Phát triển nuôi cá tra trên địa bàn tại tỉnh Trà Vinh: LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ - Pdf 22

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ TÚ MẪN
PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ TRA
TRÊN ĐỊA BÀN TẠI TỈNH TRÀ VINH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Bùi Quang Bình
Trà Vinh – Năm 2013
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi cá tra là một trong những nghề chủ lực của thủy sản Việt Nam, góp
phần vào sự tăng trưởng của xuất khẩu thủy sản nói riêng và nền kinh tế đất
nước nói chung. Cá tra được nuôi tập trung ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL). Do vùng ĐBSCL có điều kiện tự nhiên thuận lợi với hệ thống
sông ngòi chằng chịt với hai dòng sông Tiền và sông Hậu chảy qua với chiều
dài khoảng 220 km, kết hợp với kỹ thuật nuôi cá tra không quá khó nên nuôi
cá tra phát triển khá mạnh. Năm 2003 diện tích nuôi cá tra của ĐBSCL là
2,792 ha, phát triển đến cuối năm 2012 lên khoảng 5.400 ha.
Cá tra đông lạnh là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của sản
phẩm thủy sản được nhiều thị trường trên thế giới ưa chuộng. Thị trường xuất
khẩu không ngừng được mở rộng. Hiện nay, cá tra xuất khẩu trên 163 nước
và chiếm khoảng 95% thị phần cá da trơn fillet trên thế giới, sản lượng
khoảng 1.5 triệu tấn mỗi năm.
Trà Vinh là một tỉnh thuộc khu vực ven biển đựơc thiên nhiên ưu đãi về
tiềm năng phát triển kinh tế thuỷ sản, diện tích đất có khả năng phát triển nuôi
cá trên 3.000 ha dọc theo 2 tuyến sông Tiền và sông Hậu. Cùng với ngành

Phạm vi: Chỉ tập trung trên đối tượng nuôi cá tra và trên địa bàn tỉnh
Trà Vinh trong thời gian từ năm 2007 - 2012
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp mô tả phân tích thống kê, chi tiết hóa, so sánh, đánh giá, tổng
hợp, khái quát, chuyên gia…theo nhiều cách từ riêng rẽ tới kết hợp với nhau.
4
Chúng được sử dụng trong việc khảo cứu, phân tích, đánh giá so sánh các
nghiên cứu lý luận và thực tiễn phát triển nuôi cá tra.
Các phương pháp trên còn được dùng trong đánh giá tình hình phát triển
NTTS cũng như thực thi chính sách phát triển và chỉ ra các vấn đề tồn tại
cùng với các nguyên nhân từ đó hình thành các giải pháp phát triển nuôi cá tra
của địa phương.
Các phương pháp thu thập tài liệu, thông tin sau được sử dụng trong
nghiên cứu:
- Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó;
- Tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo, tổng kết của các Sở
Ban, Ngành trong tỉnh và huyện.
- Tìm thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Báo chí,
Internet
- Kết hợp các phương pháp thu thập số liệu để có dữ liệu nghiên cứu và
phân tích đầy đủ.
Nguồn thông tin dữ liệu, công cụ phân tích chính:
- Thứ cấp: Chủ yếu sử dụng số liệu của Niên giám thống kê tỉnh Trà
Vinh từ 2007, tổng điều tra nông nghiệp nông thôn năm 2006 và năm 2010,
các văn bản của UBND tỉnh Trà Vinh, báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, Chi cục Phát triển nguồn lợi thủy sản, Trung tâm
Khuyến ngư Trà Vinh, Hiệp hội thủy sản tỉnh Trà Vinh
- Sơ cấp: Ý kiến của chuyên gia và phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi.
- Công cụ chính: Sử dụng chương trình xử lý số liệu bằng Excel.

thứ ba, giai đoạn phát triển, năng suất thủy sản tăng lên chủ yếu nhờ vào các
6
thành tựu của khoa học và kỹ thuật mà cụ thể là máy móc, thiết bị hiện đại và
công nghệ.
Hội thảo quốc tế về “Kế hoạch hành động cho phát triển bền vững và mở
rộng mô hình hợp tác xã thủy sản” (“International Seminar on Action Plan for
Sustainable Development and Expansion of Aquaculture Cooperatives”) diễn
ra vào ngày 26-27/6/2009 tại Hà Nội, Việt Nam đã trình bày các kết quả
nghiên cứu cũng như kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển và mở
rộng mô hình hợp tác xã NTTS (kinh nghiệm của Tây Ban Nha, kinh nghiệm
một số tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam trong việc hỗ trợ phát triển mô
hình hợp tác xã NTTS, kinh nghiệm của chính phủ Việt Nam liên quan đến
việc mở rộng mô hình hợp tác xã NTTS). Tuy nhiên các báo cáo khoa học
trong hội nghị này chưa đề cập một cách toàn diện đến việc xây dựng, hoạt
động, củng cố, phát triển nghề nuôi trồng thủy sản.
- Nghiên cứu trong nước
Phạm Vân Định - Đỗ Kim Chung trong giáo trình Kinh tế nông nghiệp,
(NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1997) và Nguyễn Thế Nhã, giáo trình Kinh tế
nông nghiệp, (NXB Thống kê, 2002) đã trình bày tổng quan bức tranh phát
triển nông nghiệp. Những nội dung trong hai giáo trình này sẽ giúp xây dựng
nên khung lý luận làm cơ sở để nghiên cứu về phát triển nuôi trồng thủy sản.
PGS.TS Đặng Phi Hổ trong Giáo trình Kinh tế Nông nghiệp (NXB
Thống kê, 2003) đã nhấn mạnh tới nội dung khai thác các nguồn lực để phát
triển nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng, trong đó lưu ý về việc vận
dụng các chính sách khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm điều kiện cụ thể của
từng ngành.
“Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội ngành Thủy sản Việt Nam
đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” đã được chính phủ phê duyệt sẽ là
tài liệu quan trọng đã định hướng và định hình phân bố không gian phát triển
7

nghèo và nhận thức về phát triển bền vững còn hạn chế. Hội thảo cũng đã đề
xuất một bộ chỉ số xác định bền vững của ngành Thủy sản Việt Nam bao gồm
bộ chỉ số đánh giá chung cho toàn ngành, bộ chỉ số đánh giá ngành khai thác
thủy sản và bộ chỉ số đánh giá ngành NTTS
Nhìn chung, các tài liệu học thuật, dự án, đề án nêu trên có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn rất lớn, đã đưa ra cơ sở lý luận cũng như nghiên cứu thực
tiễn để phân tích toàn diện bức tranh ngành thủy sản Việt Nam cũng như đề
xuất các định hướng phát triển, các quy hoạch về phân bổ lực lượng sản xuất
thủy sản, và nhiều giải pháp thực hiện. Tuy nhiên việc nghiên cứu chuyên sâu
hướng đến giải quyết mục tiêu duy trì, ổn định và phát triển lâu dài nuôi cá tra
sao cho mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao cho từng địa phương, tạo ra sản
phẩm vật chất, tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm góp phần xóa đói giảm
nghèo là một vấn đề chưa được tập trung nghiên cứu đầy đủ và cần tiếp tục
được nghiên cứu.
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ TRA
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NUÔI CÁ TRA
1.1.1. Khái niệm nuôi cá tra
Nuôi cá tra là một bộ phận của ngành nuôi trồng thuỷ sản. Nuôi cá tra ra
đời cũng bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống khi mà sản lượng khai thác cá
tra tự nhiên ngày càng có nguy cơ cạn kiệt. Nước ta có một tiềm năng to lớn
để phát triển hoạt động nuôi cá tra. Nuôi cá tra là một bộ phận sản xuất có
tính nông nhiệp nhằm duy trì, bổ sung, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ
sản. Nuôi cá tra nhằm mục đích cung cấp sản phẩm cho tiêu dùng của dân cư
và cung cấp nguyên liệu cho hoạt đông chế biến thuỷ sản xuất khẩu.
1.1.2. Vai trò của nuôi nuôi cá tra
a. Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cung cấp các sản phẩm thiết yếu
cho nhu cầu của con người đó là lương thực, thực phẩm, đó là loại sản phẩm

doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp trách nhiệm
hữu hạn và quan trọng hơn cả là sự tham gia của các hộ gia đình nông thôn,
thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư nhân. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển cũng kéo
theo sự phát triển của các ngành dịch vụ và công nghiệp như các cơ sở sản
xuất thức ăn, các công ty chế biến thuỷ sản.
11
d. Giải quyết việc làm và tăng thu nhập
Ngành thuỷ sản với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra hàng loạt việc
làm và thu hút một lực lượng đông đảo tham gia vào tất cả các công đoạn sản
xuất, làm giảm sức ép nạn thiếu việc làm trên phạm vi cả nước. Nuôi trồng
thuỷ sản góp phần giải quyết việc làm cho một bộ phận dân cư, giúp họ tạo
thêm được thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Gia đình là tế bào của xã
hội, một khi bản thân các tế bào có phát triển thì xã hội mới tốt đẹp được. Do
vậy, chúng ta đang hướng tới một xã hội công bằng, văn minh, ở đó mọi
người đều được bình đẳng như nhau. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển cũng góp
phần giảm bớt sự chênh lệch giữa nông thôn với thành thị. Ngày nay khi nền
kinh tế đã có sự phát triển trông thấy thì mức sống của người dân ngày càng
được nâng cao hơn. Điều đó được thể hiện ở chỗ người ta chuyển từ nhu cầu
hàng hóa cấp cao như thịt, trứng, sữa, thủy sản…Và các sản phẩm thủy sản
cũng đáp ứng một cách đa dạng nhu cầu của nhân dân từ những sản phẩm
bình dân như cá tôm đến những mặt hàng xa xỉ như ghẹ, cua biển , tôm
hùm… Nó sẽ làm thỏa mãn nhu cầu đa dạng trong tầng lớp dân cư.
e. Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản
Các sản phẩm thủy sản ngoài phục vụ nhu cầu tiêu thụ trực tiếp của dân
cư, thì một phần lớn được cung cấp cho các nhà máy chế biến làm nguyên
liệu cho công nghiệp chế biến. Có một đặc điểm dễ nhận thấy là thông qua
hoạt động chế biến thì giá trị của các sản phẩm thủy sản được nâng tầm giá
trị. Việc chế biến các sản phẩm thủy sản dùng công nghệ bao gói chủ yếu
nhằm mục đích xuất khẩu sang thị trường thế giới. Để các sản phẩm này thực
sự làm hài lòng người tiêu dùng ngoại quốc thì chất lượng sản phẩm phải

13
cách: đối với nuôi cá tra phải cần tập trung nghiên cứu cá tra giống có thời
gian sinh trưởng ngắn để có thể nuôi đúng vụ trong năm.
d. Nuôi cá tra mang tính vùng rõ rệt
Nuôi cá tra được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Đặc điểm này cho thấy ở đâu có
thủy vực phù hợp và lao động thì ở đó có khả năng nuôi cá tra. Tuy nhiên ở
mỗi vùng, mỗi quốc gia đều có những điều kiện về nguồn nước và thời tiết
khí hậu khác nhau nên đặc điểm nuôi cá tra cũng không giống nhau nên đặc
điểm nuôi trồng thủy sản cũng không giống nhau. Từ đặc điểm này đòi hỏi
các vùng, các địa phương phải nắm bắt rõ điều kiện nuôi cá tra trên địa bàn để
phát triển nuôi cá hợp lý đem lại hiệu quả cao.
1.2. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ VỀ PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ TRA
1.2.1. Gia tăng sản lượng và bảo đảm cơ cấu nuôi trồng hợp lý
Sự phát triển nuôi cá tra đầu tiên là sự gia tăng sản lượng. Sản lượng cá
tra tăng lên là kết quả của quá trình phân bổ nguồn lực vào sản xuất thủy sản
theo cách nào, có hợp lý và hiệu quả không. Sự gia tăng sản lượng liên tục
theo thời gian là sự phát triển cả lượng và chất của nuôi cá tra. Theo các mô
hình phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng thì quá
trình gia tăng sản lượng này sẽ theo xu hướng từ đa canh tới chuyên canh trên
cơ sở chuyên môn hóa cao, từ sản xuất hộ gia đình quy mô nhỏ sang theo mô
hình trang trại chuyên canh quy mô lớn, từ một khâu sản xuất đơn thuần sang
tham gia sâu vào chuỗi giá trị hàng hóa dịch vụ trong và ngoài nước. Nhìn
chung sự phát triển này sẽ chuyển dần từ phát triển theo chiều rộng sang phát
triển sản xuất theo chiều sâu.
Sự gia tăng sản lượng không chỉ nhờ chuyển dịch cơ cấu nuôi cá tra
hợp lý mà còn phụ thuộc vào khả năng huy động các nguồn lực đế phát
14
triển theo theo chiều rộng và chiều sâu. Đồng thời quá trình này gắn liền
với việc áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trong nuôi cá tra cũng

phương tiện vận tải, nhà kho và cơ sở hạ tầng kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản
(không tính đến tài nguyên thiên nhiên), có tham gia trực tiếp vào quá trình
nuôi để tạo ra tổng số đầu ra của quá trình nuôi cá. Ngày nay, vốn đầu tư và
vốn sản xuất được coi là yếu tố quan trọng của quá trình nuôi cá.
Trình độ người nuôi cá tra là nhân tố ảnh hưởng hàng đầu đến quá trình
phát triển nuôi cá tra nhất là đối với phương thức nuôi bán thâm canh và thâm
canh vốn đòi hỏi phải có hiểu biết nhất định về nghề và phải có đủ trình độ để
áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào từng khâu trong quá trình nuôi. Mặc khác,
sản lượng của ngành nuôi cá tra chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên,
khí hậu, nguồn nước, đất đai, thổ nhưỡng; do đó nguồn nhân lực chất lượng
cao sẽ đóng góp vai trò quan trọng quyết định năng suất nuôi. Do đó, công tác
đào tạo, huấn luyện phát triển nguồn lao động lành nghề, có kiến thức đáp
ứng được nhu cầu về lĩnh vực nuôi cá tra là vấn đề đặc ra cho các cấp quản lý
địa phương muốn duy trì và phát triển bền vững ngành nuôi trồng cá tra.
1.2.3. Trình độ kỹ thuật và công nghệ nuôi cá tra
Nuôi cá tra đòi hỏi trình độ kỹ thuật công nghệ cao. Đây là nhân tố quyết
định tới sản lượng, năng suất và chất lượng sản phẩm cá tra nuôi. Trình độ kỹ
thuật và công nghệ cao sẽ hạn chế những tác hại của tự nhiên tránh được dịch
bệnh bảo đảm được năng suất chất lượng sản phẩm và cuối cùng là sản lượng.
Nếu duy trì được sản lượng bảo đảm cho quá trình sản sản xuất không ngừng
tái sản xuất theo chiều rộng nhờ không ngừng được tích lũy. Trình độ kỹ thuật
và công nghệ nuôi cá tra thể hiện qua các khâu như:
16
- Trình độ kỹ thuật và công nghệ bảo đảm về con giống;
- Trình độ kỹ thuật trong khâu chuẩn bị nuôi cá;
- Trình độ kỹ thuật nuôi, chăm sóc và phòng trừ dịch bệnh;
- Trình độ kỹ thuật sản xuất và bảo quản thức ăn;
- Thu hoạch và bảo quản sản phẩm.
Trình độ kỹ thuật và công nghệ nuôi cá tra phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau như sự hiểu biết và trình độ của người nuôi, khả năng và mức độ

1.2.5. Mở rộng hệ thống cung cấp dịch vụ nuôi cá tra
Đây là yếu tố tác động cả trực tiếp và gián tiếp tới nuôi cá tra. Nuôi cá
tra càng phát triển đòi hỏi phải biết áp dụng khoa học kỹ thuật và công
nghệ tiên tiến vào sản xuất thì mới đem lại năng suất cao, chất lượng tốt và
có hiệu quả kinh tế. Phát triển nuôi cá tra phải dựa vào tiến bộ khoa học
công nghệ sinh sản nhân tạo, lai tạo, thuần chủng giống loài cá tra, kỹ thuật
và công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp kỹ thuật vận chuyển giống, kỹ
thuật nuôi và phòng trừ dịch bệnh cho cá tra nuôi. Vì vậy việc ứng dụng và
chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào nuôi cá tra luôn là
những yêu cầu bức thiết.
Tiêu chí phản ánh:
- Số lượng và mức tăng các dịch vụ đầu vào cho nuôi cá tra;
- Số lượng và mức tăng các dịch vụ đầu ra cho cá tra;
- Số lượng và mức tăng các dịch vụ kỹ thuật và phòng chống dịch
bệnh cho nuôi cá tra;
- Tỷ lệ sử dụng các dịch vụ của các cơ sở nuôi cá tra.
18
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ TRA
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên là tiên đề cơ bản để phát triển và phân bố cá tra. Cá
tra chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong những điều kiện tự nhiên nhất
định. Các điều kiện tự nhiên quan trọng hàng đầu là đất, nước và khí hậu.
Chúng sẽ quyết định khả năng nuôi cá tra trên từng lãnh thổ, khả năng áp
dụng các qui trình sản xuất, đồng thời có ảnh hưởng lớn đến năng suất và sản
lượng nuôi cá tra. Bao gồm: Diện tích mặt nước, khí hậu, nguồn nước, chiều
sâu,…
a. Diện tích mặt nước
Thủy vực được xem là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế
được trong hoạt động nuôi trồng thủy sản. Thủy vực là ao, hồ, sông đầm mặt
nước ruộng trũng…. nói chung là các loại hình mặt nước được sử dụng vào

sống, khả năng sinh sản và di trú của đàn cá.
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng cho quá trình sinh trưởng của sinh vật
nói chung và các loài nuôi trồng thủy sản nói riêng. Mỗi loài có khoảng nhiệt
độ thích ứng riêng. Khả năng chóng chịu của chúng nằm trong khoảng giới
hạn nhất định. Sự tăng nhiệt độ có thể làm suy giảm sản lượng thủy sản trong
các ao hồ. Thay đổi nhiệt độ còn là điều kiện phát sinh của nhiều loại dịch
bễnh xảy ra cho các loài nuôi. Nhiệt độ tăng cao làm cho sức khỏe của các
loài nuôi, môi trường nước bị xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho các loài động
vật gây hại.
20
Tác động của thời tiết cũng ảnh hưởng mạnh tới môi trường ao nuôi.
Nếu thời tiết nắng nóng tạo điều kiện cho quá trình phân hủy yếm khí các chất
hữu cơ trong ao nuôi, đặc biệt ở đáy ao, tạo ra nhiều khí độc tích tụ ở đáy ao,
gây ô nhiễm cho môi trường ao nuôi, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và
phát triển thủy sản.
Đối với nghề nuôi thủy sản thì độ mặn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến
sinh trưởng và phát triển của loài nuôi. Khi độ mặn tăng đột ngột vượt khỏi
khả năng chịu đựng làm cho cá bị sốc và chậm lớn.
- Nguồn nước: Có thể nói nguồn nước là một yếu tố quyết định đến
thành công cho phát triển nuôi trồng thủy sản.
Tính chất mặt nước còn quyết định tới yếu tố giống loài thủy sản được
nuôi trồng. Bởi vì mỗi một giống loài thủy sản đều có những đặc điểm sinh
lý, sinh thái riêng, có một môi trường sống riêng mà không phải môi trường
nước nào cũng tồn tại được. Môi trường nước được phân thành 3 loại: nước
ngọt, nước mặn, nước lợ. Đối với mỗi loài mặt nước có một đối tượng nuôi
trồng phù hợp.
Nguồn nước phục vụ nuôi trồng thủy sản yêu cầu về chất lượng khá
nghiêm ngặt, nước không bị ô nhiễm, độ đục thấp, hàm lượng oxy tan trong
nước cao, hàm lượng chất hữu cơ trong nước thấp, hàm lượng các chất độc
trong nước thấp hoặc không có (thuốc bảo vệ thực vật, H

đến tài nguyên thiên nhiên), có tham gia trực tiếp vào quá trình nuôi để tạo ra
tổng số đầu ra của quá trình sản xuất. Ngày nay, vốn đầu tư và vốn sản xuất
được coi là yếu tố quan trọng của quá trình nuôi. Nuôi cá tra là nghề sản xuất
yêu cầu có vốn đầu tư ban đầu lớn, vốn không chỉ là cơ sở để tăng năng lực
22
sản xuất mà nó còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học công nghệ, góp
phần đáng kể vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động khi
chủ hộ mở rộng quy mô nuôi. Năng suất, chất lượng sản phẩm cá tra nuôi
trồng phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng ao hồ và việc tổ chức quản lý sản
xuất nuôi trồng theo đúng yêu cầu của quy trình kỹ thuật.
1.3.4. Trình độ người nuôi cá tra
Chất lượng lao động là nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến quá trình phát
triển nuôi cá tra. Lao động trong nuôi cá tra đòi hỏi phải am hiểu về kỹ thuật
nuôi trồng, có kinh nghiệm và kỹ năng tổ chức quản lý nuôi cá theo những
hình thức và quy mô nhất định. Do đặc điểm của nuôi cá tra chủ yếu là đơn vị
kinh tế hộ, trang trại, doanh nghiệp tư nhân và tập thể nên lao động trong nuôi
trồng thuỷ sản rất đa dạng và thường gắn với nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy
công tác đào tạo, huấn luyện phát triển nguồn lao động cho nuôi cá tra là vấn
đề đặc biệt cần quan tâm.
1.3.5. Sự phát triển của hệ thống dịch vụ
Đây là yếu tố tác động cả trực tiếp và gián tiếp tới nuôi cá tra. Nuôi cá
tra càng phát triển đòi hỏi phải biết áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ
tiên tiến vào sản xuất thì mới đem lại năng suất cao, chất lượng tốt và có hiệu
quả kinh tế. Phát triển nuôi cá tra phải dựa vào tiến bộ khoa học công nghệ
sinh sản nhân tạo, lai tạo, thuần chủng giống loài thuỷ sản, kỹ thuật và công
nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp kỹ thuật vận chuyển giống, kỹ thuật nuôi
và phòng trừ dịch bệnh cho cá tra nuôi. Vì vậy việc ứng dụng và chuyển giao
các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào nuôi cá tra luôn là những yêu cầu bức
thiết.
Nuôi cá tra hiện nay chủ yếu là nuôi bán thâm canh và nuôi thâm canh,

2.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Trà Vinh là tỉnh ven biển của Đồng bằng sông Cửu Long,
bao gồm 08 đơn vị hành chính cấp huyện (Tp. Trà Vinh và 7 huyện, diện tích
tự nhiên 2.292,82 km
2
, dân số khoảng 1,2 triệu người, chiếm 5,8% diện tích
và 6,1% dân số ĐBSCL, có 65 km bờ biển, nằm giữa 2 sông lớn là sông Hậu
và Cổ Chiên, 2 tuyến sông này ngoài việc cung cấp nước ngọt, bồi đắp phù sa
còn là tuyến giao thông thủy quan trọng nối các cảng ở Trà Vinh với trung
tâm các tỉnh ở ĐBSCL, kết hợp với mở mang hệ thống giao thông đường bộ,
tạo lợi thế cho mở rộng giao lưu, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế với thế mạnh
về nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ.
- Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với
sự chi phối về vị trí địa lý về vị trí địa lý và địa hình, khí hậu ở Trà Vinh rất
thuận lợi cho thâm canh tăng năng suất, tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng, vật
nuôi, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển ổn định.
- Mưa: Tình hình mưa có liên quan đến gió mùa Tây Nam, sự hình thành
và hoạt động của áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) và bão biển Đông. Vì vậy, lượng
mưa hàng năm (lượng mưa lớn nhất so với năm nhỏ nhất) ở khu vực này biến
động khá lớn, tại Trà Vinh 634 mm, sự biến động lượng mưa ảnh hưởng lớn
cho sản xuất.
25
Số ngày mưa trung bình năm khá cao, đạt từ 103-127 ngày, tại Trà Vinh
đạt 103 ngày. Theo tài liệu đo mưa của trạm Trà Vinh lưu vực nằm trong
vùng có lượng mưa trung bình của tỉnh Trà Vinh (từ 1500-1800mm). Lượng
mưa giảm dần từ phía biển vào, tổng lượng mưa khoảng 1600mm, mưa tập
trung vào các tháng (5-11) chiếm 90% lượng mưa cả năm, tháng 1, 2 hầu như
không mưa, tháng 8 có lượng mưa lớn nhất (228mm), ngày có lượng mưa lớn
nhất đạt 114,5mm.
Đặc điểm mùa mưa: Tại vùng nuôi có chế độ gió mùa, một mùa mưa và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status