i
Bộ Khoa học và Công nghệ
Chơng trình kh&CN trọng điểm cấp Nhà nớc giai đoạn 2006-2010:
Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020
Mã số: KX.01/06-10
đề tài:
Vai trò của nhà nớc Việt Nam trong
quá trình chuyển sang kinh tế thị trờng
định hớng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế
Mã số: KX.01.12/06-10
Chủ nhiệm đề tài : GS.TSKH Lơng Xuân Quỳ
Phó chủ nhiệm đề tài : GS.TS. Đỗ Đức Bình
Cơ quan chủ trì đề tài : Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
Bộ Giáo dục và Đào tạo
PGS.TS. Lê Xuân Bá Viện NC quản lý kinh tế TW
Thnh viờn
2.
TS. Bùi Quốc Bảo Văn phòng Chính phủ
Thnh viờn
3.
TS. Nguyễn Thành Công Viện NC Phát triển kinh tế xã hội HN
Thnh viờn
4.
PGS.TS Nguyễn Văn Công Trờng ĐH KTQD
Thnh viờn
5.
PGS.TS Hoàng Văn Hoa Trờng ĐH KTQD
Thnh viờn
6.
GS.TS Nguyễn Đình Hơng Hội Khoa học kinh tế Hà Nội
Thnh viờn
7.
PGS.TS Nguyễn Viết Lâm Trờng ĐH KTQD
Thnh viờn
8.
PGS.TS .Nguyễn Thị Mùi Học Viện Tài chính
Thnh viờn
9.
PGS.TS . Lu Ngọc Trịnh Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới
Thnh viờn
10.
TS. Lê Anh Tuấn Hội Khoa học kinh tế Hà Nội
Thnh viờn
11.
1.1.2. Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại 19
1.2. THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI 31
1.2.1. Khái niệm về thể chế 31
1.2.2. Thể chế kinh tế. 33
1.2.3. Thể chế kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện
đại 36
1.3. KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ
KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC
KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM. 41
1.3.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia 41
1.3.1.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia có nền kinh tế thị
trường hiện đại 41
1.3.1.2. Kinh nghiệm của một số quốc gia đang chuyển đổi. 55
1.3.2. Bài học rút ra cho Việt Nam 70
1.3.2.1. Xây dựng và cải cách thể chế thị trường thích ứng với
các xu hướng phát triển kinh tế mới 70
1.3.2.2. Tăng cường vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường thông qua tính xác thực và khoa học của thể chế kinh tế
của nhà nước 73
1.3.2.3. Nhà nước cần đặc biệt quan tâm đến thị trường tài chính
và thị trường bất động sản là các thị trường chứa đựng nhi
ều khả
năng dẫn đến các cuộc khủng hoảng 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
78
iv
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ KINH TẾ VÀ THỂ CHẾ KINH
TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN
quyền 137
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG 140
2.3.1 Những mặt tích cực ưu điểm chủ yếu 140
2.3.2 Những mặt bất cập, yếu kém 148
2.3.3 Nguyên nhân của những mặt bất cập, yếu kém 159
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 169
v
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC PHÙ HỢP VỚI ĐẶC
THÙ CỦA NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ 174
3.1. BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC ẢNH HƯỞNG ĐẾN
VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ HOÀN
THIỆN THỂ CHẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM. 174
3.1.1 Bối cảnh quốc tế 174
3.1.2. Bối cảnh trong nước: 179
3.2 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN THỂ CHẾ CỦA NHÀ
NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG, MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 184
3.2.1. Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước với tư cách là một động
lực quan trọng đảm bảo quá trình tăng trưởng nhanh và bền v
ững của
Việt Nam trong điêu kiện hội nhập quốc tế 184
3.2.2. Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước phải đảm bảo tính định
hướng đối với các chủ thể tham gia nền kinh tế, đặc biệt là định hướng
về chính trị –kinh tế- xã hội của nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa 187
3.2.3. Thể chế kinh tế của nhà nước được hoàn thiện trong m
ối quan hệ
hài hòa với các thiết chế kinh tế phi nhà nước, trong đó vai trò của cộng
thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế 250
3.4.3.1 Hoàn thiện môi trường thể chế, tôn trọng tự do cạnh tranh
và kiểm soát độc quyền. 250
3.4.3.2. Tăng cường đầu tư, quản lý và khai thác có hiệu quả kết
cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật cho các loại thị trường phát triển
theo hướng h
ội nhập kinh tế quốc tế. 254
3.4.3.3 Tiếp tục đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá sở hữu, phát
triển kinh tế với nhiều loại hình sản xuất kinh doanh, tạo ra sức
cung, cầu cho các loại thị trường 258
3.4.3.4 Tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc tạo lập các
điều kiện để phát triển hệ thống thị trường đầy đủ và đồng bộ,
hiệu quả. 258
3.4.4. Tiếp tục cải cách và hoàn thiện thể chế hành chính 259
3.4.5 Hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước đối với các chủ thể kinh
tế theo hướng vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động, vừa nâng cao
hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường 267
3.4.5.1 Từng bước đổi m
ới và hoàn thiện tổ chức, phương thức
hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế và nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ quan này 268
3.4.5.2. Hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước đối với doanh
nghiệp 270
3.4.5.3 Thể chế hoá sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự
vào việc xây dựng và thực thi thể chế kinh tế th
ị trường. 275
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 277
KẾT LUẬN CHUNG 283
TÀI LIỆU THAM KHẢO
285
nên khi tiếp cận đề tài này, chúng tôi cho rằng đề tài chỉ đề cập đến vai trò
kinh tế của nhà nước.
Vai trò kinh tế của nhà nước có nội dung rất phong phú. Tuy nhiên, theo
đơn đặt hàng và thông báo của Bộ Khoa học và Công nghệ và Ban chủ
nhiệm
chương trình KX.01/06-10 (tại Báo khoa học và phát triển số 24 ra ngày 20-
24/6/2007) thì nhiệm vụ của đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu thể chế kinh
tế của nhà nước Việt Nam để thực hiện tốt vai trò của nhà nước trong quá
trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh
tế quốc tế.
Trong nhiều năm qua, đặc biệt là trong những năm đổi mới, cơ ch
ế
quản lý kinh tế ở nước ta, thể chế kinh tế của Nhà nước luôn được quan tâm
xây dựng và phát triển. Hệ thống thể chế kinh tế của Nhà nước ngày càng đầy
đủ hơn và hoàn thiện hơn. Trên một chừng mực nhất định, hệ thống thể chế
này đã có những góp tích cực, đã tạo nên một hành lang pháp lý, một sân chơi
bình đẳng hơn đảm bảo cho các doanh nghiệp và các chủ thể
kinh tế được tự
do phát triển. Thể chế kinh tế của Nhà nước đã góp phần khơi dậy sức sáng
tạo; góp phần làm sống dậy các tiềm năng, các nguồn lực của xã hội và do đó,
góp phần tạo nên những thành quả đáng ghi nhận về sự phát triển kinh tế và
sự tiến bộ xã hội của đất nước ta. Tuy nhiên, hệ thống thể chế kinh tế của Nhà
nước hay nói cách khác là từng bộ phận thể chế kinh tế của Nhà nước vẫn
2
đang còn tồi tại nhiều khiếm khuyết:
Thứ nhất, hệ thống luật pháp về kinh tế vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu
nhất quán, bất cập so với thực tiễn chẳng hạn như: nhiều đạo luật quan trọng
chưa được hình thành hoặc chưa phù hợp với nền kinh tế thị trường, thiếu
nhất quán trong phạm vi một văn bản pháp luật, thiế
u nhất quán thậm chí có
nước ta trong thời kỳ đổi mới vừa qua vẫn đang còn tồn tại nhiều thiếu sót,
song những công trình nghiên cứu có tầm cỡ, hướng trực tiếp đến việc giải
quyết một cách căn bản, chuyên sâu những mặt còn tồn tại của hệ thống thể
chế kinh tế hiện hành của Nhà nước hầu như vẫn chưa được tiến hành. Nói
cách khác, thực tiễn đang
đặt ra một câu hỏi lớn liên quan đến thể chế kinh tế
của Nhà nước nhưng vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ. Câu hỏi đó là: cần phải
xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước ta như thế nào và làm
thế nào để có được thể chế kinh tế ấy để hướng tới xây dựng thành công nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nướ
c ta trong điều kiện Việt Nam gia
nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế.
Thực tiễn này cho thấy rằng, việc lựa chọn đề tài "Vai trò của nhà
nước Việt Nam trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường định hướng
XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế" mà nội dung trọng tâm là đề xuất các
giải pháp cụ thể, đồng bộ để hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà n
ước là rất
cần thiết và cấp bách. Chắc chắn đây sẽ là một trong những nội dung cơ bản
về lý luận và thực tiễn của sự nghiệp phát triển kinh tế Việt Nam không chỉ
đến năm 2020 mà cả trong thời kỳ tương lai lâu dài.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu
2.1. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu nước ngoài
Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại được thực
hiện trong m
ối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và doanh nghiệp và được
thể hiện chính bằng thể chế kinh tế của Nhà nước.
Thể chế kinh tế là sản phẩm quan trọng nhất của Nhà nước. Thể chế
kinh tế trước hết đảm bảo Nhà nước thực hiện được vai trò của mình trong
nền kinh tế và quyết định tính hiệu quả và hiệu lực của quản lý nền kinh tế
còn của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân; không chỉ
trong lĩnh vực kinh tế
mà còn trong các lĩnh vực xã hội, văn hoá.
Mặc dù nghiên cứu rất nhiều về thể chế, nhưng các học giả nước ngoài lại
ít đề cập đến thể chế kinh tế của nhà nước. Đa phần các nghiên cứu về thể chế
kinh tế đều đề cập đến thể chế thị trường và xem Nhà nước là một chủ thể
tham gia thị trườ
ng. Cách tiếp cận này phù hợp với những nền kinh tế thị
trường phát triển cao, nơi các nguyên tắc và quy tắc của thị trường được thừa
nhận và tuân thủ như pháp luật. Bản thân các quy định pháp lý tại các nền
5
kinh tế này cũng bám rất sát thị trường và được xây dựng trên các nguyên lý
hoạt động của thị trường. Tuy nhiên, nếu so sánh và áp dụng các nghiên cứu
này cho các nền kinh tế đang phát triển, đang trong quá trình chuyển đổi sang
kinh tế thị trường thì sẽ có những khập khiễng nhất định.
Xem xét các nghiên cứu từ Trung Quốc, quốc gia cũng đang thực hiện
quá trình chuyển đổi và hội nhập kinh tế quốc tế như Việ
t Nam, thể chế kinh
tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc là thuật ngữ được nhắc đến tương đối
nhiều. Tác giả Lưu Dư Huyệt (Trung Quốc) đã nêu ra khái niệm về thể chế
kinh tế như sau: “Thể chế kinh tế là hình thức tổ chức cụ thể và chế độ quản
lý kinh tế của một chế độ kinh tế – xã hội hoặc một quan hệ s
ản xuất”
1
. Ông
cũng cho rằng thể chế kinh tế là sản phẩm của một chế độ kinh tế – xã hội hay
nói cách khác chính là sản phẩm của Nhà nước. Các nghiên cứu khác ở Trung
Quốc đề cập nhiều đến vai trò thiết lập khung pháp lý và ban hành chính sách
kinh tế của nhà nước, mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp chưa
được đề cập một cách thoả đáng.
Âu, Nga và các nước trong khu vực đã chỉ rõ vai trò c
ủa Nhà nước và những
việc Nhà nước cần làm, nên làm trong điều kiện Việt Nam chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Đây có thể xem như
một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về vai trò của Nhà nước
trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Tuy nhiên, công
trình mới dừng ở việc nghiên cứu nhà nước đóng vai trò gì khi chuyển t
ừ nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường.
Các vấn đề về quản lý nhà nước đối với nền kinh tế tiếp tục được
nghiên cứu và giới thiệu trong các tài liệu như: Quản lý nhà nước trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Phân cấp quản lý nhà
nước…vv. Đề tài KX.01.09: “Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” thuộc Chương trình khoa học xã
hội cấp nhà nước giai đoạn 2001-2005 (KX.01) do GS.TSKH. Lương Xuân
Quỳ làm chủ nhiệm đã nhấn mạnh đến yêu cầu cải cách thể chế như là một
trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo hiệu lực và hiệu quả quản lý của
Nhà nước Việt Nam trong nền kinh tế thị trường.
C
ũng trong giai đoạn 2001-2006, nhiều công trình nghiên cứu về quản
lý nhà nước và đổi mới bộ máy nhà nước được thực hiện, tiêu biểu như Đổi
mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của cơ quan hành
7
chính nhà nước các cấp của tác giả Nguyễn Khánh (2003); Nhà nước trong
một thế giới đang chuyển đổi của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (2004);
Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam của tác giả Nguyễn
Ngọc Hiến (2001); Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam của tác giả Nguyễn
Phước Thọ (2001); Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của
quốc hội và chính phủ trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do dân và
trình xây dựng và vận hành thể chế kinh tế th
ị trường trong những năm qua ở
nước ta và đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế này
trong thời gian tới. Trước đó, năm 2002, tác giả Đinh Văn Ân và các cộng sự
đã xuất bản công trình nghiên cứu “Thể chế, cải cách thể chế và phát triển –
lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam”. Cuốn sách đã đi sâu giới
thiệu kinh nghiệm cải cách thể
chế của một số quốc gia trên thế giới tiêu biểu
cho các nước phát triển, các nước đang phát triển, các nền kinh tế chuyển đổi,
đặc biệt là kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình xây dựng thể chế
kinh tế thị trường.
Đầu năm 2007, nằm trong khuôn khổ dự án “Chuyển đổi kinh tế ở Việt
Nam ” do Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam chủ trì, GS.TS. Nguyễn Văn
Thường và các cộng sự
đã thực hiện nghiên cứu “Tiếp tục điều chính chức
năng quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN”. Công trình đã phân tích một cách tương đối đầy đủ về thực
trạng các chức năng của nhà nước Việt Nam, những chức năng còn chồng
chéo, thiếu hiệu quả cũng được đề cập một cách thắng thắ
n. Tuy nhiên, công
trình này chỉ đi sâu nghiên cứu phương thức tổ chức bộ máy và cơ chế phối
hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Các vấn đề về chính sách, pháp
luật kinh tế chưa được đề cập một cách thoả đáng.
Có thể nói, những công trình nêu ở trên là những công trình đầu tiên
nghiên cứu về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam. Tuy nhiên, nhi
ều vấn đề về thể chế kinh tế của nhà nước với tư cách là
một sản phẩm của nhà nước Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc
tế thì còn tồn tại những vấn đề sau:
ể chế kinh tế đang tồn tại ở Việt Nam với thể chế kinh tế của
một nền kinh tế thị trường hiện đại. Trong khi đó, Đại hội IX đã nêu rõ và Đại
hội X tiếp tục khẳng định phát triển nền kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là một nền kinh tế hiện
đại.
Trong bối cảnh thiếu định hình về mục tiêu hướng tới, các luận giải và kiến
nghị sẽ không tạo được sự đồng bộ, hiệu quả. Tính khả thi cũng vì thế mà
giảm sút đáng kể.
10
Ba là, trong quá trình phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp hoàn
thiện thể chế, các công trình đã có ở trong nước chưa đề cập hoặc đề cập một
cách mờ nhạt đến những yêu cầu đăng đặt ra hết sức cấp bách của quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế về luật pháp, về khả năng thực thi luật pháp, về các
chủ thể tham gia nền kinh tế. Nếu như nh
ững năm trước đây, chúng ta chuẩn
bị tham gia vào quá trình hội nhập, yêu cầu xây dựng và cải cách thể chế kinh
tế của nhà nước hướng đến mục tiêu phù hợp với những quy chuẩn mà các
quốc gia và các tổ chức quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc có quan hệ. Tuy
nhiên, giữa việc được chấp nhận với việc chứng tỏ được vị thế, năng lực và
phát triển bền vững
được trong bối cảnh mới là một khoảng cách khá dài. Với
việc trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới, yêu cầu cải
cách thể chế đang đặt ra những vấn đề rất mới, khác hẳn về bản chất. Những
nghiên cứu đã đề cập đều được thực hiện trước thời điểm Việt Nam gia nhập
WTO, chính vì thế cách nhìn nhậ
n và tiếp cận đối với nhân tố này còn chưa
thực sự đầy đủ.
Nói tóm lại, các nghiên cứu trước đây về nhà nước, quản lý nhà nước đối
với nền kinh tế và thể chế kinh tế đã có những đóng góp hết sức quan trọng về lý
luận và thực tiễn cho quá trình đổi mới, tạo ra những tiền đề để tiếp tục nghiên
nay. Chỉ ra được những điểm phù hợp tích cực, ưu đ
iểm và chưa phù hợp bất
cập, yếu kém của thể chế kinh tế hiện tại với yêu cầu của nền kinh tế chuyển
đổi và hội nhập và các nguyên nhân dẫn đến việc tồn tại những điểm chưa
phù hợp.
- Đề xuất được các vấn đề cần đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế của
Nhà nước để phù hợp với kinh t
ế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập kinh tế quốc tế. Phân tích các điều kiện cần thiết đảm bảo thực hiện
có hiệu quả quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế của Nhà nước Việt
Nam đến năm 2020.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thể chế kinh tế c
ảu nhà nướ trong
nèn kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
* Thực trạng thể chế kinh tế của Nhà nướ trong những năm đổi mới (từ
1986 đến nay)
* Đề xuất những quan điểm, nội dung và giải pháp hòan thiện thể chế
kinh tế của nhà nước trong trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhậ
p kinh
tế quốc tế đến năm 2020.
12
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Xét về bản chất, thể chế kinh tế của nhà nước là sản phẩm đặc biệt của
nhà nước. Đây chính là công cụ để nhà nước thực hiện vai trò và chức năng
quản lý kinh tế của mình trong từng giai đoạn phát triển. Mặt khác, sản phẩm
ấy được tạo ra cũng phải xuất phát từ nội hàm về vai trò và chức năng quản lý
kinh t
ế của nhà nước trong những điều kiện cụ thể. Chính vì vậy khi yêu cầu
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI 1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ VAI
TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG HIỆN ĐẠI.
1.1.1. Nền kinh tế thị trường.
Ngày nay người ta không còn phải bàn đến việc Nhà nước có hay không
có vai trò quản lý nền kinh tế. Người ta coi vai trò của Nhà nước trong việc
quản lý nèn kinh tế như một thực tế hiển nhiên. Hầu hết các nước trên thế giới
hiện nay đều phát triển theo mô hình kinh tế hỗn hợp, trong đó cả Nhà nước
và thị trường cùng điều tiết các hoạt động kinh tế. Không ai có thể phủ nhậ
n
tính ưu việt của bàn tay vô hình của thị trường trong việc phân bổ các nguồn
lực khan hiếm, cũng như vai trò to lớn của Nhà nước trong việc bổ sung, hỗ
trợ và dẫn dắt thị trường. Tuy nhiên, cả bàn tay vô hình của thị trường và bàn
tay hữu hình của Nhà nước còn đều không hoàn hảo. Do đó, vấn đề đặt ra đối
với mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ là cần lựa chọn sự
phối hợp tối ưu giữa thị
trường và Nhà nước, giữa cơ chế tự điều chỉnh của bàn tay vô hình với cơ chế
quản lý của Nhà nước nhằm khai thác được triệt để những lợi thế, đồng thời
tránh hoặc giảm thiểu được những thất bại của cả Nhà nước lẫn thị trường.
* Nền kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Ngày nay,
kinh tế thị trường không chỉ là hình thức tổ chức sản xuất phổ biến ở các nước
phát triển, mà còn lan dần sang các nước đang phát triển, có ảnh hưởng to lớn đến
đời sống kinh tế - xã hội của thế giới nói chung, của từng quốc gia nói riêng.
Từ điển "Kinh tế học hiện đại" đã định nghĩa kinh tế th
Cạnh tranh là nguyên tắc có tính nền tảng trong nền kinh tế thị trường.
Các doanh nghiệp phải thường xuyên nâng cao hiệu quả mới có thể đứng vững
trong cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà cung ứng để tối đa hoá lợi nhuận.
Cạnh tranh chính là động lực cho phép các nguồn lự
c được phân bổ một cách
có hiệu quả nhất. Những doanh nghiệp nào yếu kém, thua lỗ sẽ bị phá sản, các
nguồn lực sẽ được chuyển sang các doanh nghiệp hoạt động tốt hơn. Cạnh
tranh và phá sản cũng giới hạn những sai lầm trong kinh doanh. Các doanh
nghiệp sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm thiết thực từ các vụ phá sản
để kinh doanh tốt hơn. Phá sản là sự sàng lọc cần thi
ết để đào thải những doanh
nghiệp yếu kém, làm trong sạch và lành mạnh môi trường kinh doanh. Do áp
lực cạnh tranh, các doanh nghiệp thuộc bất kỳ hình thức sở hữu nào cũng sẽ
sản xuất và kinh doanh có hiệu quả hơn so với trong điều kiện được bảo hộ,
che chắn, không có sức ép chia sẽ thị phần từ phía các nhà cung ứng khác.
15
Giống như một bàn tay vô hình (thuật ngữ nổi tiếng của Adam Smith),
hệ thống giá cả liên kết hành động của các cá nhân ra quyết định riêng rẽ chỉ
tìm kiếm lợi ích riêng cho bản thân họ. Nhưng trong khi theo đuổi lợi ích
riêng một cách vị kỷ, thì chính bàn tay vô hình của thị trường sẽ dẫn dắt họ
tạo nên một kết quả nằm ngoài dự kiến là đem lại lợi ích cho xã h
ội tốt hơn
ngay cả khi họ chủ động định làm như vậy vì trong một thị trường cạnh tranh
sản phẩm sẽ được cung ứng bởi các doanh nghiệp hiệu quả nhất, có chi phí
thấp nhất và phân phối cho những người cần nhất, sẵn sàng trả giá cao nhất.
Chính vì vậy, hệ thống thị trường tỏ ra ưu việt hơn hẳn hệ thống kế hoạch hoá
t
ập trung: nó phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả theo nghĩa cho phép
tối đa hoá phúc lợi của toàn xã hội.
Trên thực tế, các nền kinh tế thị trường được thực hiện dưới rất nhiều
. Trong nền kinh tế đó, các thế mạnh của "thị trường" được sử dụng để
"phát triển lực lượng sản xuất, phát triển nền kinh tế, để xây dựng cơ sở vật
chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân"; còn tính
định hướng XHCN của nền kinh tế đó "được thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu,
t
ổ chức quản lý và phân phối" nhằm mục đích cuối cùng là đạt được "dân
giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội do nhân dân làm chủ,
nhân ái, có văn hoá, có kỷ cương, xoá bỏ áp bức và bất công, tạo điều kiện
cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc"
4
. Nói cách khác, nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, được xác định là nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước nhằm đạt tới mục tiêu đưa đất nước trở thành một quốc gia dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Trong khi đó, nhiều nước tư bản phương Tây và nhiều nhà kinh tế
vẫn
cho rằng ở Việt Nam, các điều kiện để phát triển nền kinh tế thị trường vẫn
chưa được đảm bảo đầy đủ. Ví dụ, theo văn bản chính thức của Uỷ ban Châu
Âu gửi chính phủ Việt Nam nói về "tư cách nền kinh tế thị trường", thì Việt
Nam chưa được coi là nước có nền kinh tế thị trường. Cũng theo Uỷ ban Châu
Âu, để được công nhậ
n là nước có nền kinh tế thị trường, Việt Nam cần đáp
ứng 5 tiêu chí khác nhau (xem Hộp 1.1).
3
Văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2001, tr.86-80.
4
Đảng Cộng sản Việt Nam - Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000. NXB "Sự thật",
Hà Nội, 1991, tr.8.
Bộ Thương mại Mỹ phải đưa sáu tiêu chí vào xem xét khi đưa ra quyết
định. Sáu tiêu chí đó là:
(1) Khả năng chuyển đổi đồng tiền quốc gia đó sang các đồng tiền khác.
(2) Khả năng xác định tiền công dựa trên cơ sở đàm phán tự do giữa
người lao động và ban quản lý.
(3) Mức độ cho phép cho các liên doanh hoặc các hoạt động đầu tư của
các doanh nghiệp nước ngoài tại qu
ốc gia này.
(4) Mức độ nhà nước sở hữu và kiểm soát các phương tiện sản xuất.
(5) Mức độ chính phủ kiểm soát đối với việc phân bổ nguồn lực và các
quyết định về sản lượng và mức giá của doanh nghiệp.
(6) Các nhân tố khác như mức độ thực thi quyền lực của nhà nước được
giới hạn ở mức độ hợp lý.
5
Dẫn từ văn bản "Ý kiến của chính phủ Việt Nam về tư cách nền kinh tế thị trường trong các cuộc điều tra
chống bán phá giá đối với Việt Nam". Bộ Thương mại, dự thảo ngày 27 6-2005.
6
Nguồn: Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội.
18
Những mâu thuẫn về quan điểm nói trên là điều dễ hiểu, vì Việt Nam
hiện đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường, nhiều yếu tố thị trường đang trong giai đoạn hình
thành, còn rất sơ khai. Hơn thế nữa, cho đến nay, trên thế giới, mô hình "kinh
tế thị trường định hướng XHCN" chưa h
ề có tiền lệ cả về phương diện lý luận
và trên thực tiễn.
* Nền kinh tế thị trường hiện đại
Như chúng ta đã biết kinh tế thị trường đã trở thành mô hình kinh tế phổ