mối quan hệ biện chứng giữa các thành phần kinh tế - Pdf 22

Lời mở đầu
Mỗi một con ngời Việt Nam đều có một lòng tự hào về dân tộc rất
mạnh mẽ. Điều đó đợc xuất phát từ tinh thần đoàn kết dân tộc, yêu nớc, sẵn
sàng hi sinh để bảo vệ Tổ Quốc. Từ thời các vua Hùng dựng nớc cho tới nay,
đất nớc Việt Nam đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ đất nớc. Từ
cuộc chiến chống quân Nguyên Mông tới cuộc kháng chiến trờng kỳ chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngày nay, kết quả của sự hi sinh ấy là một đất
nớc hoà bình và phát triển. Tuy nhiên, chúng ta đã chịu một cái giá không
phải là nhỏ: ngoài những thiệt hại không thể tính đợc về ngời, chúng ta còn
phải gánh chịu sự tổn thất to lớn về kinh tế. Đó là: về nông nghiệp 1/7 ruộng
đất bị bỏ hoang, 1/3 ruộng đất không có nớc tới để cày cấy, về công nghiệp
sản lợng năm 1954 so với năm 1939 từ 10% xuống 1,5% Trong thời gian
sau chiến tranh, chúng ta xây dựng một nền kinh té tập trung theo kiểu mẫu
Liên Xô và đã thu đợc một số thành công khắc phục đợc những khó khăn tr-
ớc mắt. Những tởng đó là con đờng đúng đăn, phù hợp với nớc ta nhng một
lần nữa nền kinh tế lại rơi vào khủng hoảng. Năm 1986 là một mốc quan
trọng của nền kinh tế Việt Nam. Tại cuộc họp lần thứ VI của Đảng, quốc hội
quyết định chuyển hớng nền kinh tế từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã
hội chủ nghĩa.
Vậy tại sao chúng ta phải chuyển đổi nền kinh tế? Tại sao lại phải
chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng
xã hội chủ nghĩa? Nền kinh tế này nh thế nào? Từ khi chuyển đổi nền kinh tế
chúng ta đã thu đợc những thành tựu gì? Trong tơng lai chúng ta sẽ phải giải
quyết những vấn đề nào? Trong khuôn khổ của đề án này tôi xin cố gắng làm
rõ những vấn đề trên và cùng xác định những công việc mà tuổi trẻ cần làm
để đa đất nớc phát triển sánh vai cùng các cờng quốc trên thế giới.
1
I.Những vấn đề lý luận về kinh tế thị trờng
1. Nền kinh tế thị trờng là gì?
- Nền kinh tế thị trờng là một mô hình kinh tế mà trong đó hầu hết các

nhiễm môi trờng sống của con ngời mà xã hội phải gánh chịu.
- Sự tác động của cơ chế thị trờng đa đến sự phân hoá giàu nghèo, tác
động xấu đến đạo đức & tình ngời.
- Một nền kinh tế do cơ chế thị trờng điều tiết khó tránh khỏi những
thăng trầm, khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ.
2. Tính quy luật của sự hình thành nền kinh tế thị trờng:
- Phát triển là một sự thay đổi về chất, nh vậy trớc đó chúng ta phải có
sự tích luỹ về lợng. Hay nói cách khác, chúng ta phải hội đủ các điều kiện thì
mới có sự thay đổi đó đợc. Nh vậy, muốn hình thành nền kinh tế thị trờng ,
chúng ta cũng phải hội đủ các quy luật hình thành của nó. Đó là:
+ Sự phân công lao động xã hội: trớc đây trong nền kinh tế tự cung tự
cấp, mỗi một thành viên của nền kinh tế đều tự sản xuất ra các mặt hàng theo
2
nhu cầu và khả năng của mình. Tức là, một ngời nông dân muốn có gạo ăn,
áo mặc thì anh ta phải tự sản xuất ra các thứ đó, không ai cung cấp cho anh
ta. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trờng, các thành viên của nền kinh tế quan
hệ với nhau thông qua hàng hoá. Tức là sản phẩm của ngời này cần thiết cho
ngời kia và có thể trao đổi đợc. Nh vậy tức là phải có ngời sản xuất sản phẩm
này và có ngời sản xuất dản phẩm kia. Đó chính là sự phân công lao động xã
hội. Nếu nền kinh tế không có sự phân công lao động rõ ràng thì sẽ không có
hàng hoá và không hình thành nền kinh tế thị trờng.
+ Quy luật hình thành thứ hai của nền kinh tế thị trờng là sự tồn tại độc
lập và không phụ thuộc vào nhau giữa những doanh nghiệp , những ngời sản
xuất hàng hoá. Có nghĩa là trong nền linh tế thị tròng, việc sản xuất cái gì,
nh thế nào, cho ai là việc riêng của mỗi ngời, mỗi doanh nghiệp. Họ là những
ngời sản xuất độc lập. Những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá có thể là thuộc
quyền sở hữu t nhân, hay thuộc quyền sở hữu tập thể hoặc thuộc quyền sở
hữu của nhà nớc nhng chúng vẫn là những doanh nghiệp sản xuất hàng hoá
độc lập. Đối với xã hội thì lao động của mỗi doanh nghiệp (dù là thuộc hình
thức sở hữu nào) vẫn là lao động t nhân, và chỉ khi nào bán đợc hàng hoá thì

+ Giá trị sử dụng:
- Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm( tính hữu ích) coá thể thoả
mãn nhu cầu nhất định nào đó của con ngời. Mỗi hàng hoá đều có một hay
một số công dụng nhất định để thoả mãn nhu cầu của con ngời. Giá trị sủ
dụng đợc phát hiện dần dần nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và lực lợng
sản xuất. VD: Than đá, lúc đầu loài ngời chỉ biết với công dụng làm chất đốt,
nhng sau này nó đợc dùng vào ngành công nghiệp hoá chất Xã hội ngày
càng tiến bộ, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì số lợng giá trị sử
dụng ngày càng phong phú, đa dạng chất lợng cao.
- Giá trị sử dụng của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên của vật quy định
và là nội dung vật chất của của cải. Do đó, giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh
viễn.
- Giá trị sử dụng là thuộc tính của hàng hoá, nhng nó khong phải là giá
trị sử dụng cho bản thân ngời sản xuât, mà là cho ngời khác, tức là cho xã
hội. Trong nền sản xuất hàng hoá, giá trị sủ dụng đồng thời là vật mang giá
trị trao đổi.
+ Giá trị:
- Giá trị trớc hết biểu hiện ra bên ngoài là quan hệ tỷ lệ về số lợng giữa
các giá trị sủ dụng khác nhau hay còn gọi là giá trị trao đổi. VD: 1 m
vải=5kg thóc. Sở dĩ, vải và thóc là hai hàng hoá khác nhau, mà vẫn có thể
trao đổi cho nhau là vì giữa chúng có một cơ sở chung. Đó là hao phí lao
động xã hội để tạo ra 2 sản phẩm đó.
- Vậy hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá kết tinh trong hàng hoá
là cơ sở để trao đổi hàng hoá, tạo ra giá trị của hàng hoá. Hao phí lao động xã
hội để tạo ra sản phẩm đợc lợng hoá bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
để sản xuất ra hàng hoá đó. Tức là, thời gian cần thiết để sản xuất một hàng
hoá trong điều kiện sản xuất bình thờng, trình độ kỹ thuật bình thờng.
- Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị: giá trị là cơ sở, nội
dung của giá trị trao đổi. Giá trị là phạm trù lịch sử, là phạm trù riêng có của
sản xuất hàng hoá.

kinh tế hàng hoá. Với nhiều đặc tính phù hợp đợc cả thế giới công nhận, vàng
là kim loại đợc lựa chọn.
- Từ khi xuất hiện, tiền tệ đã góp phần rất lớn vào sự phát triển cả kinh
tế, nó thể hiện thông qua 5 chức năng của tiền tệ:
+ Tiền tệ là thớc đo giá trị: ngày nay muốn tiêu dùng bất cứ hàng hoá
nào chỉ cần chúng ta có tiền đều có thể mua đợc dễ dàng. Đây chính là chức
năng cơ bản của tiền. Nh vậy tiền cũng phải có giá trị của nó. Giá trị của tiền
là do lợng lao động xã hội cần thiết để sản xuất vàng quyết định. Trên thị tr-
ờng, giá trị của hàng hoá đợc biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả. Giá cả lên
xuống xung quanh giá trị và do quan hệ cung cầu chi phối và tiêu chuẩn giá
cả không phụ thuộc vào giá trị của vàng.
+ Chức năng là phơng tiện lu thông
- Trong chức năng này thì tiền làm môi giới trong quá trình lu thông
hàng hoá. Chức năng này giúp tách rời hành vi mua và bán. Tức là ngời ta có
thể mua ở một nơi vào một thời điểm nào đó và bán ở một nơi khác vào một
thời điểm khác. Để thực hiện chức năng này phải có tiền thực tế. Trong thời
kỳ đầu ngời ta dùng nén vàng bạc, nhng dần dần đợc thay thế bằng tiền đúc
rồi đến tiền giấy. Trong quá trình lu thông tiền đúc, giấy bị hao mòn nhng giá
trị mà nó đại diện là không thay đổi. Trớc đây, lợi dụng tính đại diện của tiền
đúc và giấy, nhà nớc không ngng sản xuất nhiều tiền loại này làm giảm giá trị
đồng tiền, gây ra khủng hoảng kinh tế. Vì vậy, ngày nay, nhà nớc luôn kiểm
soát giá trị của tiền để bình ổn nền kinh tế.
+ Chức năng là phơng tiện cất trữ:
- Tiền là vật ngang giá chung, nó có thể dùng để trao đổi mọi thứ. Vì
vậy có thể nói rằng tiền là đại biểu cho của cải xã hội, nên nó có thể đợc cất
trữ. Tuy nhiên không phải là tiền nào cũng có thể cất trữ mà chỉ có tiền đầy
đủ giá trị nh vàng mới thực hiện đợc chức năng này. Nếu hàng hoá nhiều thì
5
tiền đã cất trữ sẽ đợc tung ra thị trờng, nếu hàng hoá khan hiếm thì tiền lại đ-
ợc cất trữ.

hàng hoá đợc sản xuất ra trong điều kiện kém (hoặc điều kiện tốt) thì giá trị
thị trờng của hàng hóa lại do hàng hoá ở khu vực điều kiện kém (hoặc điều
kiện tốt) quyết định.
- Dù là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trờng, nhng không
có nghĩa là hai đại lợng đó phải bằng nhau. Giá cả thị trờng của hàng hoá
luôn xoay quanh giá trị thị trờng của nó. Bởi vì giá cả thị trờng còn phụ thuộc
vào quan hệ cung-cầu của hàng hoá trên thị trờng:
Cung là số lợng hàng hoá mà ngời cung sẵn sàngvà có khả năng đa ra
thị trờng ở mỗi một mức giá khác nhau, tại mỗi một thời gian khác nhau.
Cung đợc quyết định bởi khối lợng sản phẩm xã hội đã và sẽ sản xuất ra, tỷ
suất hàng hoá và khối lợng hàng hoá xuất nhập khẩu.
6
Cầu là khối lợng hàng hoá mà ngời tiêu dùng sẵn sàng và có khả năng
mua trên thị trờng ở mỗi mức giá khác nhau, trong mỗi một thời gian khác
nhau.
Khi số lợng cung của một hàng hoá phù hợp với nhu cầu xã hội thì
tổng số giá trị thực của hàng hoá bằng tổng số giá trị thị trờng của nó. Còn
nếu số lợng hàng hoá cung mà lớn hơn nhu cầu của xã hội thì tổng số giá trị
thực của hàng hoá lớn hơn tổng giá trị thị trờng của nó. Ngợc lại khi mà số l-
ợng cung nhỏ hơn cầu thì tổng số giá trị thực của hàng hoá sẽ nhỏ hơn tổng
giá trị thị trờng
d) Lợi nhuận:
Giá trị thặng d đợc quan niệm là con đẻ của toàn bộ t bản ứng trớc, đợc
so sánh với toàn bộ t bản ứng trớc mang hònh thái chuyển hoá là lợi nhuận.
Vậy lợi nhuận có nguồn gốc từ giá trị thặng d. Vậy giá trị thặng d từ đâu sinh
ra?
- Lợi nhuận là giá trị thặng d đợc so với toàn bộ t bản ứng trớc đợc
quan niệm là con đẻ của toàn bộ t bản ứng trớc sẽ mang hình thức chuyển
hoá là lợi nhuận.
- Lợi nhuận đợc đo bằng (g

và thu hẹp lại những mặt hàng nào ế thừa, giá thấp. Một số ngời sẽ chuyển
sang sản xuất những mặt hàng đang thiếu vầ giá cao, bỏ những mặt hàng
mang lại lợi nhuận thấp. Kêt quả là các yếu tố sản xuất nh sức lao động, t liệu
sản xuất, tiền vốn chuyển dịch từ ngành này sang ngành khác. Đây chính là
sự điều tiết sản xuất của quy luật giá trị. Trong lu thông hàng hoá, quy luật
giá trị cũng tham gia vào quá trình vận động của hàng hóa từ nơi giá thấp đến
nơi giá cao. Từ đó phân phối các nguồn hàng hoá một cách hợp lý hơn giữa
các vùng, giữa cung và cầu đối với các loại hàng hoá trên thị trờng.
+ Thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển.: Vì hàng hoá bán theo giá trị
xã hội do hao phí lao động xã hội các thiết quyết định, nên ngòi sản xuất có
ít hao phí lao động cá biệt hơn lao động xã hội cần thiết thì sẽ thu đợc nhiều
lợi hơn. Chính vì vậy muốn thu nhiều lợi hơn, chiến thắng và đứng vững
trong thị trờng cạnh tranh, mỗi nhà sản xuất đều phải không ngừng tìm cách
rút xuống đến mức tối thiểu hao phí lao động cá biệt. Muốn vậy, họ phải
không ngừng tim cách cải tiến lực lợng sản xuất.
+ Phân hoá ngời sản xuất thành kẻ giàu ngời nghèo, và làm nảy sinh
quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa: trong cuộc chạy đua theo lợi nhuận, những
nhà sản xuất nào làm tốt sẽ thu đợc nhiều lợi nhuận trở nên giàu có. Ngợc lại,
những nhà sản xuất khác làm kém hơn sẽ phải chịu sự thua lỗ và trở thành
nghèo hơn. Từ đây, phát sinh ra quan hệ sản xuất TBCN, những ngòi giàu trở
thành ông chủ, những ngời nghèo trở thành những ngời làm thuê. Đây là
quan hệ t sản và vô sản, quan hệ giữa chủ và tớ, quan hệ đối kháng về lợi ích
kinh tế.
8
b) Quy luật cung cầu:
+ Quy luật này thể hiên mối quan hệ khách quan giữa cung cầu trên thị
trờng. Cung và cầu là sự khái quát hai lực lợng cơ bản của thị trờng là: ngời
mua và ngời bán. Vậy cung và cầu là gì?
- Cung là khối lợng hàng hoá và dịch vụ mà các doanh nghiệp tung ra
thị trờng với giá cả nhất định,trong một thời kỳ nhất định. Cung chịu ảnh h-

tranh giữa nhng ngời mua, giữa những ngời sản xuất, cạnh tranh trong nội bộ
ngành, và cạnh tranh giữa các ngành.
Cạnh tranh có vai trò tích cực trong nền sản xuất hàng hoá. Nó buộc
ngời sản xuất hàng hoá phải không ngừng cải tiến kỹ thuật sản xuất, lực lợng
lao động, nâng cao năng suất, tiết kiệm nhiên liệu Hơn nữa,để bán đợc
nhiều hàng hoá hơn thì nhà sản xuất phải không ngừng nghiên cứu thị
truờng, thị hiếu, sở thích của ngời tiêu dùng, từ đó kích thích sự đa dạng của
mẫu mã sản phẩm Nh vậy có thể nói, quy luật cạnh tranh có tác dụng đào
9
thải những cái cũ, lạc hậu, không phù hợp, binh ftuyển những cái mới, tiến
bộ thuc đẩu sản xuất hàng hó phát triển.
Tuy nhiên cùng với những tác dụng của nó, cạnh tranh cò gây ra những
hậu quả: đầu cơ, lừa đảo, ô nhiễm môi trờng, khai thác cạn kiệt tài nguyên
d) Quy luật lu thông tiền tệ:
Khi tiền tệ xuất hiện, sự troa đỏi hàng hoá trực tiếp chuyển sang trao
đổi một cách gián tiếp- trao đổi hàng hoá lấy tiền tệ làm môi giới. Sự vận
động của tiên tệ lấy sự trao đổi hang hoá làm tiền đề gọi là lu thông tiền tệ.
Sự vân động của hàng hoá và tiền tệ là sự thông nhất giữa lu thông tiền tệ và
lu thông hàng hoá. Tuy nhiên số tiền đa vào lu thông không phải là vô tận.
Để thực hiện chức năng phơng tiện lu thông ở mỗi thời kỳ cần có một
số lợng tiền nhất định. Số lợng tiền này đợc xác định bằng quy luật lu thông
tiền tệ. Quy luật này đợc xác định nh sau:
Số lợng tiền
cần thiết
trong lu
thông
=
Tổng số
giá cả hàng
hoá

vốn không phải là hàng hóa). Nhng sự tồn tại của nền sản xuất hàng hoá ở
nớc ta là không thể phủ nhận.
Về điều kiện thứ nhất của sản xuất hàng hoá, đó là phân công lao động
xã hội; chẳng những không mất đi, mà trái lại còn phát triển cả về bề rộng và
chiều sâu. Phân công lao động trong từng khu vực, từng địa phơng ngày càng
phát triển. Sự phát triển của phân công lao động đợc thể hiện ở tính phong
phú, đa dạng và chất lợng ngày càng cao của sản phẩm đa ra trao đổi trên thị
trờng.
Về điều kiện thứ hai, trong nền kinh tế nớc ta, tồn tại nhiều hình thức
sở hữu, đó là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu t nhân (gồm sở hữu cá
thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu t bản t nhân), sở hữu hỗn hợp. Do đó tồn tại
nhiều chủ thể kinh tế độc lập, có lợi ích riêng, nên quan hệ kinh tế giữa họ
chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Hơn nữa, nếu cho rằng,
sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa là chế độ t hữu về t liệu sản xuất thì
10
sẽ không giải thích đợc sự tồn tại của sản xuất, lu thông hàng hóa trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bởi vì nền sản xuất dựa trên chế độ t hữu về
t liệu sản xuất hàng ngày, hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa t bản. Vậy thì muốn tiến
lên chủ nghĩa xã hội phải xoá bỏ chế độ t hữu, thiết lập chế độ công hữu về t
liệu sản xuất, có nghĩa là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và trong
chủ nghĩa xã hội không còn điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hoá. Nh vậy
thì mâu thuẫn với thực tế khách quan: trong chủ nghĩa xã hội sẽ vẫn còn kinh
tế hàng hoá, ngay cả khi nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản
xuất. Còn trong chủ nghĩa xã hội thì kinh tế hàng hoá lại có thể tồn tại cả
trong điều kiện hoàn toàn không có chế độ t hữu về t liệu sản xuất.Khi
nghiên cứu nền nông nghiệp t bản chủ nghĩa, Lênin viết: Về mặt lý luận,
nền sản xuất t bản chủ nghĩa có thể hoàn toàn đi đôi với việc không có chế độ
t hữu về ruộng đất, với việc quốc hữu hoá ruộng đất.
Hiện nay, tuy thành phần kinh tế Nhà nớc và kinh tế tập thể, tuy cùng
dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất, nhng các đơn vị kinh tế có sự

11
khoa học kỹ thuật phát triển, năng suất lao động xã hội tăng lên, thúc đẩy lực
lợng sản xuất phát triển mạnh. Kinh tế hàng hóa cũng thúc đẩy phân công lao
động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất. Nó sẽ phát huy đợc tiềm năng, lợi
thế của từng vùng, cũng nh lợi thế của đất nớc, có tác dụng mở rộng kinh tế
đối ngoại.
Ngoài ra, để cạnh tranh đợc trong nền kinh tế hàng hoá, ngời sản xuất
phải căn cứ vào nhu cầu của ngời tiêu dùng, của thị trờng để quyết định sản
xuất sản phẩm gì, với khối lợng bao nhiêu, chất lợng, mẫu mã nh thế nào. Vì
vậy, nó kích thích tính năng động, sáng tạo của chủ thể kinh tế, kích thích
việc nâng cao chất lợng, cải tiến mẫu mã cũng nh tăng khối lợng hàng hóa,
dịch vụ. Nhờ đó mà ngời tiêu dùng sẽ có điều kiện đợc tiếp cận với nhiều loại
hàng hoá hơn, giá rẻ hơn và chất lợng cao hơn. Đời sống nhân dân sẽ đợc
nâng cao lên một bớc, nền kinh tế sẽ có sức cạnh tranh cao hơn.
Sự phát triển của kinh tế thị trờng sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập
trung sản xuất, do đó tạo điều kiện ra đời của sản xuất lớn có xã hội hoá cao;
đồng thời chọn lọc những ngời sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ
cán bộ quản lý có trình độ, lao động lành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển
của đất nớc.
Tóm lại, phát triển kinh tế thị trờng là một nhiệm vụ kinh tế cấp bách
để chuyển nền kinh tế lạc hậu của nớc ta thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập
vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con đờng đúng đắn để phát triển
lực lợng sản xuất, khai thác hiệu quả tiềm năng của đất nớc vào sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
2. Quá trình hình thành nền kinh tế thị trờng ở nớc ta:
Sau khi giành độc lập, học tập theo nhng nớc Đông Âu và Liên Xô cũ,
Việt Nam đã xây dựng một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Trong thời
gian này, mô hình nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã cung cấp phơng tiện
vật chất phục vụ cuộc kháng chiến cứu nớc đồng thời khôi phục lại sản xuất
sau chiến tranh. Tuy nhiên, sau một thời gian phát huy tác dụng thì mô hình

trờng xuất nhập khẩu. Thị truờng lao động, thị trờng tiền tệ, thị trờng bất
động sản cũng bắt đầu hoạt động. Hệ thống cơ cấu thị trờng đã đợc xác lập.
Trên thực tế thj trờng đã có sự biến đổi về chất. Tình trạng khan hiếm hàng
hoá trong giai đoạn chiến tranh và bao cấp đã chấm dứt. Kết quả là thị trờng
nớc ta lần đầu tiên có đợc sự câ đối giữa tổng cung và tổng cầu xã hội. Trong
suốt 5 năm, lợng hàng hoá lu thông tăng liên tục với tốc độ cao, mặt hàng
ngày càng phong phú, chất lợng tăng cao, thị trờng xuất nhập khẩu phát triển
mạnh. Tuy nhiên, nhìn chung thị trờng còn thô sơ, nhỏ hẹp, phân tán, manh
mún, chất lợng cha cao, chủng loại hàng hoá còn nghèo nàn, dịch vụ thơng
mại yếu kém, tính tự phát còn nghiêm trọng. Thị trờng nông thôn, thị trờng
yếu tố sản xuát còn cha phát triển, thị trờng chứng khoán cha có, tệ nạn buôn
lậu, gian lận thơng mại còn nhiều. Kết quả của giai đoạn này là nền kinh té
nớc ta đã ra khỏi khủng hoảng, thị trờng phát triển ổn định, đảm bảo đợc cân
bằng cung-cầu
Giai đoạn 1996-nay: Tình hình thị trờng nớc ta có những đặc trng mới.
Đặc trung tổng quát của thị trờng lúc này là tổng cung vợt xa tổng cầu trong
tình hình tổng cung và tổng cầu đều giảm mạnh. Trên thị trơng xuất hiện
những cơn sốt lạnh trên diện rộng, kéo dài, nhiều mặt hàng công nghiệp có
số lợng tồn kho lớn nh giấy 16000 tấn, thép 400000tấn Thực trạng này còn
nặng nề hơn nhiều vào năm 1999: lợng than tồn kho vào tháng 6/1999 lên tới
gàn 5 triệu, tính tới tháng 10/1999 lợng giấy tồn kho là 15186 tấn, thép chỉ
khai thác đợc 50-60% công suất thiết kế, Tổng công ty phân đạm và hoá chất
Hà Bắc sản xuấ cả năm chỉ đạt 20-40% công suất, các dịch vụ về du lịch và
khách sạn cũng cung thừa.Mặc dù cho tới những năm sau chính phủ đã có
chủ trơng kích cầu nhgn mọi chuyện vẫn không đợc giải quyết. Tuy thị trờng
trong nớc gặp nhiều khó khăn nhng thị trờng xuất nhập khẩu lại hoạt động rất
sôi động, trong đó xuất khẩu thì tăng mạnh, nhập khẩu thì giảm. Trên thị tr-
ờng đầu t, sự tiến triển rất chậm chạp, nguyên nhân chủ yếu là do đầu t nớc
ngoài liên tục giảm sút. Nếu trong những năm 1994-1997 FDI dạt bình quân
2 tỷ USD/năm, thì năm 1998 chỉ còn 800 triệu và năm 1999 là vào khoảng

mọi nguồn lực trong nớc và ngoài nớc để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
của CNXH, tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế; trên
cơ sở đó, cải thiện từng bớc đời sống của nhân dân, từng bớc thực hiện sự
công bằng, bình đẳng và lành mạnh các quan hệ xã hội. Phát triển kinh tế thị
trờng sẽ khắc phục đợc tình trạng tự túc tự cấp của nền kinh tế, thúc đẩy phân
công lao động xã hội phát triển, mở rộng ngành nghề, tạo việc làm cho ngời
lao động; áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nhằm tăng
năng suất lao động xã hội, tăng số lợng, chất lợng và chủng loại hàng hoá
dịch vụ; thúc đẩy tích tụ, tập trung sản xuất, mở rộng giao lu kinh tế giữa các
địa phơng, các vùng lãnh thổ, với các nớc trên thế giới, động viên mọi nguồn
lực trong nớc và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài; thúc đẩy việc phát huy
tinh thần năng động, sáng tạo của mỗi ngời lao động, mỗi đơn vị kinh tế, tạo
ra tốc độ tăng trởng kinh tế cao, đa nớc ta thoát khỏi tình trạng một nớc
nghèo và kém phát triển, thực hiện đợc mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng dân chủ văn minh theo con đờng XHCN.
Sự thành công của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN không chỉ dừng lại
ở tốc độ tăng trởng kinh tế cao, mà còn phải không ngừng nâng cao đời sống
nhân dân, đảm bảo tốt các vấn đề xã hội và công bằng, bình đẳng trong xã
14
hội. Đảng ta đã chủ trơng tăng trởng kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bớc phát triển.
Tóm lại, phát triển kinh tế thị trờng ở nớc ta là phơng tiện khách quan
để xã hội hoá XHCN nền sản xuất, để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền
kinh tế quốc dân, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH.
3.2. Nền kinh tế thị trờng gồm nhiều thành phần cùng tồn tại và
phát triển nhng kinh tế Nhà nớc phải luôn giữ vai trò chủ đạo:
Nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta là nền kinh tế cơ sở cơ
cấu đa dạng về hình thức sở hữu, trong đó sở hữu Nhà nớc làm chủ đạo. Do
đó nền kinh tế gồm nhiều thành phần, trong đó nền kinh tế Nhà nớc giữu vai
trò chủ đạo.

phối do quan hệ sản xuất thống trị, trớc hết là quan hệ sở hữu quyết định.
Phân phối có liên quan đến chế độ xã hội, đến chính trị. Dới chủ nghĩa t bản,
phân phối theo nguyên tắc giá trị: đối với ngời lao động theo giá trị sức lao
động, còn đối với nhà t bản theo giá trị t bản. Nh vậy, thu nhập ngời lao động
chỉ giới hạn ở sức lao động mà thôi. Chủ nghĩa xã hội có đặc trng riêng về sở
15
hữu, do đó chế độ phân phối cũng có đặc trng riêng; phân phối theo lao động
là đặc trng của chủ nghĩa xã hội. Thu nhập của ngời lao động không chỉ giới
hạn ở giá trị sức lao động, mà nó phải vợt qua đại lợng đó, nó phụ thuộc chủ
yếu vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế.
Tuy nhiên việc đo lờng trực tiếp lao động là một vấn đề phức tạp và
khó khăn, nhng trong nền kinh tế thị trờng, có thể thông qua thị trờng để
đánh giá kết quả lao động, sự cống hiến thực tế và dựa vào đó để phân phối.
Nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta gồm nhiều thành phần
kinh tế. Vì vậy cần thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập: phân phối
theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, phân phối dựa trên mức đóng góp
các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh, và phân phối thông qua các quỹ phúc
lợi xã hội, trong đó phân phối theo kết quả lao động giữ vai trò nòng cốt, đi
đôi với chính sách điều tiết thu nhập một cách hợp lý. Chúng ta không coi bất
bình đẳng xã hội nh là một trật tự tự nhiên, là điều kiện của sự tăng trởng
kinh tế, mà thực hiện mỗi bớc tăng trởng kinh tế gắn liền với cải thiện đời
sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội. Chỉ có nh vậy mới khai thác
đợc khả năng của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, huy động đợc mọi nguồn
lực của đất nớc vào phát triển kinh tế, đồng thời vẫn đảm bảo giữ vững con đ-
ờng tiến lên chủ nghĩa xã hội.
3.4. Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc XHCN:
Nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN cũng vận động theo yêu cầu
của những quy luật vốn có của kinh tế thị trờng, nh quy luật giá trị, quy luật
cung-cầu, cạnh tranh,; giá cả do thị trờng quyết định, thị trờng có vai trò

động theo những quy luật vốn có của nó. Còn kế hoạch hoá là hình thức thực
hiện của tính kế hoạch, nó là sản phẩm chủ quan của chủ thể quản lý. Kế
hoạch và cơ chế thị trờng là hai phơng tiện khác nhau để phát triển và điều
tiết nền kinh tế. Kế hoạch là sự điều chỉnh có ý thức của chủ thể quản lý đối
với nền kinh tế, còn cơ chế thị trờng là sự tự điều tiết của bản thân nền kinh
tế.
Sự kết hợp kế hoạch với thị trờng đợc thực hiện cả ở tầm vi mô lẫn vĩ
mô. ở tầm vi mô, thị trờng là căn cứ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Thông qua sự biến động của quan hệ cung-cầu và giá cả thị trờng, các doanh
nghiệp lựa chọn đợc phơng án sản xuất. Cũng nhờ đó mà doanh nghiệp lựa
chọn đợc cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu t cho mình. Thoát ly yêu cầu của thị tr-
ờng, các mục tiêu của kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ
không thực hiện đợc.
ở tầm vĩ mô, mặc dù thị trờng không phải là căn cứ duy nhất có tính
chất quyết định, song kế hoạch Nhà nớc cũng không thể thoát ly khỏi tình
hình biến động của thị trờng. Thoát ly thị trờng, kế hoạch vĩ mô trở thành duy
ý chí. Kế hoạch hoá vĩ mô nhằm đảm bảo cân đối lớn, tổng thể của nền kinh
tế nh tổng cung - tổng cầu, sản xuất tiêu dùng, hàng hoá - tiền tệ. Kế hoạch
hoá vĩ mô có thể tác động đến cung, cầu, giá cả để uốn nắn những lệch lạc
của sự phát triển do sự tác động tự phát của thị trờng gây ra, thông qua đó mà
hớng hoạt động của thị trờng theo hớng của kế hoạch.
3.5. Nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN cũng là nền kinh tế mở,
hội nhập:
Nền kinh tế thị trờng ở nớc ta là nền kinh tế mở, hội nhập với kinh tế
thế giới và khu vực, thị trờng trong nớc gắn với thị trờng thế giới, thực hiện
những thông lệ trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhng vẫn giữ đợc độc lập chủ
quyền và bảo vệ đợc lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan hệ kinh tế đối
ngoại. Thực ra, đây không phải là đặc trng riêng của nền kinh tế thị trờng
định hớng XHCN, mà là xu hớng chung của các nền kinh tế trên thế giới hiện
nay. (ở đây muốn nhấn mạnh sự khác biệt so với nền kinh tế đóng, khép kín

một số cơ sở kinh tế đã đợc trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại, trong
nhiều ngành kinh tế, máy móc cũ kỹ, công nghệ lạc hậu. Theo UNDP, Việt
Nam đang ở trình độ công nghệ lạc hậu 2/7 của thế giới, máy móc thiết bị lạc
hậu 2-3 thế hệ (có lĩnh vực 4-5 thế hệ). Lao động thủ công vẫn chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số lao động xã hội. Do đó, năng suất, chất lợng, hiệu quả
sản xuất của nớc ta còn rất thấp so với khu vực và thế giới (năng suất lao
động của nớc ta chỉ bằng 30% mức trung bình của thế giới).
Kết cấu hạ tầng nh hệ thống đờng giao thông, bến cảng, hệ thống
thông tin liên lạccòn lạc hậu, kém phát triển. Hệ thống giao thông kém phát
triển làm cho các địa phơng, các vùng bị chia cắt, tách biệt nhau, do đó làm
cho nhiều tiềm năng của các địa phơng không thể đợc khai thác, các địa ph-
ơng không thể chuyên môn hoá sản xuất để phát huy thế mạnh.
Do cơ sở vật chất kỹ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao
động kém phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm. Nền kinh tế nớc ta
cha thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ. Nông nghiệp vẫn sử
dụng khoảng 70% lực lợng lao động, nhng chỉ sản xuất khoảng 26% GDP,
các ngành kinh tế công nghệ cao chiếm tỷ trọng thấp.
Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trờng trong và
ngoài nớc là rất kém. Do cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao động
thấp dẫn đến khối lợng hàng hoá nhỏ bé, chủng loại nghèo nàn, chất lợng
thấp mà giá thành lại quá cao.
18
4.2. Các loại thị trờng trong nớc đang trong quá trình hình thành
nhng cha đồng bộ:
Thị trờng hàng hoá - dịch vụ đã hình thành nhng còn hạn hẹp và còn
nhiều tiêu cực (hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn hiệu vẫn làm rối
loạn thị trờng).
Thị trờng sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới thiệu việc
làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhng nảy sinh nhiều hiện tợng tiêu
cực. Nét nổi bật của tinh trạng này là thừa lao động giản đơn, trình độ thấp;

và thách thức hết sức gay gắt. Nhng hội nhập là xu thế tất yếu và khách quan,
nên không thể đặt vấn đề tham gia hay không tham gia mà chỉ có thể là tham
gia nh thế nào để có thể tận dụng đợc thời cơ, đẩy lùi đợc nguy cơ. Trình độ
phát triển kinh tế - kỹ thuật cũng nh quản lý của nớc ta hiện còn kém xa các
nớc trong khu vực và trên thế giới, điều đó gây cho chúng ta những bất lợi to
lớn trong quá trình hội nhập, trong việc cạnh tranh với nớc ngoài. Nhng nói
19
nh vậy không có nghĩa là chúng ta không có những lợi thế riêng, không có
những điểm mạnh so với các nớc khác. Vấn đề là chúng ta phải chủ động hội
nhập, chuẩn bị thật tốt, bám sát lộ trình hội nhập, hạn chế, khắc phục điểm
yếu, tìm ra và tận dụng tốt nhất cái mạnh tơng đối của nớc ta trong cạnh
tranh trên thị trờng trong nớc và quốc tế
4.5 Quản lý nhà nớc về xã hội còn yếu kém:
Trớc tiên hãy nhìn vào hệ thống pháp luật, chúng ta không có đợc một
bộ luật đồng bộ, còn chồng chéo nhau. Sự phối hợp giữa nhng xó quan chính
quyền còn khôn gthật nhuần nhuyễn. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
và thi hành pháp luật còn nhiều bất cập. Tình trạng khôn gchấp hành luật lệ còn
khá phổ biến. Một vấn đề nữa, do nghiệp vụ hành chính của các công chức nhà
nớc không cao nên có nhiều công đoạn, rờm rà, không hiệu quả.
6. Các giải pháp phát triển nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam:
a) Vấn đề sở hữu:
Trớc đây, khi chúng ta xây dựng một nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung, xoá bỏ nền kinh tế thị trờng, chúng ta thiết lập một cơ cấu sở hữu đơn
giản với hai hình thức là sở hữu toàn dân, và sở hữu tập thể. Vì vậy khi đổi
mới sang nền kinh tế thị trờng chúng ta phải đổi mới cơ cấu sở hữu. Điều
này đợc thực hiện bằng cách đa dạng hoá sở hữu, nó sẽ dẫn đến hình thành
những chủ thể kinh tế đọc lập, có lợi ích riêng, tức là khôi phục một trong
những cơ sở của kinh tế hàng hoá. Trên cơ sỏ đa dạng hoá các hình thức sở
hữu, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần. Lấy việc phát triển sc sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế-

chúng ta phải hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trờng. Trong
những năm tới thì chúgn ta phải:
+ Phát triể thị trờng hàng hoá và dịch vụ thông qua việc đẩy mạnh sản
xuất, thúc đẩy chuyển diach cơ cấu kinh tế, phát triển giao thông và phơng
tiên vận tải để mở rộng thị trờng. Hình thành thị trơng sức lao động có tổ
chức để tạo điều kiện cho sự di chuyển lao động theo yêu cầu phát triển kinh
tế và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực.
+ Xây dựng thị trờng vốn, từng bớc hình thành và phát triển thị trờng
chứng khoán để huy động các nguồn vốn vào sản xuất.
+ Quản lý chặt chẽ đất đai và thị trờng bất động sản. Xây dựng và phát
triển thị trờng thôn tin và khoa học kỹ thuật.
e) Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại:
Trong điều kiện hiện nay, chỉ có mở cửa kinh tế và hội nhập vào kinh tế
khu vực và thế giới, mới thu hút đợc vốn khoa học kỹ thuật hiện đại để khai
thác tiềm năng và thế mạnh của đất nớc nhăm phát triển kinh tế. Khi mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng hại bên cùng
có lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau. Mở rộng kinh tế đối ngoại theo
hớng đa phơng hoá, đa dạng hoá các hình thức kinh tế đối ngoại. Hiện nay
cần đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là trọng điểm của kinh tế đối ngoại.
Bằng mọi khả năng, chúng ta phải thu hút vốn đầu t nớc ngoài trực tiếp. Việc
thu hút vốn đầu t nớc ngoài cần tập trung vào các nghành, lĩnh vực, sản phẩm
có công nghệ cao, tỷ trọng xuấtkhẩu cao.Chủ động tham gia các tổ chức kinh
tế, thơng mại quốc tế, các diễn đàn, các tổ chức, các định chế quốc tế một
cách có chọn lọc, với bớc đi thích hợp.
f)Phát huy nguồn lực con ngời:
Đây là một nhân tố có một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế.
Con ngời vừa là lực lợng sản xuất ra của cải vật chất, vừa là nơi tiêu thụ
những sản phẩm đó và nó cũng là nhân tố quyết định ba vấn đề cơ bản của
kinh tế: sản xuất cái gì, nh thế nào và cho ai. Để phát triển nguồn lực con ng-
ời, chúng ta phải không ngừng xây dựng và phát triển giáo dục. Chúgn ta cần

chuyển đổi này là một bớc đi đúng đắn. Vậy nên kinh tế thị trờng mà nớc ta
lựa chọn để xây dựng là một nền kinh tế hàng hó nhiều thành phần hoạt động
theo cơ chế thị truờng có sự điều tiết của nhà nớc theo sự định hớng xã hội
chủ nghĩa. Hiện nay chúng ta đang là những sinh viên, nhiệm vụ đó là học
tạp và nghiên cứu tích luỹ tri thức để có thể góp sức xây dựng đất nớc.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status