Công ước ATA và khả năng thực thi của ngành
Hải quan trong thời gian tới
Đỗ Mai Trang
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS. Bùi Xuân Nhự
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Giới thiệu về Công ước ATA và nội dung chủ yếu của Công ước. Phân tích
những lợi ích của Công ước đối với hải quan và cộng đồng doanh nghiệp. Nhận định,
đánh giá thực trạng thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất tại Việt Nam.
Đề xuất các giải pháp để ngành Hải quan thực thi có hiệu quả Công ước ATA.
Keywords: Pháp luật Việt Nam; Luật Quốc tế; Công ước quốc tế; Công ước ATA Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại hiện nay đang là vấn đề “thời
sự” nổi bật của kinh tế quốc tế. Đặc điểm này đã tạo ra sự liên kết, phụ thuộc ngày càng cao giữa
các quốc gia, vùng lãnh thổ và các khu vực. Thực tiễn và lý luận chứng tỏ rằng hội nhập kinh tế
quốc tế không phải chỉ là hành động của quốc gia mở cửa, sửa đổi chính sách, bổ sung pháp luật
để tạo điều kiện cho giao lưu, buôn bán, hợp tác quốc tế với các quốc gia khác hoặc cho phép tổ
chức, cá nhân hoạt động đầu tư, xuất nhập khẩu hàng hóa, ra nước ngoài du lịch, học tập,…mà
nó phải tiến hành trên cơ sở ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế.
Kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra càng
mạnh mẽ. Bên cạnh đó, quá trình hội nhập và tham gia vào nền kinh tế quốc tế cũng đưa ra những
của Nguyễn Văn Tới;
- “Tiếp tục cải cách hiện đại hóa hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế”, Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Túc, bảo vệ thành công năm 2007.
Ngoài ra còn có một số đề tài nghiên cứu cấp ngành Hải quan như:
- “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan
phù hợp với cam kết quốc tế mà Hải quan Việt Nam ký kết, tham gia” (mã số 02-N2003, do TS.
Vũ Ngọc Anh làm chủ nhiệm đã bảo vệ thành công năm 2003);
- “Hoàn thiện thể chế pháp luật về kiểm tra, giám sát hải quan phục vụ yêu cầu cải cách, hiện đại
hóa ngành Hải quan đến năm 2010” (mã số 04-N2004, do TS. Vũ Ngọc Anh làm chủ nhiệm đã bảo
vệ thành công năm 2007).
Tuy nhiên, những công trình nêu trên mới chỉ nghiên cứu những vấn đề liên quan đến cải
cách và hiện đại hóa thủ tục hải quan của Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về thủ
tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất khi sử dụng hệ thống Sổ ATA và những lợi ích của
hệ thống này đem lại cho hải quan và cho người sử dụng. Có thể nói, đây là luận văn thạc sĩ luật
học, chuyên ngành Quốc tế đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này.
Đây cũng chính là một trong những trở ngại về nguồn tài liệu tham khảo đối với người viết
luận văn bên cạnh một số trở ngại khác về mặt thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tác giả sẽ tập trung nghiên cứu, làm rõ một số nội dung về Công ước ATA, về khả năng
thực thi của Hải quan Việt Nam trong thời gian tới; những bất cập trong các quy định về thủ tục
hải quan đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất của Việt Nam đồng thời đề xuất một số giải pháp
khắc phục để ngành Hải quan thực hiện tốt những lợi ích mà Công ước ATA đem lại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích đó, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Giới thiệu về Công ước ATA và nội dung chủ yếu của Công ước;
- Phân tích những lợi ích của Công ước đối với hải quan và cộng đồng doanh nghiệp;
- Nhận định, đánh giá thực trạng thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất tại
Việt Nam;
- Đề xuất các giải pháp để ngành Hải quan thực thi có hiệu quả Công ước ATA.
và thực tiễn của pháp luật Hải quan, góp phần hoàn thiện những nội dung cơ bản nhất của pháp
luật về thủ tục hải quan đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia
thành 3 chương:
Chương 1: Công ước ATA và pháp luật về thủ tục hải quan tại Việt Nam.
Chương 2: Thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất tại Việt Nam theo Công ước
ATA.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục hải quan nhằm thực thi có hiệu quả
Công ước ATA của ngành Hải quan.
Chương 1
CÔNG ƯỚC ATA VÀ PHÁP LUẬT
VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN TẠI VIỆT NAM
1.1. Khái quát chung về Công ước ATA
1.1.1. Sự ra đời của Công ước ATA
Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế đã làm cho các hình thức giao dịch thương
mại quốc tế ngày càng đa dạng. Trong đó, một trong những hình thức giao dịch tương đối phổ
biến là tạm nhập khẩu - tái xuất khẩu hoặc tạm xuất khẩu - tái nhập khẩu hàng hóa giữa một hoặc
nhiều quốc gia. Để đáp ứng các yêu cầu quản lý mới, từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX Hội
đồng hợp tác hải quan (nay là Tổ chức Hải quan thế giới WCO) cùng với sự hợp tác của Liên
hợp quốc, các thành viên tham gia Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại GATT, tổ chức
Khoa học Giáo dục của Liên hợp quốc UNESCO đã nghiên cứu và thông qua Công ước quốc tế
của WCO về Sổ tạm quản ATA (Công ước ATA) năm 1961. Công ước ATA có hiệu lực từ
30/7/1963 gồm 6 chương và 28 điều.
Công ước ATA gồm phần thân Công ước và 13 Phụ lục về các chuyên đề liên quan đến tạm
quản như về chứng từ tạm quản (Sổ ATA); về hàng hóa dùng để trưng bày hoặc sử dụng tại triển
lãm, hội chợ, hội nghị hay các sự kiện tương tự; về thiết bị nghề nghiệp; về bao bì, giá kê, gói,
mẫu hàng và các hàng hóa nhập khẩu khác liên quan đến hoạt động thương mại; về hàng hóa
nhập khẩu liên quan đến hoạt động sản xuất; về hàng hóa nhập khẩu cho mục đích giáo dục,
khoa học hoặc văn hóa; về hành lý cá nhân của du khách và hàng hóa nhập khẩu dùng cho hoạt
1.1.2.3. Những loại hàng hóa hệ thống điều chỉnh
Công ước quy định những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh tạm nhập/tái xuất cho 3 nhóm hàng
hóa chính: Hàng triển lãm; Hàng mẫu thương mại; Thiết bị chuyên ngành.
1.1.2.4. Phòng thương mại quốc tế (ICC)
Phòng thương mại quốc tế (ICC): là phòng thương mại đầu tiên của thế giới, có trụ sở ở Pari,
được thành lập năm 1919, có hội viên tại 140 quốc gia (như: Ấn Độ, Phillipin, Thái Lan, Trung
Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Singapo, EU,…)
1.1.2.5. Những quốc gia đang tham gia hệ thống Sổ ATA
Hệ thống Sổ ATA đã được chấp nhận và thẩm định bởi Hệ thống bảo lãnh hải quan quốc tế
và đang có hiệu lực tại 55 quốc gia trong đó gồm có cả những quốc gia thương mại quốc tế lớn
và xuất khẩu vốn như: Trung Quốc, Ấn Độ, EU, Nam Triều Tiên, Srilanca, Thái Lan, Mỹ,
Malayxia,…
1.1.3. Những lợi ích khi tham gia Công ước ATA
1.1.3.1. Lợi ích đối với doanh nghiệp (người sở hữu Sổ)
- Giảm giấy tờ và sự vất vả: có Sổ ATA, người sử dụng không phải hoàn thành các tờ khai
và chứng từ hải quan tại điểm nhập/xuất;
- Tiết kiệm thời gian và tiền bạc: hệ thống cho phép các thương nhân, nhà triển lãm, những
chuyên gia, nhà làm phim, kỹ sư, người biểu diễn nghệ thuật, nhà nhiếp ảnh,…được làm thủ tục lữ
hành và thủ tục hải quan nhanh chóng với chi phí tạm nhập được xác định trước. Hệ thống Sổ ATA
giúp cơ quan hải quan và người sử dụng giảm được chi phí và thời gian làm thủ tục thông quan hàng
hóa;
- Giảm rủi ro cho người giữ Sổ: trong trường hợp phải giới thiệu sản phẩm cho những khách
hàng tiềm năng tại nhiều quốc gia khác nhau mà không cần phải mang theo nhiều ngoại tệ để đặt
cọc cho hàng mẫu tạm nhập;
- Khi một thương nhân muốn tham gia hội chợ tại nhiều quốc gia trong cùng hệ thống thì
cũng chỉ cần sử dụng một quyển Sổ ATA.
1.1.3.2. Lợi ích đối với cơ quan hải quan
- Giảm bớt giấy tờ: Sổ ATA không cần tờ khai hải quan tại điểm nhập và điểm xuất. Điều
này giúp giảm giấy tờ cho cả cán bộ công chức hải quan và người sử dụng Sổ;
- Giảm bớt khối lượng công việc: cán bộ, công chức hải quan không còn phải giải quyết
trả số tiền bảo lãnh đối với những hàng hóa đó. Tuy vậy, cơ quan hải quan vẫn có thể yêu cầu
phải thanh toán nếu sau đó phát hiện Sổ không được sử dụng đúng mục đích hoặc có những gian
dối, vi phạm các điều kiện chấp nhận tạm thời hoặc quá cảnh.
1.1.4.3. Ngôn ngữ sử dụng
Theo Công ước ATA mẫu Sổ phải được in bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp hoặc có thể in
bằng tiếng thứ hai (tất nhiên nó cũng có thể được in bằng ba thứ tiếng, nhưng một trong những
thứ tiếng này phải là tiếng Anh hoặc tiếng Pháp). Trên thực tế thì rất khó có thể in bằng ba thứ
tiếng.
1.1.4.4. Trách nhiệm của người sử dụng Sổ
Tất cả những người sử dụng Sổ phải ký cam kết như sau:
- Thực hiện đúng các điều kiện điều chỉnh của việc sử dụng đúng hệ thống Sổ;
- Tái xuất/tái nhập trong thời hạn cơ quan hải quan quy định (tuân theo thời hạn cho phép
ngắn nhất);
- Đảm bảo là tất cả cuống hóa đơn được điền đúng, hợp lý, chứng thực, ký, đề ngày tháng và
đóng dấu;
- Thông báo cho Hiệp hội bảo lãnh những khó khăn;
- Chuyển trả cho Hiệp hội bảo lãnh tất cả những khoản tiền đã trả và tất cả các chi phí phát
sinh do không tuân thủ các điều kiện quy định việc xuất khẩu và nhập khẩu tạm thời;
- Chịu trách nhiệm hoàn toàn những tranh chấp khiếu nại chống lại chính họ hoặc chống lại
cơ quan hải quan hoặc bất kỳ người nào khác, hoặc thương lượng liên quan đến tranh chấp;
- Cung cấp cho Hiệp hội bảo lãnh tất cả những chứng từ liên quan trong thời gian tranh chấp
theo yêu cầu của cơ quan hải quan
1.1.4.5. Trách nhiệm của các bên tham gia Công ước ATA
Các bên tham gia thực hiện hệ thống Sổ ATA có trách nhiệm thực hiện thống nhất hoạt động
và hợp tác trong khuôn khổ thực hiện các quy định của hệ thống tạm quản. Bất cứ sự tranh chấp
nào giữa các bên ký kết liên quan đến giải thích và áp dụng các quy định của các Công ước trong
hệ thống này sẽ được giải quyết thông qua đàm phán giữa các bên. Nếu không giải quyết được
các cuộc tranh chấp đó bằng đàm phán giữa các bên ký kết có tranh chấp thì sẽ đưa ra thảo luận
tại cuộc họp của cơ quan quản lý hệ thống là Phòng thương mại quốc tế ICC.
1.1.4.6. Các bước tiến hành để xin cấp Sổ
kiểm tra, giám sát, quản lý Nhà nước đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương
tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, thu thuế và các khoản thu khác….) nhằm bảo vệ an
ninh và chủ quyền kinh tế đất nước, tạo điều kiện cho hoạt động giao lưu thương mại và hội nhập
quốc tế.
Pháp luật về thủ tục hải quan có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về thủ tục hải quan điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá
trình thực hiện thủ tục hải quan.
Thứ hai, pháp luật về thủ tục hải quan mang tính quyền lực - phục tùng.
Thứ ba, pháp luật về thủ tục hải quan bước đầu thể hiện yếu tố “phục vụ”.
Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thủ tục hải quan bao gồm các nhóm quy định chính như
quy định về khai hải quan; quy định về kiểm tra và giám sát Hải quan; quy định về xác định trị
giá hải quan, tổ chức thu thuế và các khoản thu khác; quy định về kiểm tra sau thông quan.
Chương 2
THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TẠM NHẬP TÁI XUẤT TẠI VIỆT NAM
THEO CÔNG ƯỚC ATA
2.1. Các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm
nhập - tái xuất
2.1.1. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về thủ tục đối với hàng hóa tạm
nhập - tái xuất
a) Nghị định 12/2005/NĐ-CP ngày 23/01/2005 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại
về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh
hàng hóa với nước ngoài.
b) Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 quy định chi tiết một số điều của Luật Hải
quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan.
c) Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 quy định về việc hướng dẫn thủ tục hải
quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
2.1.2. Các loại hình hàng hóa tạm nhập - tái xuất
Theo quy định tại Điều 29 Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 12/2006/NĐ-CP quy
khẩu, nhập khẩu thương mại quy định tại Quyết định số 1171/QĐ-TCHQ ngày 16/5/2009 của
Tổng cục Hải quan.
2.1.4. Một số chính sách quản lý cụ thể đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập - tái xuất
2.1.4.1. Hàng hóa kinh doanh tạm nhập - tái xuất
a) Nguyên tắc quản lý:
- Hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu thuộc Danh mục cấm nhập
khẩu, tạm ngừng nhập khẩu và thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo Giấy phép
của Bộ Công thương hoặc các Bộ quản lý chuyên ngành (hàng hóa thuộc Phụ lục số 01, 02, 03
Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ) khi tạm nhập - tái xuất phải có
Giấy phép của Bộ Công thương. Đối với hàng hóa khác hàng hóa nêu trên thì thương nhân chỉ
cần làm thủ tục tạm nhập - tái xuất tại hải quan cửa khẩu không cần có giấy phép của Bộ Công
thương;
- Hàng hóa tạm nhập - tái xuất được lưu tại Việt Nam không quá 120 ngày, kể từ ngày hoàn
thành thủ tục hải quan tạm nhập. Trường hợp cần kéo dài thời hạn, thương nhân có văn bản gửi
Cục hải quan tỉnh, thành phố nơi làm thủ tục đề nghị gia hạn; thời hạn gia hạn mỗi lần không quá
30 ngày và không quá hai lần gia hạn cho mỗi lô hàng tạm nhập - tái xuất.
Sau khi nhận được văn bản đề nghị gia hạn thời hạn lưu tại Việt Nam cho lô hàng tạm nhập - tái
xuất của thương nhân, lãnh đạo Chi cục hải quan cửa khẩu nơi làm thủ tục tạm nhập hàng hóa xem
xét, chấp nhận thời hạn gia hạn theo quy định, ký, đóng dấu Chi cục trên văn bản đề nghị của thương
nhân và trả lại thương nhân để làm thủ tục tái xuất hàng hóa; lưu hồ sơ hải quan 01 bản sao.
Trường hợp hàng hóa tạm nhập - tái xuất có giấy phép của Bộ Công thương, thời hạn ghi
trong giấy phép là thời hạn để thương nhân làm thủ tục hải quan cho lô hàng tạm nhập vào Việt
Nam.
b) Thủ tục hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập - tái xuất
Thủ tục hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập - tái xuất được quy định tại Điều 37
Thông tư số 194/2010/TT-BTC.
2.1.4.2. Các loại hình hàng hóa tạm nhập - tái xuất khác
a) Hàng hóa là linh kiện, phụ tùng tạm nhập (có hoặc không có hợp đồng) để phục vụ thay
thế, sửa chữa tàu biển, tàu bay nước ngoài
b) Hàng hóa tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản
Tại cảng Hải Phòng hiện có hơn 1.000 container ứ đọng, khiến cảng phải bố trí cả những bãi
chứa không chuyên dụng để xếp hàng, nhiều container hàng đông lạnh đã phải xếp tràn ra gần
đường giao thông. Nguyên nhân là bởi hiện nay số container lưu bãi nằm trong cảng quá lâu do
chủ hàng chậm rút hàng ra khỏi cảng, trong khi đó lượng container về ngày một nhiều làm cho
cảng lâm vào tình trạng quá tải về bãi và thiếu điện năng phục vụ cho bảo quản hàng hóa đông
lạnh.
Còn tại Quảng Ninh, cụ thể là khu vực cửa khẩu Móng Cái vẫn tồn tới 1.159 container hàng
hóa tạm nhập - tái xuất, trong đó có khoảng 700 container hàng hóa đông lạnh đang nằm chờ và
chưa được xuất đi. Chính vì thế, chủ hàng phải để hàng tại các cảng thêm thời gian dài nữa.
Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh tình hình cũng không khả quan hơn, còn tồn 2.068 container
hàng hóa và 50 xe ô tô các loại trong đó có một lượng lớn là hàng xuất khẩu không đạt chất lượng bị
trả về mà doanh nghiệp chưa đến nhận.
Cơ chế quản lý loại hình tạm nhập - tái xuất hàng hóa gặp nhiều bất cập do loại hình dịch vụ
này tạo ra hàng loạt kẽ hở cho các vụ buôn lậu hàng cấm, động vật hoang dã, thực phẩm bẩn, phế
liệu ô nhiễm gây tác động rất xấu đến môi trường và thị trường nội địa.
Các vụ việc vi phạm trên phần lớn được xử lý vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp
khắc phục hậu quả là buộc tái xuất ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Từ đó, doanh nghiệp lợi dụng kẽ
hở của pháp luật để tiếp tục nhập khẩu mặt hàng cấm, ảnh hưởng đến môi trường, hàng hóa
không rõ nguồn gốc, xuất xứ, kém chất lượng không đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng
2.2.2. Còn nhiều sơ hở trong quản lý
Một thực tế cho thấy việc cấp phép cho hàng hóa tạm nhập - tái xuất đang ngày càng có xu
hướng tăng, đặc biệt là các mặt hàng đông lạnh, hàng đã qua sử dụng, phế liệu, hàng hạn chế nhập
khẩu, chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (rượu, thuốc lá, xăng dầu,…) kéo theo công tác quản lý ngày một
khó khăn, phức tạp.
Theo Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh thì 80% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa
khẩu tại Quảng Ninh là hàng hóa tạm nhập - tái xuất (năm 2006 chỉ có 8.231 tờ khai hàng hóa
tạm nhập - tái xuất thì đến hết tháng 11 năm 2011 đã có tới 28.621 tờ khai). Lượng hàng hóa tạm
nhập - tái xuất tăng nhanh như vậy đã kéo theo nhiều bất cập trong công tác quản lý. Nguy cơ
thẩm lậu vào nội địa đối với các mặt hàng kinh doanh có điều kiện như đồ điện tử, xe đạp cũ,
nước ngọt,…lợi dụng kinh doanh tạm nhập - tái xuất để vận chuyển hàng cấm như ma túy, ngà
Bảng 2.2. Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai tại Cục Hải quan tỉnh Quảng
Ninh từ năm 2007 đến năm 2011
Bảng 2.3. Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai tại Cục Hải quan Hải Phòng
từ năm 2007 đến năm 2011
Bảng 2.4. Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai tại Cục Hải quan tỉnh Lạng
Sơn từ năm 2007 đến năm 2011
Chương 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN NHẰM THỰC THI
CÓ HIỆU QUẢ CÔNG ƯỚC ATA
CỦA NGÀNH HẢI QUAN
3.1. Định hướng phát triển ngành Hải quan đến năm 2020
Chiến lược phát triển Hải quan Việt Nam đến năm 2020 quán triệt các quan điểm sau:
- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; tuân thủ các quy định của
pháp luật, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và chương trình cải
cách nền hành chính; thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại đồng thời tăng cường quản lý nhà nước về hải
quan theo quy định của pháp luật.
- Lấy cải cách, hiện đại hóa làm cơ sở, tập trung đầu tư để hiện đại hóa hải quan tại các vùng,
địa bàn trọng điểm, đồng thời có tính đến sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng, địa bàn
đảm bảo sự phát triển, hiện đại hóa chung của Hải quan Việt Nam. Kết hợp phát huy nội lực là
chính với tranh thủ sự hỗ trợ bên ngoài để phát triển nhanh, bền vững.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của các Bộ, ngành, địa phương mà
trong đó ngành Hải quan là nòng cốt và trên cơ sở giám sát, thực hiện của cộng đồng doanh
nghiệp và nhân dân.
3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động hải quan theo yêu cầu
của đất nước và hướng tới đạt các chuẩn mực của quốc tế. Đẩy nhanh tiến độ nội luật hóa các
điều ước, công ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực hải quan nhằm thỏa mãn và đáp ứng yêu cầu
của WTO, của tiến trình hội nhập và của các cam kết mà Việt Nam đã gia nhập.
dùng nhập khẩu và chỉ hoàn thuế khi hàng hóa tái xuất tại Việt Nam trong thời hạn quy định
(hoặc doanh nghiệp phải có bảo lãnh).
- Nhóm giải pháp về công tác giám sát quản lý của cơ quan hải quan:
+ Tăng cường công tác giám sát hàng hóa tạm nhập - tái xuất qua biên giới;
+ Cá thể hóa trách nhiệm trong việc phối hợp trao đổi thông tin giữa các đơn vị trong và
ngoài ngành Hải quan;
+ Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập -
tái xuất chuyển tiêu thụ nội địa bằng cách nghiên cứu xây dựng đề án giám sát bằng seal định vị
đối với loại hình hàng hóa vận chuyển bằng container;
+ Tăng cường công tác thanh khoản hàng hóa tạm nhập tái xuất;
+ Tăng cường giáo dục trách nhiệm và liêm chính hải quan tới từng công chức hải quan thừa
hành.
3.3.2. Giải pháp lâu dài
Thứ nhất, hoàn thiện các quy định pháp luật về doanh nghiệp, về hải quan, về thuế để tạo ra
hành lang pháp lý chặt chẽ nhưng minh bạch và phù hợp với thực tiễn. Thứ hai, cần nâng cao hiệu
quả công tác kiểm tra sau thông quan. Thứ ba, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin chung về doanh
nghiệp theo hướng xây dựng chính phủ điện tử. Thứ tư, cần tăng cường đầu tư máy móc, thiết bị hiện
đại phục vụ công tác quản lý hải quan. Thứ năm, cần đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế về hải
quan và nâng cao hiệu quả hoạt động của tình báo hải quan. Thứ sáu, quản lý có hiệu quả các
trang thiết bị kỹ thuật, máy móc kiểm tra hàng hóa, kiểm soát hải quan hiện đại tại các cửa khẩu,
cảng.
3.4. Giải pháp về ứng dụng công nghệ quản lý hiện đại
- Thực hiện tự động hóa quy trình thủ tục hải quan: Tin học hóa thủ tục hải quan đối với
hàng hóa nhập khẩu; tin học hóa thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu; tin học hóa công
tác phân loại đối tượng kiểm tra hải quan; tin học hóa công tác xử lý dữ liệu tờ khai hải quan; tin
học hóa công tác quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu;
- Xây dựng phần mềm trung tâm tự động hóa xử lý dữ liệu hải quan: Đối với việc xây dựng
phần mềm trung tâm tự động hóa xử lý dữ liệu hải quan được trang bị hệ thống máy móc thiết bị
(máy tính và các thiết bị phụ trợ) có khả năng tiếp nhận và xử lý các giao dịch điện tử phát sinh
trong quá trình thông quan hàng hóa; hoạt động ổn định, liên tục 24/24 giờ, có cơ chế dự phòng sự
bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan có đối chiếu với các văn bản quy phạm pháp
luật liên quan. Thứ tư, tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền, tập huấn pháp luật trong quản
lý nhà nước về hải quan cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
KẾT LUẬN
Quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực hải quan thực chất là quá trình hội nhập
về mặt kỹ thuật nghiệp vụ hải quan để từng bước đem hệ thống quy trình thủ tục, chế độ quản lý,
hệ thống pháp lý tiến kịp và hài hòa với hệ thống quản lý hải quan hiện đại của các nước trên cơ
sở các chuẩn mực quốc tế về hải quan, phục vụ cho hoạt động giao lưu thương mại, đầu tư, du
lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ và đa dạng.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ của cả nước trong suốt thời kỳ thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, cùng với các Bộ ngành, ngành Hải quan đã có những
bước tiếp cận, nắm bắt và từng bước làm chủ từng phần, toàn bộ các nội dung quản lý hải quan
từ đơn giản đến phức tạp, từ thô sơ đến hiện đại. Thực tiễn tiếp cận của Hải quan Việt Nam trong
suốt quá trình cải cách mở cửa đã cho thấy rõ điều này.
Về hợp tác hội nhập quốc tế, chiến lược phát triển ngành Hải quan đã nêu rõ: đẩy mạnh hợp tác
song phương và đa phương nhằm chia sẻ kinh nghiệm về cải cách, hiện đại hóa, phương pháp, kỹ
thuật quản lý hải quan hiện đại hóa; thực hiện các sáng kiến khu vực, đặc biệt trong lĩnh vực hiện đại
hóa thủ tục, áp dụng các kỹ thuật hải quan mới đồng thời góp phần nâng cao vị thế, uy tín và quyền
lợi của Hải quan Việt Nam trên trường quốc tế. Tìm kiếm, vận động các dự án hỗ trợ kỹ thuật, viện
trợ của các tổ chức quốc tế và các nước phục vụ cho quá trình cải cách, phát triển và hiện đại hóa
hải quan.
Ngoài ra, để hội nhập với cộng đồng quốc tế và tạo thuận lợi cho quản lý hải quan cũng như hoạt
động của các doanh nghiệp xuất khẩu nhập khẩu, việc tham gia và xây dựng hạ tầng cần thiết thực
hiện hệ thống ATA là một trong những điều kiện không thể thiếu được đối với các quốc gia, nhất là
các quốc gia đang phát triển và đang trong quá trình hội nhập. Việc nghiên cứu các quy định của
Công ước ATA là rất cần thiết cho phép cơ quan hải quan các nước có thể tận dụng tốt ưu điểm và
tránh được rủi ro khi thực hiện Công ước ATA phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế của quốc gia.
Việc triển khai hệ thống ATA giúp cho cơ quan hải quan các nước tiến gần hơn tới chuẩn mực quốc
tế, cho phép thực hiện tốt hơn nhiệm vụ truyền thống là kiểm tra, giám sát biên giới quốc gia. Với số
của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Hà Nội.
10. Chính phủ (2011), Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/3 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020, Hà Nội.
11. Học viện Hành chính Quốc gia (2007), Giáo trình thủ tục hành chính, Nxb Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội.
12. Ngân hàng Thế giới (2007), Sổ tay hiện đại hóa hải quan, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
13. Ngân hàng Thế giới (2008), Cải cách thủ tục xuất nhập khẩu hướng dẫn cho đối tượng thực
thi, (Tài liệu lưu hành nội bộ của Tổng cục Hải quan).
14. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2005), Sổ Tạm quản và những điều cần biết, Hà
Nội.
15. Quốc hội (2001), Luật Hải quan, Hà Nội.
16. Quốc hội (2005), Luật Hải quan (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
17. Quốc hội (2005), Luật Thương mại, Hà Nội.
18. Quốc hội (2005), Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Hà Nội.
19. Quốc hội (2008), Luật Thuế giá trị gia tăng, Hà Nội.
20. Quốc hội (2008), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Hà Nội.
21. Quốc hội (2010), Luật Thuế bảo vệ môi trường, Hà Nội.
22. Nguyễn Toàn (2006), Xây dựng hệ thống thuật ngữ hải quan thông dụng trong bối cảnh hiện
đại hóa hoạt động hải quan, Đề tài nghiên cứu khoa học, Tổng cục Hải quan, Hà Nội.
23. Tổng cục Hải quan (2004), Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2010, Đề tài khoa học
cấp Bộ, mã số 01-N2004, Chủ nhiệm đề tài: Trương Chí Trung, Hà Nội.
24. Tổng cục Hải quan (2005), Báo cáo cuối cùng Gói thầu khuôn khổ pháp lý thuộc Dự án hiện đại
hóa Hải quan, (Tài liệu lưu hành nội bộ), Hà Nội.
25. Tổng cục Hải quan (2005), Báo cáo cuối cùng Gói thầu khuôn khổ pháp lý thuộc Dự án hiện đại
hóa Hải quan, (Tài liệu lưu hành nội bộ), Hà Nội.
26. Tổng cục Hải quan (2007), Xây dựng Chiến lược phát triển ngành Hải quan đến năm 2012,
tầm nhìn 2020, Đề tài nghiên cứu khoa học, mã số 01-N2007, Hà Nội.
27. Tổng cục Hải quan (2009), Quyết định số 1171/QĐ-TCHQ ngày 16/5 ban hành quy trình
đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại, Hà Nội.
28. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp,