Phát triển nuôi cá tra trên địa bàn tại tỉnh Trà Vinh (Luận văn thạc sĩ kinh tế) - Pdf 25

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi cá tra là một trong những nghề chủ lực của thủy sản Việt Nam, góp
phần vào sự tăng trưởng của xuất khẩu thủy sản nói riêng và nền kinh tế đất
nước nói chung. Cá tra được nuôi tập trung ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL). Do vùng ĐBSCL có điều kiện tự nhiên thuận lợi với hệ thống
sông ngòi chằng chịt với hai dòng sông Tiền và sông Hậu chảy qua với chiều
dài khoảng 220 km, kết hợp với kỹ thuật nuôi cá tra không quá khó nên nuôi
cá tra phát triển khá mạnh. Năm 2003 diện tích nuôi cá tra của ĐBSCL là
2,792 ha, phát triển đến cuối năm 2012 lên khoảng 5.400 ha.
Cá tra đông lạnh là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của sản
phẩm thủy sản được nhiều thị trường trên thế giới ưa chuộng. Thị trường xuất
khẩu không ngừng được mở rộng. Hiện nay, cá tra xuất khẩu trên 163 nước
và chiếm khoảng 95% thị phần cá da trơn fillet trên thế giới, sản lượng
khoảng 1.5 triệu tấn mỗi năm.
Trà Vinh là một tỉnh thuộc khu vực ven biển đựơc thiên nhiên ưu đãi về
tiềm năng phát triển kinh tế thuỷ sản, diện tích đất có khả năng phát triển nuôi
cá trên 3.000 ha dọc theo 2 tuyến sông Tiền và sông Hậu. Cùng với ngành
nông nghiệp trồng lúa truyền thống, ngành thuỷ sản đang phấn đấu trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, nhất là nuôi thuỷ sản vùng nước lợ.
Các giải pháp mà tỉnh đưa ra đã góp phần không nhỏ vào việc phát triển
nuôi cá tra trong tỉnh. Nó thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nuôi cá tra giải quyết
được vấn đề lao động và việc làm cho một bộ phận dân cư và hơn nữa là sự
phát triển của ngành thuỷ sản đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng
trưởng kinh tế của toàn tỉnh. Tuy nhiên, còn một số tồn tại như: việc chỉ đạo,
triển khai thực hiện một số chính sách hỗ trợ phát triển nuôi cá tra còn chậm
2
và chưa hoàn toàn được quan tâm đúng mức; việc xây dựng quy hoạch nuôi
cá tra tại các địa phương còn chậm.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề này bao gồm cả chủ quan và

của địa phương.
Các phương pháp thu thập tài liệu, thông tin sau được sử dụng trong
nghiên cứu:
- Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó;
- Tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo, tổng kết của các Sở
Ban, Ngành trong tỉnh và huyện.
- Tìm thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Báo chí,
Internet
- Kết hợp các phương pháp thu thập số liệu để có dữ liệu nghiên cứu và
phân tích đầy đủ.
Nguồn thông tin dữ liệu, công cụ phân tích chính:
- Thứ cấp: Chủ yếu sử dụng số liệu của Niên giám thống kê tỉnh Trà
Vinh từ 2007, tổng điều tra nông nghiệp nông thôn năm 2006 và năm 2010,
các văn bản của UBND tỉnh Trà Vinh, báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, Chi cục Phát triển nguồn lợi thủy sản, Trung tâm
Khuyến ngư Trà Vinh, Hiệp hội thủy sản tỉnh Trà Vinh
- Sơ cấp: Ý kiến của chuyên gia và phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi.
- Công cụ chính: Sử dụng chương trình xử lý số liệu bằng Excel.
6. Nội dung đề tài
- Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển nuôi cá tra
- Chương 2 Thực trạng phát triển nuôi cá tra trên địa bàn tại tỉnh Trà Vinh
- Chương 3. Các giải pháp phát triển nuôi trên địa bàn tại tỉnh Trà Vinh
4
7. Tổng quan tài liệu các nghiên cứu
- Tài liệu nước ngoài:
Ngay thế kỷ 18 David Ricacdo đã cho rằng do các nguồn tài nguyên đất
đai có giới hạn trong khi dân số tăng nhanh do vậy việc phát triển các ngành
trong nông nghiệp dựa vào khai thác loại tư liệu sản xuất từ nguồn tài nguyên
chủ yếu này cần phải đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản trên quan điểm
sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả đất đai và các nguồn tài nguyên gắn với đất

việc mở rộng mô hình hợp tác xã NTTS). Tuy nhiên các báo cáo khoa học
trong hội nghị này chưa đề cập một cách toàn diện đến việc xây dựng, hoạt
động, củng cố, phát triển nghề nuôi trồng thủy sản.
- Nghiên cứu trong nước
Phạm Vân Định - Đỗ Kim Chung trong giáo trình Kinh tế nông nghiệp,
(NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1997) và Nguyễn Thế Nhã, giáo trình Kinh tế
nông nghiệp, (NXB Thống kê, 2002) đã trình bày tổng quan bức tranh phát
triển nông nghiệp. Những nội dung trong hai giáo trình này sẽ giúp xây dựng
nên khung lý luận làm cơ sở để nghiên cứu về phát triển nuôi trồng thủy sản.
PGS.TS Đặng Phi Hổ trong Giáo trình Kinh tế Nông nghiệp (NXB
Thống kê, 2003) đã nhấn mạnh tới nội dung khai thác các nguồn lực để phát
triển nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng, trong đó lưu ý về việc vận
dụng các chính sách khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm điều kiện cụ thể của
từng ngành.
“Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội ngành Thủy sản Việt Nam
đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” đã được chính phủ phê duyệt sẽ là
tài liệu quan trọng đã định hướng và định hình phân bố không gian phát triển
6
ngành thủy sản Việt Nam. Trong bức tranh quy hoạch chung này, Trà Vinh
chỉ là một địa phương và một bộ phận trong quy hoạch nhưng trên cơ sở quy
hoạch chung này sẽ tự định hướng các chiến lược phát triển ngành thủy sản
cho phù hợp với địa phương mình cũng như có các chính sách trong sự liên
kết với các địa phương khác trong vùng và trên cả nước.
Các đề án như “Đề án rà soát điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển
tổng thể ngành thủy sản tỉnh Trà Vinh đến năm 2015, định hướng đến 2020,
Viện kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2006” cơ sở và căn cứ thông qua các tiêu
chí, tiêu chuẩn để phân tích thực trạng phát triển và đưa ra giải pháp phát triển
cho ngành nuôi cá tra này của Trà Vinh.
Có thể sử dụng “Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản đến năm 2020” do
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) đang chủ trì xây dựng để

nghèo là một vấn đề chưa được tập trung nghiên cứu đầy đủ và cần tiếp tục
được nghiên cứu.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ TRA
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NUÔI CÁ TRA
1.1.1. Khái niệm nuôi cá tra
Nuôi cá tra là một bộ phận của ngành nuôi trồng thuỷ sản. Nuôi cá tra ra
đời cũng bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống khi mà sản lượng khai thác cá
tra tự nhiên ngày càng có nguy cơ cạn kiệt. Nước ta có một tiềm năng to lớn
để phát triển hoạt động nuôi cá tra. Nuôi cá tra là một bộ phận sản xuất có
tính nông nhiệp nhằm duy trì, bổ sung, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ
sản. Nuôi cá tra nhằm mục đích cung cấp sản phẩm cho tiêu dùng của dân cư
và cung cấp nguyên liệu cho hoạt đông chế biến thuỷ sản xuất khẩu.
1.1.2. Vai trò của nuôi nuôi cá tra
a. Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cung cấp các sản phẩm thiết yếu
cho nhu cầu của con người đó là lương thực, thực phẩm, đó là loại sản phẩm
có vai trò đầu tiên quyết định mọi hoạt động của con người. Nếu không có sản
phẩm này thì con người không thể tồn tại và phát triển được. Nuôi trồng thuỷ
sản cũng là ngành sản xuất vật chất và cung cấp sản phẩm cho con người như
cá, tôm, cua, ghẹ…những sản phẩm này cung cấp chất dinh dưỡng cho con
người giúp con người có thể tạo ra các hoạt động trong xã hội. Xã hội ngày
càng phát triển, đời sống của con người ngày càng nâng cao, thì nhu cầu của
con người cũng ngày càng cao, người ta hướng đến những loại thực phẩm có
giá trị dinh dưỡng cao, bổ dưỡng và thuỷ sản là một trong những sản phẩm
như thế.
9
b. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nuôi trồng thuỷ sản đóng góp một phần quan trọng trong tăng tưởng

hội, một khi bản thân các tế bào có phát triển thì xã hội mới tốt đẹp được. Do
vậy, chúng ta đang hướng tới một xã hội công bằng, văn minh, ở đó mọi
người đều được bình đẳng như nhau. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển cũng góp
phần giảm bớt sự chênh lệch giữa nông thôn với thành thị. Ngày nay khi nền
kinh tế đã có sự phát triển trông thấy thì mức sống của người dân ngày càng
được nâng cao hơn. Điều đó được thể hiện ở chỗ người ta chuyển từ nhu cầu
hàng hóa cấp cao như thịt, trứng, sữa, thủy sản…Và các sản phẩm thủy sản
cũng đáp ứng một cách đa dạng nhu cầu của nhân dân từ những sản phẩm
bình dân như cá tôm đến những mặt hàng xa xỉ như ghẹ, cua biển , tôm
hùm… Nó sẽ làm thỏa mãn nhu cầu đa dạng trong tầng lớp dân cư.
e. Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản
Các sản phẩm thủy sản ngoài phục vụ nhu cầu tiêu thụ trực tiếp của dân
cư, thì một phần lớn được cung cấp cho các nhà máy chế biến làm nguyên
liệu cho công nghiệp chế biến. Có một đặc điểm dễ nhận thấy là thông qua
hoạt động chế biến thì giá trị của các sản phẩm thủy sản được nâng tầm giá
trị. Việc chế biến các sản phẩm thủy sản dùng công nghệ bao gói chủ yếu
nhằm mục đích xuất khẩu sang thị trường thế giới. Để các sản phẩm này thực
sự làm hài lòng người tiêu dùng ngoại quốc thì chất lượng sản phẩm phải
được đặt lên hàng đầu. Do đó, vấn đề đặc ra là phải đảm bảo chất lượng thủy
sản từ khâu nuôi trồng, chúng ta chỉ có đầu ra khi có sản phẩm sạch.
11
1.1.3. Đặc điểm của hoạt động nuôi cá tra
a. Thủy vực là tư liệu sản xuất không thể thay thế
Đối tượng của nuôi cá tra là gắn với môi trường nước, nếu tách chúng ra
khỏi môi trường này thì chúng không thể tồn tại được. Từ đặc điểm này cho ta
thấy được nuôi cá tra là một nghề tương đối phức tạp so với các nghề khác.
Do vậy nuôi cá tra có khả năng phát triển ở một số nơi phù hợp. Đặc tính của
loài cá tra là đối tượng thích hợp nước ngọt và lợ dưới 6%o.
Thủy vực còn là tư liệu sản xuất đặc biệt bởi nó khác với tư liệu sản xuất
khác, nếu biết sử dụng cải tạo, bảo vệ và bồi dưỡng thì thủy vực không bị hao

1.2. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ VỀ PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ TRA
1.2.1. Gia tăng sản lượng và bảo đảm cơ cấu nuôi trồng hợp lý
Sự phát triển nuôi cá tra đầu tiên là sự gia tăng sản lượng. Sản lượng cá
tra tăng lên là kết quả của quá trình phân bổ nguồn lực vào sản xuất thủy sản
theo cách nào, có hợp lý và hiệu quả không. Sự gia tăng sản lượng liên tục
theo thời gian là sự phát triển cả lượng và chất của nuôi cá tra. Theo các mô
hình phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng thì quá
trình gia tăng sản lượng này sẽ theo xu hướng từ đa canh tới chuyên canh trên
cơ sở chuyên môn hóa cao, từ sản xuất hộ gia đình quy mô nhỏ sang theo mô
hình trang trại chuyên canh quy mô lớn, từ một khâu sản xuất đơn thuần sang
tham gia sâu vào chuỗi giá trị hàng hóa dịch vụ trong và ngoài nước. Nhìn
chung sự phát triển này sẽ chuyển dần từ phát triển theo chiều rộng sang phát
triển sản xuất theo chiều sâu.
Sự gia tăng sản lượng không chỉ nhờ chuyển dịch cơ cấu nuôi cá tra
hợp lý mà còn phụ thuộc vào khả năng huy động các nguồn lực đế phát
13
triển theo theo chiều rộng và chiều sâu. Đồng thời quá trình này gắn liền
với việc áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trong nuôi cá tra cũng
như tổ chức tốt sản xuất theo mô hình tiên tiến. Đồng thời bảo đảm cung
cấp các dịch vụ sản xuất thủy sản có chất lượng và các giải pháp về thị
trường cho sản phẩm cá tra.
Tiêu chí phản ánh:
- Mức sản lượng và mức gia tăng sản lượng cá tra theo thời gian;
- Mức giá trị sản lượng và mức gia tăng giá trị sản lượng cá tra
theo thời gian;
- Tỷ lệ tăng trưởng sản lượng cá tra;
- Tỷ lệ cá tra theo quy mô sản xuất và hình thức nuôi;
- Mức thay đổi tỷ lệ cây hay con nuôi theo quy mô sản xuất và
hình thức nuôi.
1.2.2. Gia tăng nguồn lực cho nuôi cá tra

ứng được nhu cầu về lĩnh vực nuôi cá tra là vấn đề đặc ra cho các cấp quản lý
địa phương muốn duy trì và phát triển bền vững ngành nuôi trồng cá tra.
1.2.3. Trình độ kỹ thuật và công nghệ nuôi cá tra
Nuôi cá tra đòi hỏi trình độ kỹ thuật công nghệ cao. Đây là nhân tố quyết
định tới sản lượng, năng suất và chất lượng sản phẩm cá tra nuôi. Trình độ kỹ
thuật và công nghệ cao sẽ hạn chế những tác hại của tự nhiên tránh được dịch
bệnh bảo đảm được năng suất chất lượng sản phẩm và cuối cùng là sản lượng.
Nếu duy trì được sản lượng bảo đảm cho quá trình sản sản xuất không ngừng
tái sản xuất theo chiều rộng nhờ không ngừng được tích lũy. Trình độ kỹ thuật
và công nghệ nuôi cá tra thể hiện qua các khâu như:
15
- Trình độ kỹ thuật và công nghệ bảo đảm về con giống;
- Trình độ kỹ thuật trong khâu chuẩn bị nuôi cá;
- Trình độ kỹ thuật nuôi, chăm sóc và phòng trừ dịch bệnh;
- Trình độ kỹ thuật sản xuất và bảo quản thức ăn;
- Thu hoạch và bảo quản sản phẩm.
Trình độ kỹ thuật và công nghệ nuôi cá tra phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau như sự hiểu biết và trình độ của người nuôi, khả năng và mức độ
đầu tư của người nuôi, những tiêu chuẩn khắt khe của thị trường và chính
sách hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ nuôi trồng của các cơ quan chính phủ…
Tiêu chí phản ánh:
- Tổng diện tích và mức tăng diện tích nuôi cá tra;
- Tổng lượng vốn và mức tăng vốn cho nuôi cá tra;
- Tổng lượng lao động và mức tăng lao động trong nuôi cá tra;
- Tỷ lệ nuôi cá tra bằng giống mới hay cải tiến;
- Tỷ lệ diện tích nuôi có hệ thống thủy lợi đủ tiêu chuẩn;
- Tỷ lệ các cơ sở sản xuất đảm bảo kỹ thuật và quy trình nuôi.
1.2.4. Hoàn thiện tổ chức tốt sản xuất
Tổ chức sản xuất theo mô hình nào quyết định mức sản lượng đầu ra hay
quy mô sản xuất nông nghiệp. Các mô hình phát triển nông nghiệp đặc biệt là

- Số lượng và mức tăng các dịch vụ đầu ra cho cá tra;
- Số lượng và mức tăng các dịch vụ kỹ thuật và phòng chống dịch
bệnh cho nuôi cá tra;
- Tỷ lệ sử dụng các dịch vụ của các cơ sở nuôi cá tra.
17
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ TRA
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên là tiên đề cơ bản để phát triển và phân bố cá tra. Cá
tra chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong những điều kiện tự nhiên nhất
định. Các điều kiện tự nhiên quan trọng hàng đầu là đất, nước và khí hậu.
Chúng sẽ quyết định khả năng nuôi cá tra trên từng lãnh thổ, khả năng áp
dụng các qui trình sản xuất, đồng thời có ảnh hưởng lớn đến năng suất và sản
lượng nuôi cá tra. Bao gồm: Diện tích mặt nước, khí hậu, nguồn nước, chiều
sâu,…
a. Diện tích mặt nước
Thủy vực được xem là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế
được trong hoạt động nuôi trồng thủy sản. Thủy vực là ao, hồ, sông đầm mặt
nước ruộng trũng…. nói chung là các loại hình mặt nước được sử dụng vào
mục đích nuôi trồng thủy sản.
Thủy vực là nơi cư ngụ của các loại động thực vật thủy sản và thủy vực
bị giới hạn về diện tích và có tính chất vị trí cố định, chất lượng không đồng
đều. Do đó diện tích thủy vực ( mặt nước) tác động mạnh đến hiệu quả và
việc phát triển nuôi trồng thủy sản.
b. Khí hậu, nguồn nước
Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là sinh vật sống chịu
tác động của điều kiện tự nhiên: khí hậu thời tiết, nguồn nước địa hình nơi sản
xuất. Mỗi đối tượng nuôi trồng lại yêu cầu những điều kiện về khí hậu và
nguồn nước khác nhau. Việc phát triển nuôi trồng thủy sản cần chú ý đến các
yêu tố của điều kiện tự nhiên và đặc điểm sinh trưởng và phát triển của đối
tượng nuôi.

hữu cơ trong ao nuôi, đặc biệt ở đáy ao, tạo ra nhiều khí độc tích tụ ở đáy ao,
gây ô nhiễm cho môi trường ao nuôi, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và
phát triển thủy sản.
Đối với nghề nuôi thủy sản thì độ mặn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến
sinh trưởng và phát triển của loài nuôi. Khi độ mặn tăng đột ngột vượt khỏi
khả năng chịu đựng làm cho cá bị sốc và chậm lớn.
- Nguồn nước: Có thể nói nguồn nước là một yếu tố quyết định đến
thành công cho phát triển nuôi trồng thủy sản.
Tính chất mặt nước còn quyết định tới yếu tố giống loài thủy sản được
nuôi trồng. Bởi vì mỗi một giống loài thủy sản đều có những đặc điểm sinh
lý, sinh thái riêng, có một môi trường sống riêng mà không phải môi trường
nước nào cũng tồn tại được. Môi trường nước được phân thành 3 loại: nước
ngọt, nước mặn, nước lợ. Đối với mỗi loài mặt nước có một đối tượng nuôi
trồng phù hợp.
Nguồn nước phục vụ nuôi trồng thủy sản yêu cầu về chất lượng khá
nghiêm ngặt, nước không bị ô nhiễm, độ đục thấp, hàm lượng oxy tan trong
nước cao, hàm lượng chất hữu cơ trong nước thấp, hàm lượng các chất độc
trong nước thấp hoặc không có (thuốc bảo vệ thực vật, H
2
S…) để sử dụng
nguồn nước mặt cho nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả cao và phát triển bền
vững phải chú ý giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật, giải pháp công cộng…
làm cơ sở để hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước mặt trên diện rộng, bảo vệ chất
lượng môi trường nước.
20
1.3.2. Tình hình KT-XH của địa phương
Các yếu tố xã hội như các yếu tố dân cư, lao động, chính sách về quy
hoạch, chính vốn đầu, các chính sách khuyến nông khuyên ngư của địa
phương cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động nuôi cá tra.
Nuôi cá tra mang đặc điểm vùng rõ rệt. Mỗi vùng có những đặc điểm về

triển nuôi cá tra. Lao động trong nuôi cá tra đòi hỏi phải am hiểu về kỹ thuật
nuôi trồng, có kinh nghiệm và kỹ năng tổ chức quản lý nuôi cá theo những
hình thức và quy mô nhất định. Do đặc điểm của nuôi cá tra chủ yếu là đơn vị
kinh tế hộ, trang trại, doanh nghiệp tư nhân và tập thể nên lao động trong nuôi
trồng thuỷ sản rất đa dạng và thường gắn với nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy
công tác đào tạo, huấn luyện phát triển nguồn lao động cho nuôi cá tra là vấn
đề đặc biệt cần quan tâm.
1.3.5. Sự phát triển của hệ thống dịch vụ
Đây là yếu tố tác động cả trực tiếp và gián tiếp tới nuôi cá tra. Nuôi cá
tra càng phát triển đòi hỏi phải biết áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ
tiên tiến vào sản xuất thì mới đem lại năng suất cao, chất lượng tốt và có hiệu
quả kinh tế. Phát triển nuôi cá tra phải dựa vào tiến bộ khoa học công nghệ
sinh sản nhân tạo, lai tạo, thuần chủng giống loài thuỷ sản, kỹ thuật và công
nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp kỹ thuật vận chuyển giống, kỹ thuật nuôi
và phòng trừ dịch bệnh cho cá tra nuôi. Vì vậy việc ứng dụng và chuyển giao
các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào nuôi cá tra luôn là những yêu cầu bức
thiết.
Nuôi cá tra hiện nay chủ yếu là nuôi bán thâm canh và nuôi thâm canh,
có áp dụng các tiến bộ kỹ thuật của khoa học công nghệ vào nuôi cá. Vì vậy
việc nắm bắt và hiểu rõ đặc tính kỹ thuật của từng loại thuỷ sản là một trong
22
những yếu tố quan trọng nhằm đem lại hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thuỷ
sản.
1.3.6. Thị trường sản phẩm
Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào cho sản xuất và thị
trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, tuy nhiên đối với nuôi cá tra thị trường tiêu
thụ đóng vai trò quyết định. Thị trường tiêu thụ sản phẩm quy định quy mô,
cơ cấu nuôi cá tra. Người nuôi cá tra luôn căn cứ vào cung cầu và giá cả thị
trường để điều chỉnh hành vi sản xuất kinh doanh nuôi cá tra cho phù hợp,
nhằm hạn chế tối đa rủi ro do tác động của thị trường. Vì vậy, việc nghiên cứu

- Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với
sự chi phối về vị trí địa lý về vị trí địa lý và địa hình, khí hậu ở Trà Vinh rất
thuận lợi cho thâm canh tăng năng suất, tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng, vật
nuôi, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển ổn định.
- Mưa: Tình hình mưa có liên quan đến gió mùa Tây Nam, sự hình thành
và hoạt động của áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) và bão biển Đông. Vì vậy, lượng
mưa hàng năm (lượng mưa lớn nhất so với năm nhỏ nhất) ở khu vực này biến
động khá lớn, tại Trà Vinh 634 mm, sự biến động lượng mưa ảnh hưởng lớn
cho sản xuất.
24
Số ngày mưa trung bình năm khá cao, đạt từ 103-127 ngày, tại Trà Vinh
đạt 103 ngày. Theo tài liệu đo mưa của trạm Trà Vinh lưu vực nằm trong
vùng có lượng mưa trung bình của tỉnh Trà Vinh (từ 1500-1800mm). Lượng
mưa giảm dần từ phía biển vào, tổng lượng mưa khoảng 1600mm, mưa tập
trung vào các tháng (5-11) chiếm 90% lượng mưa cả năm, tháng 1, 2 hầu như
không mưa, tháng 8 có lượng mưa lớn nhất (228mm), ngày có lượng mưa lớn
nhất đạt 114,5mm.
Đặc điểm mùa mưa: Tại vùng nuôi có chế độ gió mùa, một mùa mưa và
một mùa nắng tương phản sâu sắc trong năm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5-11,
trùng với hoạt động gió mùa Tây Nam, mùa khô tháng 12 đến tháng 5 năm
sau, trùng với gió mùa Đông-Bắc, lượng mưa trong mùa mưa chiếm 90%
lượng mưa cả năm.
Đặc điểm mưa tháng: Tình hình mưa tháng không những liên quan đến
chế độ gió mùa, mà còn có liên quan với áp thấp nhiệt đới và bão hình thành
ở biển Đông, lượng mưa tăng dần từ tháng 5 (150mm và trung bình 12-13
ngày có mưa), đạt đỉnh nhất vào tháng 6 (lượng mưa từ 190-250mm, với số
ngày mưa từ 13-16 ngày), sau đó giảm chút ít vào tháng 7, tháng 8, tiếp theo
lượng mưa tăng nhanh và đạt giá trị cao nhất vào tháng 9 hoặc tháng 10, trùng
với thời kỳ hoạt động của áp thấp nhiệt đới và bảo biển Đông, lượng mưa
trung bình max 253mm, số ngày mưa trung bình 16-21 ngày, sang tháng 11

Tháng 4 là tháng nóng nhất, nhiệt độ bình quân từ 28,2-28,4ºC, tháng 1
là tháng lạnh nhất nhiệt độ bình quân từ 25-25,5ºC.
- Đặc điểm nắng: Vùng nuôi nằm trong khu vực có số giờ nắng trung
bình khá cao, bình quân cả năm từ 7,5-7,7 giờ/ngày. Số giờ nắng trung bình
nhiều nhất ở các tháng 2-3 (9-10 giờ/ngày). Số giờ nắng ít nhất vào tháng 8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status