Bộ y tế bộ khoa học và công nghệ Báo cáo tổng kết
đề tàI nghiên cứu khoa học cấp nhà nớc
Mã số KC 10 - 16
Nghiên cứu sức khoẻ tâm thần
của ngời việt nam
trong thời kỳ chuyển sang cơ chế
kinh tế thị trờng và xây dựng
các giảI pháp can thiệp Chủ nhiệm đề tàI
PGS.TS. Trần Viết Nghị
Cơ quan chủ trì
viện sức khoẻ tâm thần - bệnh viện bạch mai
Ban th ký và các thành viên tham gia chính
TS. L Thị Bởi
Th ký
PGS. TS. Nguyễn Bạch Ngọc
Th ký
TS. Trần Thị Bình An
Thành viên
ThS. Trần Thanh Hà
Thành viên
ThS. Đinh Đăng Hoè
Thành viên
ThS. Nguyễn Hữu Chiến
Thành viên
CN. Đặng Viết Lơng
Thành viên
Lời cảm ơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Bộ KH và CN, chơng trình KC 10 đã cho phép
chúng tôi đợc tiến hành nghiên cứu đề tài KC10-16.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám đốc bệnh viện Bạch Mai và các phòng ban
của bệnh viện. Ban giám hiệu, bộ môn Tâm thần trờng đại học Y Hà Nội. Ban lãnh đạo
viện sức khỏe tâm thần, viện chiến lợc và chính sách y tế, viện Y học lao động và vệ
sinh môi trờng đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Sản phẩm của đề tài 1. Luận văn thạc sỹ của bác sỹ Trần Nh Minh Hằng - Chuyên ngành
tâm thần.
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ lâm sàng rối loạn lo âu của công
nhân may ở công ty may Lê Trực và Minh Khai TP Hà Nội.
Bảo vệ tại Đại học Y Hà Nội.
2. Một luận án tiến sỹ của Th.s Đặng Huy Hoàng Chuyên ngành Y
tế công cộng:
Nghiên cứu nguy cơ căng thẳng nghề nghiệp ảnh hởng tới một
số biểu hiện SKTT của ngời lao động trong ngành dệt may.
Chuẩn bị bảo vệ.
3. Một báo cáo tại hội nghị khoa học của trờng Đại học Y Hà Nội
2004.
4. Đã công bố 6 công trình trên tạp chí Đại học Y Hà Nội và Chuyên
đề tâm thần học quốc gia.
5. Hai tài liệu giáo dục sức khoẻ tâm thần:
Sức khoẻ tâm thần cho nhân viên y tế phục vụ bệnh nhân tâm
thần.
Sức khoẻ tâm thần cho công nhân công ty gang thép Thái
Nguyên.
Mục lục
Trang
Đặt vấn đề
28
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 28
2.2.2. Điều tra phỏng vấn 28
2.2.3. Nghiên cứu trạng thái chức năng cơ thể 29
2.2.4. Xác định các rối loạn liên quan sức khoẻ tâm thần 30
2.2.5. Nghiên cứu can thiệp 35
2.2.6 Qui trình nghiên cứu 35
2.2.7 Nghiên cứu viên 36
2.2.8. Phơng pháp hạn chế sai số 36
2.3. Xử lý số liệu
36
2.4. Đạo đức trong nghiên cứu
37
38
Chơng 3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm điều kiện môi trờng và quá trình lao động của các
ngành nghề
38
3.1.1. Cơ khí luyện kim 38
3.1.2. May mặc 38
3.1.3. Chế biến thuỷ sản 39
3.1.4. Giày da 40
3.1.5. Lái tàu hoả 40
3.1.6. Lái xe buýt 41
3.1.7. Vận hành công trình 41
3.1.8. Kiểm soát không lu 42
3.1.9. Chuyên ngành tâm thần 43
3.1.10. Chuyên ngành lao & phổi 44
3.2. Trạng thái chức năng của ngời lao động
3.3.11. Tổng hợp các kết quả khám lâm sàng 132
3.4. Giải pháp can thiệp
145
3.4.1. Xây dng giải pháp can thiệp 145
3.4.2. Đánh giá hiệu quả can thiệp thử 148
Chơng 4. Bàn luận
160
4.1. Những yếu tố không thuận lợi/nguy cơ do điều kiện môi trờng và
đặc điểm của quá trình lao động
160
4.1.1. Cơ khí luyện kim 160
4.1.2. May mặc 161
4.1.3. Chế biến hải sản 162
4.1.4. Giầy da 163
4.1.5. Lái tàu hoả 165
4.1.6. Lái xe buýt 167
4.1.7. Vận hành công trình 169
4.1.8. Kiểm soát không lu 171
4.1.9. Chuyên ngành tâm thần 173
4.1.10. Chuyên ngành lao & phổi 175
4.2. Mức độ căng thẳng trạng thái chức năng của ngời lao động
177
4.3. Kết quả khám lâm sàng
184
4.3 1. Về tỷ lệ các rối loạn tâm thần trong các quần thể nghiên cứu 184
4.3.2. Về tỷ lệ lao động nam và nữ mắc các RLTT 186
4.3.3. Về phân bố các RLTT theo tuổi 187
4.3.4. Về phân bố các RLTT theo trình độ văn hoá 187
4.3.5. Về các RLTT và thâm niên công tác 187
4.3.6. Về phân bố các loại RLTt 188
CBNV
Cán bộ nhân viên
NT
Nội tiết
CBTS
Chế biến thuỷ sản
PGC
Phó giao cảm
CFF
Tần số nhấp nháy tới
hạn
RLĐKNT
Rối loạn điều khiển nhịp
tim
CKLK
Cơ khí luyện kim
RLDT
Rối loạn dẫn truyền
CN
Công nhân
RLGN
Rối loạn giấc ngủ
CNLP
Chuyên ngành Lao &
Phổi
RLTT
Rối loạn tâm thần
CNTT
ĐTĐ
Điện tâm đồ
TGPX
Thời gian phản xạ
ĐVĐK
Đơn vị điều kiện
TH
Tiêu hoá
GD
Giầy da
THA
Tăng huyết áp
HA
Huyết áp
TKTƯ
Thần kinh trung ơng
HH
Hô hấp
TKTHNT
Thống kê toán học nhịp
tim
KSKL
Kiểm soat không lu
TKTL
Thần kinh tâmlý
LĐ
Lao động
TKTV
Thần kinh thực vật
LA
Ngày nay chúng ta đang sống trong thế giới biến đổi nhanh chóng, ở
những nơi yên bình nhất trên hành tinh, con ngời cũng phải đối mặt với thiên
tai, với toàn cầu hoá, với phát triển đô thị nhanh chóng, sự huỷ hoại môi
trờng Trong đó có nhiều yếu tố liên quan đến lao động mà con ngời phải
đối mặt nh công nghệ mới , những kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin
mới, sự đô thị hoá và phát triển kinh tế nhanh chóng, sự lo lắng về tơng lai,
stress do nguy cơ thất nghiệp, mất an toàn và sự nghèo nàn.
Tình trạng trên đã làm cho khoảng 300 400 triệu ngời trên thế giới
đang bị các rối loạn về thần kinh - tâm lý, kể cả các rối loạn hành vi và thực
thể. Rối loạn tâm thần chiếm 12% gánh nặng bệnh tật trong năm 1998, trong
đó ở các nớc phát triển là 23%, ở các nớc thu nhập trung bình là 11% [106].
Viện sức khoẻ và an toàn Nghề nghiệp Quốc gia Hoa kỳ báo cáo
những rối loạn tâm thần liên quan đến nghề nghiệp ngày càng tăng và là
nguyên nhân chính của hiện tợng giảm khả năng lao động ở công nhân. ở
Canada, một khảo sát trong vòng 15 năm cho thấy khoảng 1/3 số công nhân
có rối loạn lo âu và hơn 60% ngời dân Canada cho rằng trong quá khứ ít nhất
có một giai đoạn họ từng có biểu hiện rối loạn lo âu liên quan đến việc làm
[83]. ở châu á, theo nghiên cứu của Tashaki, tỷ lệ công nhân nhật bản vắng
mặt dài ngày do rối loạn tâm thần là 21% so với tổng số ngày nghỉ do tất cả
các bệnh lý khác [94].
ở nớc ta, việc chuyển đổi từ quản lý kinh tế bao cấp sang hạch toán
kinh doanh từ năm 1986 đã là những thay đổi rất lớn trong xã hội. Điều này
không dễ dàng đặc biệt đối với những đối tợng đã bị ảnh hởng quá sâu nặng
của cơ chế xin cho của thời kỳ bao cấp. Bên cạnh những mặt tích cực của nền
kinh tế thị trờng, đã phát sinh những mặt tiêu cực, đôi khi gây trở ngại t
ởng
chừng khó vợt qua đối với nhiều đối tợng. Những khó khăn chồng chất, sự
bơn trải trong nền kinh tế mở thị trờng, sự thất bại, sự hẫng hụt đó là
những yếu tố gây sang chấn ảnh hởng đến sức khoẻ, đặc biệt là sức khoẻ tâm
3
Chơng 1
Tổng quan
1.1. Stress và sức khoẻ tâm thần
1.1.1. Khái niệm về stress
Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG), sức khoẻ tâm thần là "
Một cuộc sống thật sự thoải mái, đạt đợc niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm
giá và giá trị của ngời khác; có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý
trớc mọi tình huống, khả năng tạo dựng , duy trì và phát triển thoả đáng các mối
quan hệ và khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng sau các sang chấn tâm lý hoặc
stress."[108].
Nh vậy, theo định nghĩa này, vấn đề cơ bản của sức khoẻ tâm thần là stress;
mọi niềm tin, khả năng ứng xử hợp lý, tạo dựng hay duy trì các mối quan hệ hoặc
cân bằng sau stress đều là để thích nghi, để chống đỡ để đối phó với stress, để có
đợc một cuộc sống thoải mái. Vậy Stress là gì?
Thuật ngữ "stress" đợc Robert Mannyng (Anh) sử dụng vào năm 1303.
Ban đầu, thuật ngữ này liên quan nhiều đến kỹ thuật với ý nghĩa là sức ép hoặc sức
căng vật lý. Đến thế kỷ XVII, thuật ngữ "stress" đợc các lĩnh vực khác sử dụng
với ý nghĩa khái quát hơn "sự căng thẳng hay bất lợi". Từ đầu thế kỷ XX, stress
đợc sử dụng trong các lĩnh vực khác nh sinh lý học, tâm lý học (Tom Cox,
1979).
Trong sinh lý học, stress đợc Cannon Walter (1914) - nhà sinh lý học nổi
tiếng của Đại học Harvard, gọi là stress cảm xúc khi chứng minh đợc rằng, tiêm
Adrenaline cho động vật cũng gây ra phản ứng sinh lý (bài tiết hormon tuỷ thợng
thận) và hành vi (tấn công hay bỏ chạy) tơng tự phản ứng của cơ thể trớc những
tình huống "gay cấn" [94].
Vào năm 1936, Selye H. đã đề cập đến thuật ngữ "stress" trong các công trình
nghiên cứu của mình thông qua mô tả hàng loạt phản ứng không đặc hiệu trớc
những tác nhân hoá học hay vật lý. Những phản ứng này có liên quan đến hiện
tợng tăng tiết Glucocorticosteroid của vỏ thợng thận .
stress trong cuộc sống hàng ngày.
Stress nói chung và stress nghề nghiệp nói riêng rất phổ biến. Theo Lyle H.
Miller (1997), có 43% số ngời trởng thành bị ảnh hởng sức khỏe do stress, 75 -
90,0% số ngời đến khám nội khoa là những bệnh nhẹ hoặc những phàn nàn liên
quan stress. Stress gắn liền với 6 nguyên nhân gây tử vong: bệnh tim, ung th, các
bệnh phổi, tai nạn. xơ gan và tự sát [78].
1.1.1.1. Các khía cạnh của Stress
Khái niệm chung về stress bao gồm hai khía cạnh
Tình huống stress chỉ các tác nhân xâm phạm hay kích thích gây ra (stressor),là
những tác nhân vật lý, hoá học, tâm lý xã hội, gia đình, nghề nghiệp.
Đáp ứng stress để chỉ trạng thái phản ứng với stress (reaction) là phản ứng sinh
lý và phản ứng tâm lý không đặc hiệu.
1.1.1.2. Các loại stress
Các tác giả Miller L.H. và Smith A.D. đã đa ra một cách phân loại stress
mà chúng tôi nhận thấy là hợp lý, các tác giả cho rằng: Việc kiềm chế stress có thể
là phức tạp và lẫn lộn bởi vì có các loại stress khác nhau- stress cấp, stress cấp từng
đợt và stress mãn, mỗi loại có những đặc tính, các triệu chứng, thời gian kéo dài,
và các tiếp cận điều trị riêng của mình [78] .
Stress cấp
Stress cấp là dạng phổ biến nhất của stress. Nó bắt đầu từ những yêu cầu và áp
lực của quá khứ, hiện tại và các yêu cầu, áp lực đã đợc dự đoán trớc của tơng
lai gần. Stress cấp với mức độ nhỏ gây xúc động và kích thích, nhng nếu quá
nhiều sẽ gây kiệt sức. Những stress ngắn và quá mức có thể dẫn đến các khó chịu
về tâm lý, căng thẳng đầu óc, đau dạ dầy và các triệu chứng khác.
Hầu hết mọi ngời đều nhận ra các triệu chứng stress cấp. Đó là những thất
bại đã qua trong cuộc đời họ nh: tai nạn ô tô, mất một hợp đồng quan trọng, ranh
giới giữa cái sống và cái chết mà họ đã vợt qua, những vấn đề của con cái họ ở
trờng học v.v.
Bởi vì xuất hiện ngắn, stress cấp không đủ thời gian để gây tác hại nặng.
Các triệu chứng phổ biến nhất là:
Một dạng khác của stress cấp từng đợt xuất phát từ lo âu không dứt ."Cái
bớu lo âu" này nhìn thấy điều bất hạnh ở mọi góc nhà, dự đoán thảm hoạ kinh
hoàng trong mọi tình huống. Thế giới là nơi đầy nguy hiểm, ân oán, trừng phạt, nơi
mà có gì đó khủng khiếp luôn luôn xẩy ra. Những "điều khủng khiếp" này cũng có
khuynh hớng nổi trội và căng thẳng, nhng lo âu và trầm cảm nhiều hơn là giận
giữ và thù địch.Triệu chứng của stress cấp từng đợt là các triệu chứng quá kích
thích dai dẳng: căng đầu dai dẳng, migraine, tăng huyết áp, đau ngực và đau tim.
Stress mãn tính
Trong khi stress cấp có thể gây xúc động và kích thích, stress mãn tính thì
không. Nó xẩy ra ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Stress mãn tính
huỷ hoại cơ thể, trí não và cuộc sống. Đó là stress của sự nghèo khó, của các gia
đình không hoàn chỉnh, của các cuộc hôn nhân bất hạnh hoặc nghề nghiệp, sự
nghiệp thất bại. Stress mãn tính xuất hiện khi mà con ngời không bao giờ tìm thấy
con đờng ra khỏi sự đau khổ. Đó là stress của những yêu cầu và áp lực không bao
6
giờ giảm đi, dờng nh không bao giờ kết thúc. Với tâm trạng vô vọng, cá nhân đó
từ bỏ việc tìm kiếm các cách giải quyết.
Stress mãn tính gây tác hại qua tự sát, bạo lực, cơn đau tim, đột quị và có lẽ
thậm chí cả ung th. Cuối cùng, con ngời kiệt sức dần, suy nhợc nặng. Bởi vì các
nguồn lực về thể chất và tâm thần bị cạn kiệt do suy giảm kéo dài, các triệu chứng
của stress mãn tính khó điều trị , có thể đòi hỏi điều trị bằng thuốc cũng nh liệu
pháp tập tính kéo dài kiềm chế stress [78].
1.1.1.3. Phản ứng của cơ thể trớc stress
Phản ứng của cơ thể trớc stress là sự tổng hoà hai mặt của phản ứng sinh
học và phản ứng tâm lý. Phản ứng sinh học thông qua con đờng thần kinh-thể
dịch, ảnh hởng đến mọi chức năng của cơ thể và gây ra những biến đổi thể chất
nhất định (mạch nhanh, vã mồ hôi, run tay chân ). Còn phản ứng tâm lý cá nhân
thông qua đáp ứng cảm xúc, nhận thức và ứng xử, biểu hiện nh buồn rầu, lo âu, sợ
hãi, bồn chồn, tức giận
7
trong máu để cung cấp năng lợng, tăng huyết áp, từ đó tác động lên toàn bộ cơ
thể. Các biến đổi này nằm trong rối loạn còn bù trừ và có tính chất lâu dài. Giai
đoạn này có sự tham gia của toàn bộ cơ thể, trong đó có hệ thần kinh trung ơng.
Nếu stress còn tiếp tục, cơ thể mất bù sẽ dẫn đến giai đoạn kiệt sức.
- Giai đoạn kiệt sức (Stage of Exhaustion)
Do stress quá sức chịu đựng hoặc có nhiều stress tác động trờng diễn làm
cho những biến đổi của cơ thể mất khả năng bù trừ, cơ thể trở nên suy kiệt và mệt
mỏi, khả năng điều chỉnh và tự phòng vệ bị suy yếu nghiêm trọng, khả năng thích
nghi bị rối loạn và xuất hiện nhiều trạng thái bệnh lý khác nhau về cơ thể và tâm
thần [95].
Phản ứng tâm lý trớc stress
Trớc tác động của stress, nhân cách không hoàn toàn bị động mà có sự
nhận thức, tiếp nhận hay chống lại stress. Phản ứng của nhân cách trớc tác động
của stress là phản ứng mang tính cá thể. Mỗi cá thể phản ứng theo một cách riêng,
phụ thuộc vào nhận thức, hiểu biết, cá tính, tố bẩm của mỗi ngời. Eysenck H. và
cs. đa ra 4 dạng phản ứng của nhân cách trớc tác động của stress:
- Type A: Khi gặp stress, cá thể thờng bùng nổ một cách giận giữ, tăng tiết
ACTH dẫn đến tăng tiết cortisol và adrenaline gây giữ nớc, tăng huyết áp, xơ vữa
động mạch và bệnh mạch vành.
- Type B: Khi gặp stress, cá thể thờng thất vọng, các phản ứng thờng lặn
vào trong, kìm nén những phản ứng cảm xúc dẫn tới giảm niễn dịch, dễ bị nhiễm
trùng, thiên hớng bị ung th.
-Type C: Biểu hiện phản ứng trớc stress thờng là lặng lẽ, buồn rầu. Về sinh
hoá có giảm canxi máu, giảm các yếu tố vi lợng, thờng lão hoá sớm, dễ bị trầm
cảm.
-Type D: Trớc tác động của stress, cá thể thờng bình tĩnh, tự tin, tự khẳng
định mình, không có biến đổi đáng kể, khả năng thích nghi cao.
1.1.1.4. Mối liên quan giữa stress và nhân cách
cách hãy lập kế hoạch cho cuộc sống của ta, để mà stress không lấn át đợc ta. Đặt
kế hoạch có hiệu quả là xếp đặt những vấn đề u tiên và những vấn đề công việc
đơn giản trớc hết, giải quyết chúng và sau đó đi đến những vấn đề khó khăn, phức
tạp hơn. Khi stress không đợc kiềm chế, thì khó mà lựa chọn u tiên. Tất cả các
vấn đề của chúng ta dờng nh cân bằng và stress dờng nh ở khắp mọi nơi.
Không tồn tại những kỹ thuật giảm stress có hiệu quả toàn cầu. Chúng ta
đều khác nhau, cuộc sống của chúng ta khác nhau, các hoàn cảnh stress của
chúng ta khác nhau, và phản ứng của chúng ta cũng khác nhau.
Không có triệu chứng không có nghĩa là không có stress. Sự thật là, các
triệu chứng bị che lấp do các thuốc có thể làm mất đi các tín hiệu mà chúng
cần thiết để làm giảm sự căng thẳng của các hệ thống sinh lý và tâm lý của
chúng ta.
Không chỉ chú trọng đến các triệu chứng nặng của stress mà cả triệu chứng
"nhẹ" nh đau đầu, ợ chua. Các triệu chứng nhẹ của stress là dấu hiệu cảnh
báo sớm bởi vì khi đó cuộc sống của chúng ta đã vợt khỏi tầm tay của chính
mình mà điều cần làm là kiềm chế stress [78].
1.1.1.5. Các rối loạn liên quan stress
Phản ứng stress trở thành bệnh lý khi tình huống gây stress hoặc bất ngờ,
hoặc quá dữ dội, hoặc ngợc lạị, quen thuộc nhng lặp lại, vợt quá khả năng đối
phó của đối tợng [14].
Tiếp theo giai đoạn báo động và chống đỡ là giai đoạn kiệt sức với khả năng
thích nghi bị thất bại và xuất hiện stress bệnh lý.
Trong stress bệnh lý, các rối loạn tâm thần , cơ thể và tập tính xuất hiện hoặc cấp
diễn và tạm thời hoặc nhẹ hơn và kéo dài.
Stress bệnh lý cấp tính
Các biểu hiện của loại stress này thờng gặp trong các tình huống không
lờng trớc, có tính chất dữ dội, bị tấn công, gặp thảm hoạ, hoặc khi đối tợng biết
9
mình hoặc ngời thân bị bệnh nặng. Trạng thái cấp tính của stress đợc đặc trng
theo tính dễ cáu, cảm giác khó chịu, căng thẳng tâm lý, mệt mỏi trí tuệ, không
thể th giãn .
- Rối loạn giấc ngủ thờng đi đôi với chứng khó ngủ, hay thức giấc và có cảm
giác không thấy hồi phục sức khoẻ sau khi ngủ.
Những rối loạn này, tuỳ theo hoàn cảnh, tính chất cũng nh mức độ lặp lại của tình
huống stress, có thể tiến triển thành :
- Thờng xuyên dễ cáu, căng thẳng, bi quan, tập trung vào tình huống stress.
- Những biểu hiện lo âu-ám ảnh sợ, lo âu dai dẳng, cơn lo âu ở những nơi có tình
huống stress (nơi làm việc hay gia đình).
10
- Các trạng thái trầm cảm: thờng liên quan đến các tình huống stress dai dẳng,
hoàn cảnh xung đột hay bất toại dẫn đến cảm giác bế tắc, thiếu tự tin, hình
thành hội chứng trầm cảm.
Các biểu hiện cơ thể
Thờng gặp là các rối loạn thần kinh thực vật, các rối loạn này thờng tăng
lên khi hồi tởng các tình huống stress hay khi phải đơng đầu với các tình huống
đó. Các rối loạn thực vật thờng xuất hiện cùng với các rối loạn tâm thần và thờng
biểu lộ bằng lời than phiền về các rối loạn chức năng cơ thể nổi bật.
Những than phiền về:
- Trạng thái suy nhợc kéo dài , đây là than phiền thờng gặp nhất.
- Chứng run chân tay.
- Ra mồ hôi.
- Nhức đầu do căng thẳng.
- Đau nửa đầu kéo dài
- Đau cột sống dai dẳng.
- Đánh trống ngực, đau vùng trớc tim, tăng huyết áp không ổn định mà trớc
đây gọi là Rối loạn tim tâm căn.
- Bệnh đại tràng chức năng.
- Đau bàng quang với nớc tiểu trong.
- Tiêu chuẩn chẩn đoán các RLTT thờng gặp trong nghiên cứu(theo ICD-10)
F 51. Rối loạn giấc ngủ không thực tổn
F51.0 Mất ngủ không thực tổn
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Các nét lâm sàng sau là cần thiết để chẩn đoán quyết định:
- Những than phiền khó đi vào giấc ngủ hoặc chất lợng ngủ kém
- Rối loạn giấc ngủ xẩy ra ít nhất 3 lần trong 1 tuần trong thời gian ít nhất 1
tháng.
- Có sự bận tâm về mất ngủ và lo lắng quá mức về hậu quả giấc ngủ ban đêm
và ban ngày.
- Số lợng và/hoặc là chất lợng giấc ngủ không thoả mãn gây ra đau khổ lớn
hoặc gây trở ngại hoạt động xã hội và nghề nghiệp
F51.1. Ngủ nhiều không thực tổn
Các nét lâm sàng sau cần thiết cho một chẩn đoán quyết định:
- Ngủ ban ngày quá mức hoặc các cơn ngủ, không giải thích đợc bằng số
lợng không thích hợp của giấc ngủ, và/hoặc một sự chuyển tiếp kéo dài sang
trạng thái tỉnh táo hoàn toàn vào lúc thức giấc ( say ngủ):
- Rối loạn giấc ngủ xẩy ra hàng ngày, trên một tháng hoặc những thời kỳ tái
diễn ngắn hơn, gây ra đau buồn rõ rệt hoặc cản trở hoạt động xã hội, nghề
nghiệp.
- Không có triệu chứng phụ của chứng ngủ rũ (mất trơng lực, liệt khi ngủ, ảo
giác lúc giở thức giở ngủ) hoặc là bằng chứng lâm sàng của ngừng thở (
ngừng thở ban đêm, tiếng khịt mũi từng cơn điển hình,v.v);
- Không có bất kỳ trạng thái bệnh thần kinh hoặc nội khoa nào mà trạng thái
buồn ngủ ban ngày có thể là triệu chứng.
F 48.0 Tâm căn suy nhợc
Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán.
Chẩn đoán quyết định đòi hỏi những điều sau:
-
Hoặc là những phàn nàn dai dẳng và đau khổ về mệt mỏi tăng lên sau một cố
Chẩn đoán lo âu bệnh lý khi điểm Test Zung Z > 50%
F 32. Giai đoạn trầm cảm
Trong các giai đoạn trầm cảm điển hình thuộc 3 loại đợc mô tả dới đây:
nhẹ (F 32.0), vừa (F 32.1) và nặng (F 32.2 và F 32,3) bệnh nhân thờng có khí sắc
trầm, mất mọi quan tâm và thích thú, giảm năng lợng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và
giảm hoạt động. Phổ biến là mệt mỏi rõ rệt chỉ sau một cố gắng nhỏ. Những triệu
chứng phổ biến là:
- Giảm sút sự tập trung và sự chú ý;
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin;
- Những ý tởng bị tội và không xứng đáng (kể cả ở trong giai đoạn nhẹ);
- Nhìn vào tơng lai ảm đạm và bi quan;
-
ý tởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát;
13
- Rối loạn giấc ngủ;
- ăn ít ngon miệng
Đối với những giai đoạn trầm cảm thuộc 3 mức độ thờng cần phải có ít nhất
2 tuần để làm chẩn đoán, nhng cũng có thể cần thời gian ngắn hơn nếu triệu
chứng nặng, bất thờng và khởi phát nhanh, bao gồm : những giai đoạn của phản
ứng trầm cảm đơn độc, trầm cảm nặng (không có các triệu chứng loạn thần), trầm
cảm tâm sinh hoặc trầm cảm phản ứng (F 32.0, F 32.1 hoặc F 32. 2).
(Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 ( plbqt-10f).
Về cận lâm sàng, trong nghiên cứu này sử dụng thang đánh giá trầm cảm của
Beck (Beck Depresson Inventory ) (Beck+ Israel+ Lykouras):
Điểm Beck: S : 14 19 : Trầm cảm nhẹ
20 - 29 : Trầm cảm vừa
30 : Trầm cảm nặng
1.2. Điều kiện lao động và stress nghề nghiệp
1.2.1. Điều kiện lao động
ngoài nớc cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa điều kiện làm việc - sức khoẻ của
ngời lao động và năng suất, chất lợng của hoạt động lao động. Những nghiên cứu
này càng nhiều hơn và đa dạng hơn bởi lẽ các yếu tố điều kiện ngày càng phức tạp,
đa dạng do sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng các thành tựu của khoa học kỹ
thuật tiên tiến và hiện đại. Bên cạnh đó là sự hội nhập quốc tế, cũng đồng nghĩa với
cạnh tranh gay gắt.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, hiện có khoảng 30-50% ngời lao động trên thế
giới bị nguy hiểm do tiếp xúc với các yếu tố thể lực, hoá chất, sinh học, hoặc quá
tải, hoặc các yếu tố ecgônômi ảnh hởng đến sức khoẻ và khả năng lao động. Trong
số các vấn đề về sức khoẻ nghề nghiệp, ngời lao động đang phải đối mặt hàng ngày
với những thách thức do stress nghề nghiệp và SKTT. Xuất phát từ thực tế trên, Tổ
chức Y tế thế giới (TC YTTG) đã ban hành Chiến lợc sức khoẻ nghề nghiệp toàn
cầu [104].
Trong cuộc gặp gỡ họp mặt với các chuyên gia bao gồm các nhà chính trị,
các nhà kỹ thuật, nhân học xã hội học, các nhà y học tại Tampere, Phần lan, ngày
13/10/1999, Tổng giám đốc Tổ chức y tế thế giới, bà Gro Harlam Brundtland đã đề
cập đến viễn cảnh toàn cầu về sức khoẻ tâm thần và cảnh báo rằng vấn đã ở mức
đáng quan tâm. Theo Tổng giám đốc, có ba đặc điểm nổi trội trong giai đoạn hiện
nay. Đó là:
- Thứ nhất, chúng ta đang sống trong thế giới biến đổi nhanh chóng, ở những
góc yên bình nhất trên hành tinh, con ngời cũng phải đổi mới với những sự kiện
ngừng thở do thiên tai, do toàn cầu hoá, do phát triển đô thị nhanh chóng, sự huỷ
hoại môi trờng Trong đó có nhiều yếu tố liên quan đến lao động mà con ngời
phải đối mặt nh công nghệ mới , tốc độ chóng mặt về phát triển thông tin, sự đô thị
hoá và phát triển kinh tế nhanh chóng, sự lo lắng về tơng lai, stress do nguy cơ thất
nghiệp, mất an toàn và sự nghèo nàn.
- Thứ hai, đo là sự nghèo nàn. Trong khi có hàng triệu ngời trở nên giầu có thì
vẫn có hơn ba tỷ ngời, tức chiếm một nửa dân số thế giới đang sống trong nghèo
đói với mức sống dới 2 đô la/ngày, trong đó hơn 1,3 tỷ ngời có mức sống dới 1
đô la/ngày. Con số 3 tỷ trên có thể sẽ tới 4 tỷ do tăng dân số hàng năm. Đói nghèo là
Nhóm 1: Nội dung công việc, gồm:
1. Nội dung công việc: đơn điệu, dới tải thông tin (không đợc kích thích),
làm việc vô nghĩa,
2. Gánh nặng công việc: quá nặng nhọc (quá tải) hoặc quá nhàn rỗi (dới tải về
thể lực), hoặc dới tải về áp lực thời gian,
3. Thời gian làm việc: chế độ giờ làm việc nghiêm ngặt, kéo dài, không giao
tiếp, không theo kế hoạch định trớc, chế độ ca kíp không phù hợp
4. Mức độ tham gia và giám sát: thiếu sự tham gia chủ động trong việc ra quyết
định, không có sự kiểm tra giám sát (phơng pháp lao động, nhịp độ công
việc, thời gian và môi trờng lao động)
Nhóm 2: Bối cảnh, gồm:
1. Phát triển nghề nghiệp, trả công: công việc bấp bênh, không đợc thăng tiến,
đề bạt, công việc mang tính địa vị xã hội thấp, hệ thống đánh giá thực hiện
không phù hợp hoặc không "đẹp", hoặc đòi hỏi kỹ năng quá cao hoặc quá
thấp,
2. Vai trò trong tổ chức: vai trò không thân thiện, gây va chạm, trách nhiệm vì
ngời khác, luôn phải đối mặt với ngời khác hoặc các vấn đề của ngời
khác,
3. Quan hệ đồng nghiệp: không thoả đáng, không thiện chí, bắt nạt lẫn nhau,
bạo lực, cách ly/cô đơn,
4. Văn hoá trong tổ chức: không giao tiếp, quan hệ với cấp trên không thân
thiện, không khoan dung,
5. Quan hệ gia đình - nơi làm việc: xung đột nơi làm việc và cả ở nhà, không
đợc hỗ trợ về các vấn đề gia đình tại nơi làm việc, về nhà không đợc sự ủng
hộ của gia đình về công việc