh tạm nhập - tái xuất
55
2.1.4.1.
Hàng hóa kinh doanh tạm nhập - tái xuất
55
2.1.4.2.
Các loại hình hàng hóa tạm nhập - tái xuất khác
58
2.1.4.3.
Chính sách quản lý đối với một số nhóm hàng riêng biệt
66
2.1.5.
Chính sách thuế đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất
67
2.1.5.1.
Thuế nhập khẩu đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất
67
2.1.5.2.
Thuế tiêu thụ đặc biệt
71
2.1.5.3.
Thuế bảo vệ môi trường
71
2.1.5.4.
Thuế giá trị gia tăng
71
2.1.5.5.
Công tác thanh khoản tờ khai tạm nhập - tái xuất
Giải pháp về hoàn thiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa
tạm nhập tái xuất
89
3.3.1.
Giải pháp trước mắt
89
3.3.2.
Giải pháp lâu dài
90
3.4.
Giải pháp về ứng dụng công nghệ quản lý hiện đại
91
3.5.
Giải pháp về đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
92
3.6.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật hải quan đối với doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu
93
KẾT LUẬN
96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
98
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
APEC
Asia Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế
Hiệp định vận tải qua biên
giới giữa các nước tiểu vùng
Mê Công mở rộng
HS
Convention on the Harmonized
Commodity Description and
Coding System
Công ước quốc tế về Hệ
thống hài hòa mô tả và mã
hóa hàng hóa
IBCC
The International Bureau of
Chambers of Commerce
Hội đồng Phòng thương mại
Quốc tế
ICC
The International chamber of commerce
Phòng thương mại quốc tế
IMF
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
NIGA
The Appointed Nation Issuing and
Guaranteenin Association
Hiệp hội cấp phát và bảo
lãnh quốc gia
OECD
Organization for Economic Cooperation
and Development
Tổ chức hợp tác và phát
năm 2007 đến tháng 10 năm 2011 (trừ mặt hàng xăng dầu)
77
2.2
Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai tại
Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh từ năm 2007 đến tháng 10
năm 2011
77
2.3
Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai
tại Cục Hải quan Hải Phòng từ năm 2007 đến tháng 10
năm 2011
78
2.4
Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai tại
Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn từ năm 2007 đến tháng 10
năm 2011
78
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
hình
Tên hình
Trang
2.1
Sơ đồ quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu
29
2.2
hải quan các nước theo các chuẩn mực quốc tế nhất định.
Năm 1993, Việt Nam gia nhập Tổ chức Hải quan thế giới (WCO).
Đây được coi là sự kiện quan trọng có tính chất bước ngoặt trong hợp tác đa
phương của Hải quan Việt Nam. Việc gia nhập này đã giúp Hải quan Việt
Nam chuyển dần từng bước tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ hải quan
tiên tiến của thế giới. Cùng với tiến trình hội nhập đất nước, Hải quan Việt
Nam đã chủ động và tiến hành hội nhập sâu rộng vào các hoạt động hợp tác
hải quan trong các thể chế đa phương như ASEAN, ASEM, APEC, GMS,
trên cả cấp độ tiểu khu vực, khu vực và thế giới. Hợp tác hải quan trong
khuôn khổ các tổ chức quốc tế có liên quan đến kỹ thuật nghiệp vụ hải quan
hoặc các cam kết quốc gia mà hải quan có trách nhiệm thực thi.
Đồng hành với thành tựu, kết quả đạt được, một trong những thách
thức lớn nhất của tiến trình hội nhập kinh tế là làm sao cho hệ thống pháp
luật, chính sách quản lý nền kinh tế thị trường nói chung, lĩnh vực chính sách,
pháp luật hải quan nói riêng phải được thay đổi phù hợp với các chuẩn mực
chung quốc tế và biện pháp thực thi các chuẩn mực này. Nghị quyết Đại hội
Đảng X chỉ ra yếu kém bất cập của vấn đề này là: Thiếu lộ trình chủ động
trong hội nhập kinh tế quốc tế; chưa gắn kết chặt chẽ tiến trình hội nhập với
việc hoàn thiện pháp luật, thể chế, chính sách và cải cách cơ cấu kinh tế; việc
nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, của doanh nghiệp và của nền kinh tế
chưa theo kịp với yêu cầu của hội nhập.
Ngày 11-01-2007, việc trở thành thành viên chính thức của WTO đã
chứng tỏ quyết tâm của Việt Nam “tham dự” tích cực, sâu hơn vào kinh tế
toàn cầu. Gia nhập WTO, Việt Nam cần phải tuân thủ “luật chơi chung”, đó là
thực hiện các cam kết liên quan về thương mại hàng hóa, đầu tư, tài chính,
theo đó, phải cắt giảm thuế quan, xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, xóa bỏ
trợ cấp, mở cửa thị trường, tạo “sân chơi” bình đẳng cho doanh nghiệp quốc
nội và quốc tế, bảo vệ tài sản trí tuệ và bản quyền. Nhưng, “luật chơi” cũng
tạo thuận lợi cho vốn, hàng hóa Việt Nam mở rộng, thâm nhập thị trường các
nước; tranh thủ vốn đầu tư, công nghệ, kỹ năng quản lý của nước ngoài; thiết
Từ việc nhận thức yêu cầu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế
trong bối cảnh quốc tế mới, Nhà nước ta đã “mở rộng quan hệ đối ngoại, tham
gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế của nước ta
trên trường quốc tế” và “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển
nhanh, có hiệu quả và bền vững”.
Với nhận thức trên, tôi cho rằng vấn đề hội nhập của Việt Nam nói
chung và của ngành Hải quan nói riêng có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn,
do vậy việc nghiên cứu đề tài “Công ước ATA và khả năng thực thi của
ngành Hải quan trong thời gian tới” là việc làm cần thiết, phục vụ thiết thực
cho việc tạm nhập - tái xuất hàng hóa thông qua việc đơn giản hóa và hài hòa
hóa các thủ tục hải quan theo các mục tiêu kinh tế, nhân đạo, văn hóa, xã hội
hoặc du lịch. Mặt khác việc áp dụng mô hình chuẩn các chứng từ hải quan
quốc tế cùng với sự bảo đảm quốc tế theo Công ước ATA sẽ góp phần thuận
lợi hóa thủ tục tạm nhập tái xuất hàng hóa, đóng góp hiệu quả cho sự phát
triển thương mại quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Đến nay, tại Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu về pháp luật
hải quan và tiến trình hội nhập của Hải quan Việt Nam như:
- “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về hải quan ở nước ta hiện nay”,
Luận án tiến sĩ của Vũ Ngọc Anh, bảo vệ thành công năm 1996;
- “Hoàn thiện pháp luật về thủ tục hải quan đáp ứng yêu cầu cải cách
hiện đại hóa hải quan”, Luận văn thạc sĩ Lê Thúy Hiền, bảo vệ thành công
năm 2008;
- “Hải quan Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế”, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Tới;
- “Tiếp tục cải cách hiện đại hóa hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu
hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Túc, bảo vệ thành
công năm 2007.
Ngoài ra còn có một số đề tài nghiên cứu cấp ngành Hải quan như:
- “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
ước ATA.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ luật học và với khả năng cho
phép, người viết luận văn cố gắng nghiên cứu một cách tổng quát những vấn đề
cơ bản liên quan đến Công ước ATA, đến thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm
nhập - tái xuất và các khả năng của ngành Hải quan khi tham gia Công ước này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung: do thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn
chế, người viết xin chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các quy định pháp luật
về thủ tục hải quan đối với loại hình tạm nhập tái xuất phổ biến, điển hình,
chiếm kim ngạch lớn để từ đó áp dụng được những chuẩn mực của Công ước
ATA về việc chấp nhận tạm thời hàng hóa.
- Về mặt thời gian: Mốc thời gian mà luận văn phân tích là năm 2010
khi mà Hải quan Việt Nam chưa tham gia vào Công ước ATA, giải pháp đề
xuất áp dụng cho đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng
của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm
phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước, chính
sách của nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập kinh tế quốc tế.
Ngoài ra, luận văn được thực hiện dựa trên việc áp dụng các phương
pháp nghiên cứu tổng hợp như: phương pháp thống kê, phương pháp phân
tích, phương pháp so sánh, phương pháp diễn giải, phương pháp lịch sử,…
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của
pháp luật Việt Nam về thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất khi
gia nhập Công ước ATA.
Về mặt lý luận, luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên kể từ khi
Luật Hải quan năm 2001 và Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung một số điều của
Liên hợp quốc (UNESCO) đã nghiên cứu và thông qua Công ước quốc tế của
WCO về Sổ tạm quản ATA (Công ước ATA) năm 1961.
Công ước ATA gồm phần thân Công ước và 13 Phụ lục về các chuyên
đề liên quan đến tạm quản như về chứng từ tạm quản (Sổ ATA); về hàng hóa
dùng để trưng bày hoặc sử dụng tại triển lãm, hội chợ, hội nghị hay các sự
kiện tương tự; về thiết bị nghề nghiệp; về bao bì, giá kê, gói, mẫu hàng và các
hàng hóa nhập khẩu khác liên quan đến hoạt động thương mại; về hàng hóa
nhập khẩu liên quan đến hoạt động sản xuất; về hàng hóa nhập khẩu cho mục
đích giáo dục, khoa học hoặc văn hóa; về hành lý cá nhân của du khách và
hàng hóa nhập khẩu dùng cho hoạt động thể thao; về vật tư quảng bá du lịch;
về hàng hóa nhập khẩu qua biên giới; và về hàng hóa nhập khẩu được miễn
giảm một phần thuế nhập khẩu và thuế khác.
Công ước khắc phục tình trạng phân tán các văn kiện quốc tế về tạm
quản hàng hóa và tạo ra những quy định đồng bộ về vấn đề này qua việc sử
dụng các chứng từ tạm quản như các chứng từ hải quan quốc tế có sự đảm bảo
quốc tế nhằm gia tăng lợi ích trong giao lưu thương mại quốc tế và tạo ra sự
hài hòa và đơn giản hóa thủ tục hải quan ở cấp độ cao.
Mục đích của Công ước này là tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế
và hài hòa hóa thủ tục tạm quản để đạt được các mục tiêu về kinh tế, nhân
đạo, văn hóa, xã hội hoặc du lịch. Việc chấp nhận Công ước và trở thành bên
tham gia của Công ước chắc chắn sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cơ quan hải
quan làm cho các thủ tục đơn giản hơn và việc kiểm soát hoạt động tạm nhập
cũng linh hoạt hơn.
Công ước ATA trên thực tế chỉ quy định tạm nhập hai nhóm hàng
trước đó được điều chỉnh bởi:
- Công ước về tạm nhập thiết bị chuyên ngành (Brucxen 1961).
- Công ước về tạm nhập hàng hóa trưng bày hoặc sử dụng tại triển
lãm, hội chợ, hội nghị hoặc các sự kiện tương tự (Brucxen 1961).
Công ước ATA cho phép các bên tham gia sử dụng Sổ ATA để tạm
nhập hàng hóa được điều chỉnh bởi các Công ước khác, tuy nhiên đối với các
bộ chứng từ với nhiều màu sắc khác nhau: trang bìa và trang cuối màu xanh lá
cây, màu vàng dùng cho xuất khẩu và tái nhập, màu trắng dùng cho nhập
khẩu và tái xuất, màu xanh nước biển dùng cho quá cảnh. Danh mục hàng hóa
được ghi ở mặt sau của trang bìa (danh mục dùng chung của Sổ) và ở mặt sau
của mỗi biên lai (danh mục chung của biên lai) với các trang bổ sung cùng
màu sắc và cũng có các cuống chứng từ dành cho cán bộ hải quan. Các màu
sắc khác nhau sẽ giúp dễ dàng nhận ra chứng từ cần dùng, bởi vì hoạt động
nhập khẩu và tái nhập ở một nước xuất xứ sẽ trở thành hoạt động nhập khẩu
và tái nhập ở nước đích và ngược lại. Người giữ Sổ hoặc đại diện của mình sử
dụng các chứng từ để khai báo hàng hóa với hải quan, hai biên lai dùng cho
xuất cảnh và tái nhập ở nước xuất xứ và hai biên lai khác dùng cho nhập cảnh
và tái xuất hoặc quá cảnh ở một nước đến, các cuống chứng từ để hải quan
xác nhận sẽ được giữ trong Sổ. Sau khi sử dụng chứng từ sẽ được trả lại cho
tổ chức cấp phát.
Liên quan đến hoạt động quá cảnh hải quan, chuẩn mực 2 Chương I
Phụ lục Chuyên đề E của Công ước Kyoto sửa đổi (Công ước về đơn giản hóa
và hài hòa hóa thủ tục hải quan) yêu cầu hải quan cho phép hàng hóa được
vận chuyển theo chế độ quá cảnh hải quan trong lãnh thổ của họ. Theo các
yêu cầu đó việc sử dụng Sổ ATA sẽ tạo điều kiện cho hoạt động quá cảnh hải
quan như đã được quy định bởi Công ước Kyoto sửa đổi.
a. Gồm một trang bìa trước màu xanh lá cây: nó phải được giữ
nguyên. Trang một bao gồm số seri, hạn sử dụng, mục đích sử dụng, những
quốc gia được sử dụng, ngày cấp, con dấu, chữ ký của tổ chức được phép cấp
Sổ, chữ ký của một người có thẩm quyền trong cơ quan người sử dụng Sổ.
Mặt khác số seri của Sổ được in trên mỗi cuống Sổ và biên lai.
b. Gồm một biên lai xuất khẩu màu vàng trên đó có hai phần:
- Cuống tờ khai xuất khẩu: phần này phải được điền, khai đầy đủ, có
xác nhận kiểm tra, ghi ngày tháng, ký tên đóng dấu của cơ quan hải quan
quốc gia tại nơi xuất. Nó phải được người sở hữu nó giữ lại cùng với những
cuống Sổ tạm nhập - tái xuất nằm trong trang bìa màu xanh lá cây.
được tách ra và giữ bởi hải quan nước ngoài tại cửa khẩu nhập và cửa
khẩu xuất.
d. Một mẫu tờ khai tái nhập khẩu màu vàng được chia thành hai phần:
- Cuống tờ khai tái nhập khẩu: phần này phải được điền, khai đầy đủ,
có xác nhận kiểm tra chi tiết như trên, ghi ngày tháng, ký tên đóng dấu của cơ
quan hải quan quốc gia tại nơi tái nhập. Nó sẽ phải được người sở hữu Sổ lưu
giữ cùng với những cuống khác trong trang bìa màu xanh lá cây.
- Biên lai tái nhập khẩu: phần này phải được điền, khai đầy đủ, có xác
nhận kiểm tra, ghi ngày tháng, ký tên đóng dấu của cơ quan hải quan quốc gia
tại nơi tái nhập. Nó sẽ phải được tách ra và giữ lại bởi hải quan quốc gia tại
nơi tái nhập.
e. Trang bìa cuối màu xanh: phần này in một số điều nhắc nhở người
sử dụng Sổ ATA. Người giữ Sổ cần phải đọc những ghi chú về sử dụng Sổ
ATA in trên trang bìa này.
Sổ sẽ không có giá trị nếu thiếu tờ bìa cuối này.
Ghi chú:
- Mọi cuống Sổ và biên lai đều phải được điền đầy đủ, chính xác đúng
quy định, phải được kiểm tra xác nhận, được ghi ngày tháng, ký, đóng dấu
của cơ quan hải quan. Người sở hữu, người đại diện không được điền vào Sổ
trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Những cuống tờ khai phải được người giữ Sổ lưu
giữ trong trang bìa màu xanh lá cây.
- Tất cả những biên lai phải được tách ra và lưu giữ bởi cơ quan hải
quan như đã quy định nêu trên.
- Mẫu tờ khai hàng quá cảnh màu xanh lam phải được sử dụng bất cứ
khi nào hàng hóa theo Sổ ATA quá cảnh qua một quốc gia trước khi đến điểm
tạm nhập cuối cùng.
- Sổ ATA phải được nộp lại cơ quan cấp đầy đủ ngay khi sử dụng xong.
- Trên trang bìa màu xanh lá cây quy định những loại hàng hóa và
những quốc gia cho phép lưu hành Sổ tạm nhập - tái xuất.
- Sử dụng Sổ ATA riêng cho hoạt động quá cảnh: không sử dụng Sổ
doanh nghiệp quốc tế và có lợi cho cả cộng đồng thương mại quốc tế và các
cơ quan tham gia.
1.1.3. Những lợi ích khi tham gia Công ước ATA
1.1.3.1. Lợi ích đối với doanh nghiệp (người sở hữu Sổ)
Với Sổ ATA, ở phạm vi nội địa, khi làm thủ hải quan các doanh
nghiệp Việt Nam không cần phải qua các Bộ ngành liên quan nữa mà chỉ cần
qua “một cửa” một cách đơn giản nhất, thuận tiện, nhanh chóng nhất. Còn ở
phạm vi quốc tế, tất cả hải quan các nước tham gia hệ thống Sổ ATA đều sẽ
áp dụng hình thức chấp nhận Sổ ATA để nhanh chóng thông quan tự động
cho hàng hóa của doanh nghiệp bằng một quyển Sổ ATA, không cần thêm bất
kỳ giấy tờ nào khác.
- Giảm giấy tờ và sự vất vả: có Sổ ATA, người sử dụng không phải
hoàn thành các tờ khai và chứng từ hải quan tại điểm nhập/xuất;
- Tiết kiệm thời gian và tiền bạc: hệ thống cho phép các thương nhân,
nhà triển lãm, những chuyên gia, nhà làm phim, kỹ sư, người biểu diễn nghệ
thuật, nhà nhiếp ảnh,…được làm thủ tục lữ hành và thủ tục hải quan nhanh
chóng với chi phí tạm nhập được xác định trước. Hệ thống Sổ ATA giúp cơ
quan hải quan và người sử dụng giảm được chi phí và thời gian làm thủ tục
thông quan hàng hóa;
- Giảm rủi ro cho người giữ Sổ: trong trường hợp phải giới thiệu sản
phẩm cho những khách hàng tiềm năng tại nhiều quốc gia khác nhau mà
không cần phải mang theo nhiều ngoại tệ để đặt cọc cho hàng mẫu tạm nhập;
- Khi một thương nhân muốn tham gia hội chợ tại nhiều quốc gia
trong cùng hệ thống thì cũng chỉ cần sử dụng một quyển Sổ ATA.
1.1.3.2. Lợi ích đối với cơ quan hải quan
- Giảm bớt giấy tờ: Sổ ATA không cần tờ khai hải quan tại điểm nhập
và điểm xuất. Điều này giúp giảm giấy tờ cho cả cán bộ công chức hải quan
và người sử dụng Sổ;
- Giảm bớt khối lượng công việc: cán bộ, công chức hải quan không
còn phải giải quyết những trường hợp doanh nghiệp từ chối hoặc đòi giảm
Ngoài ra một điểm cần lưu ý nữa là:
- Tất cả hàng hóa tái xuất/tái nhập phải nguyên trạng như lúc ban đầu
nhập/xuất;
- Tất cả hàng rõ ràng để kiểm tra khi xuất/nhập và tái xuất/tái nhập;
- Để tránh tình trạng lạm dụng, số lượng hàng tạm nhập/tạm xuất cần
phải chăng về số lượng phù hợp với mục đích tạm xuất/tạm nhập (hải quan có
thể dùng hình thức riêng để đánh dấu niêm phong hay đóng dấu tại điểm
xuất/nhập). Hải quan có quyền hạn chế giá trị, số lượng của lô hàng dựa trên
số lượng người đi, mục đích của chuyến đi được ghi rõ trên tờ bìa màu xanh
của Sổ;
- Tất cả giá trị hàng hóa phải đúng với giá trị thương mại thực của
nước xuất hàng;
- Tất cả những người sử dụng Sổ phải tuân thủ theo luật và những quy
định của nước xuất phát, đến hoặc quá cảnh;
- Các nước thành viên giành quyền xác định thời hạn áp dụng đối với
hàng nhập/xuất/quá cảnh.
Thời hạn sử dụng của Sổ được quy định trong Công ước ATA. Đối
với hàng thiết bị chuyên dùng và hàng hội chợ triển lãm thời hạn là: 12 tháng
đối với hàng mẫu và 6 tháng đối với hàng thiết bị chuyên dùng và hàng hội
chợ triển lãm nhưng hải quan các nước tham gia có thể quy định thời gian cho
phép được tạm nhập tái xuất hay quá cảnh.
- Hải quan cũng có thể hạn chế phạm vi sử dụng của người giữ Sổ,
phải khai báo nơi mình sẽ đem hàng đến và cũng có thể sẽ phải kiểm tra ở nơi
đến (hải quan cũng có thể niêm phong hàng và giới hạn thời gian/địa điểm
trình diễn);
- Người mang Sổ phải có trách nhiệm tái xuất/tái nhập hàng theo đúng
thời hạn đã được phép do hải quan quy định. Nếu không thực hiện đúng sẽ bị
phạt mặc dù hàng đó cuối cùng cũng tái xuất/tái nhập;
- Cũng cần phải nói rõ rằng nếu hàng không tái xuất/tái nhập được vì
lý do bị hư hỏng, mất hoặc bị ăn cắp thì trách nhiệm sẽ thuộc về hải quan.
trong Sổ ATA được sử dụng theo điều kiện đề ra trong các Công ước không
lệ thuộc và việc nộp phí cho cơ quan hải quan trong giờ làm việc hay sau giờ
làm việc bình thường.
Việc chứng nhận tái xuất hàng hóa nhập khẩu theo Sổ ATA phải do
hải quan của nước mà hàng hóa được tạm nhập khẩu thực hiện và ghi vào Sổ
ATA. Nếu việc tái xuất hàng hóa không được chứng nhận phù hợp thì cơ
quan hải quan của nước nhập khẩu có thể chấp nhận chứng cứ tái xuất hàng
hóa ngay khi thời hạn giá trị của Sổ đã hết khi cơ quan hải quan của một bên
ký kết khẳng định yêu cầu tái xuất một số hàng hóa được chấp nhận đưa vào
lãnh thổ của mình theo Sổ ATA. Khi đó, tổ chức bảo lãnh sẽ phải thực hiện
nghĩa vụ của mình với điều kiện cơ quan hải quan đã chứng nhận trong Sổ
rằng các hàng hóa liên quan đã được hợp thức hóa. Khi hàng hóa nhập khẩu
tạm thời không thể được tái xuất vì bị giữ lại ngoại trừ trường hợp hành vi giữ
lại đó mang tính cá nhân thì yêu cầu tái xuất sẽ bị hoãn lại trong thời gian
hàng hóa bị giữ lại. Trong chừng mực có thể, cơ quan hải quan sẽ thông báo
cho tổ chức bảo lãnh việc giữ hàng hóa và thông báo cho tổ chức bảo lãnh về
biện pháp sẽ được tiến hành.
Ngoài ra tổ chức bảo lãnh còn có quyền:
- Tiến hành điều tra độc lập về nhân thân người xin cấp Sổ;
- Kiểm tra và giám định tất cả hàng hóa nằm trong Sổ;
- Yêu cầu cung cấp bất kỳ một giấy tờ cần thiết để xác minh rõ nguồn
gốc và giá trị của hàng hóa cũng như các khai báo khác;
- Đánh dấu vào tất cả hàng hóa;
- Từ chối cấp Sổ không cần phải giải thích lý do [14, tr. 200].
1.1.4.3. Ngôn ngữ sử dụng
Theo Công ước ATA mẫu Sổ phải được in bằng tiếng Anh hoặc tiếng
Pháp hoặc có thể in bằng tiếng thứ hai (tất nhiên nó cũng có thể được in bằng
ba thứ tiếng, nhưng một trong những thứ tiếng này phải là tiếng Anh hoặc
tiếng Pháp). Trên thực tế thì rất khó có thể in bằng ba thứ tiếng.
1.1.4.4. Trách nhiệm của người sử dụng Sổ