Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp: Thực trạng đầu tư phát triển tại công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn - Pdf 22

Đề tài: Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG 3
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đầu tư phát triển trong doanh
nghiệp 2
1.1. Đầu tư phát triển 2
1.1.1.Khái niệm đầu tư phát triển 2
1.1.2.Đặc điểm đầu tư phát triển 4
1.1.3.Vai trò đầu tư phát triển 6
1.1.4.Nguồn vốn đầu tư phát triển 8
1.2.Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp 9
1.2.1.Khái niệm: 9
1.2.2.Tầm quan trọng của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp 9
1.2.3.Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp 11
1.2.3.1.Đầu tư cho xây dựng cơ bản 11
1.2.3.2.Đầu tư phát triển nguồn nhân lực 12
1.2.3.3.Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển 13
1.2.3.4.Đầu tư mua sắm hàng tồn trữ 14
1.2.3.5.Đầu tư cho marketing, củng cố uy tín và xây dựng thương hiệu. 15
1.2.3.6.Đầu tư cho chất lượng sản phẩm 15
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
1
Đề tài: Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
1.2.3.7.Đầu tư cho tài sản vô hình khác 16
Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển tại Công ty CP Xi măng Bỉm
Sơn 16
2.1. Giới thiệu chung về Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn 16
2.2. Thực trạng đầu tư phát triển giai đoạn 2002 – 2010 17
2.2.1. Nguồn vốn đầu tư phát triển 17

nội dung cơ bản của hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là gì? Các
doanh nghiệp tiến hành hoạt động đầu tư này như thế nào? Và sau khi đầu tư đã
đem lại kết quả, hiệu quả gì cho doanh nghiệp?
Trong bài viết này, tôi lấy thực trạng đầu tư phát triển tại Công ty Cổ phần
xi măng Bỉm Sơn làm ví dụ. Tuy công ty chỉ là một trong số hàng ngàn các công
ty khác có tiến hành hoạt động đầu tư phát triển, song lĩnh vực hoạt động, ngành
nghề hoạt động, quy mô của công ty cũng có thể cho phép chúng ta có được một
cái nhìn tổng quát về hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp. Vì vậy, em
đã chọn đề tài: “Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp. Thực
trạng đầu tư phát triển tại công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn”.
Tiểu luận của tôi gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển tại Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển tại
Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn.
Do thời gian và trình độ hiểu biết còn nhiều hạn chế nên tiểu luận này không
tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô.
Em xin chân thành thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Từ Quang Phương đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
1
Đề tài: Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đầu tư
phát triển trong doanh nghiệp.
1.1. Đầu tư phát triển.
1.1.1. Khái niệm đầu tư phát triển.
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện
tại để tiến hành các hoạt động nhằm tăng them hoặc tạo ra những tài xản vật chất
( nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ ( trí thức, kĩ năng…), gia tăng năng lực sản
xuất,tạo them việc làm và vì mục tiêu phát triển.

cao chất lượng cuộc sống vì mục tiêu phát triển, do đó cũng được xem là hoạt động
đầu tư phát triển.
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia,
cộng đồng và nhà đầu tư. Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm mục đích thúc đẩy tưng
trưởng kinh tế,tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao
đời sống của thành viên trong xã hội. Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi
phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…
Đầu tư phát triển thương được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định. Xác
định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung
và vốn đầu tư nói riêng. Chủ đầu tư là ngời sở hữu vốn hoặc được giao quản lý, sử
dụng vốn đầu tư. Theo nghĩa đầy đủ, chủ đầu tư là người sở hữu vốn, ra quyết định
đầu tư, quản lý quá trình thực hiên và vận hành kết quả đầu tư và là người hưởng lợi
thành quả đầu tư đó. Chù đầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát đầu tư, chịu
trách nhiệm toàn diện về những sai phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu tư đến
môi trường môi sinh và do đó có ảnh hưởng quan trọng đến việc nâng cao hiệu quả
hoạt động đầu tư. Thực tế quản lý còn có những nhận thức sai lầm về quan điểm
chủ đầu tư.
Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình diễn ra trong thời kì dài và tồn tại
vấn đề “độ trễ thời gian”. Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu
tư với thời gian vân hành kết quả đầu tư. Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư
thường thu được trong tương lai. Đặc điểm này của đầu tư cần được quán triệt khi
đánh giá kết quả, chí phí và hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển.
Nội dung đầu tư phát triển ở phạm vi doanh nghiệp và phạm vi nền kinh tế có
thể khác nhau. Trên góc độ nền kinh tế, đầu tư phát triển phải làm gia tăng tài sản
cho nền kinh tế chứ không phải chuyển giao tài sản giữa các đơn vị.
Đầu tư phát triển khác về bản chất với đầu tư tài chính. Đầu tư tài chính là loại
đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trên
thị trường tiền tệ,thị trường vốn để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
3

triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm. Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong
suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cần tiến hành
phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
4
Đề tài: Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng
thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
 Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài. Thời gian vận hành các kết
quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sử
dụng và thanh lý công trình. Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài, có
thể tồn tại vĩnh viễn như các Kim tự tháp Ai Cập, Nhà thờ La Mã ở Rôm….Trong
suốt quá trình vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực
và tiêu cực, của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế xã hội…Để thích ứng với
đặc điểm này, công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một số nội dung sau:
- Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học cả ở cấp vĩ
mô và vi mô về nhu cầu thị trường với sản phẩm đầu tư tương lai, dự kiến khả năng
cung từng năm và toàn bộ vòng đời dự án.
- Thứ hai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa các thành quả đầu
tư vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh hao
mòn vô hình.
- Thứ ba, chú ý đúng mức tới yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu tư
trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong năm
đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm. Đây là đặc điểm rất riêng của
lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn tới công tác quản lý hoạt động đầu tư
 Các thành quả hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng
thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên. Do đó, quá trình
thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng
lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng. Không thể dễ dàng dịch
chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác,nên công tác quản lý hoạt

1.1.3. Vai trò đầu tư phát triển.
a. Các lý thuyết về đầu tư phát triển sản xuất.
Khái niệm về sản xuất: Sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào
thành những sản phẩm đầu ra.
Lý thuyết về hàm sản xuất Cob Douglas: Các nhà kinh tế phân chia các yếu tố
sản xuất (đầu vào) thành: lao động (L), tư liệu sản xuất gồm có tư liệu lao động và
đối tượng lao động (nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị, nhà xưởng…) (K).
Để phản ánh mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp ta dùng
hàm sản xuất. Hàm sản xuất chỉ rõ mức sản lượng Q tối đa mà ta có thể thu được từ
các tập hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào tương ứng với một trình độ công nghệ
nhất định.
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
6
Đề tài: Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Để có thể tiến hành và phát triển sản xuất cần phải có vốn, lao động, trong đó
yếu tố vốn ở đây bao gồm tất cả các chi phí để mua tư liệu lao động và đối tượng
lao động, chi phí bồi dưỡng lao động đủ trình độ quản lý, sử dụng các đối tượng lao
động sản xuất ra sản phẩm với năng suất và chất lượng ngày càng cao. Như vậy, suy
cho cùng, để tiến hành sản xuất với quy mô ngày càng lớn cần phải tăng các yếu tố
đầu vào, tức là phải tăng chi phí cho các yếu tố đầu vào hay nói cách khác là phải
tăng đầu tư cho các yếu tố này.
Tăng đầu tư vốn cho phép tăng các đầu vào không chỉ về số lượng mà cả về
chất lượng và do đó tất yếu đầu ra sẽ không chỉ lớn hơn về số lượng mà còn cao hơn
cả về chất lượng.
Theo Keyness, mỗi sự gia tăng về vốn đầu tư đều kéo theo sự gia tăng nhu cầu
về nhân công và nhu cầu về tư liệu sản xuất. Do đó, làm tăng việc làm và nhu cầu
tiêu dùng của nền kinh tế. Tất cả các điều đó làm tăng thu nhập của nền kinh tế và
đến lượt mình thu nhập tăng lại tăng đầu tư mới. Quá trình này thể hiện thông qua
một đại lượng là số nhân đầu tư. Số nhân đầu tư thể hiện mối quan hệ giữa mức
tăng thu nhập và mức gia tăng đầu tư. Số nhân này xác định sự gia tăng đầu tư sẽ

chính là hoạt động đầu tư.
1.1.4. Nguồn vốn đầu tư phát triển.
Nguồn lực để thực hiện đầu tư là vốn.Nội dung và nguồn gốc của vốn là
những vấn đề cốt lõi cần phải giải quyết của lý thuyết đầu tư phát triển.Bản chất của
đầu tư phát triển còn được thể hiện ở nội dung vốn và nguồn vốn đầu tư, lý luận
biện chứng về mối quan hệ hữu cơ giữa hai vấn đề này.
Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung.Trên phương
diện kinh tế,vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã
chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động)
và các khoản đầu tư phát triển khác.Về cơ bản vốn đầu tư phát triển mang những
đặc trung của vốn như:(1) vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản;(2) vốn phải
vận động sinh lời;(3) vốn cần được tích tụ và tập trung đến một mức nhất định
mới có thể phát huy tác dụng;(4) vốn phải gắn với chủ sở hữu;(5) vốn có giá trị
về mặt thời gian.
Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển trên phạm vi nền kinh tế bao gồm:
(a). Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: là những chi phí bằng tiền để xây dựng mới,
mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong
nền kinh tế quốc dân.
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
8
Đề tài: Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
(b). Vốn lưu động bổ sung: bao gồm những khoản đầu tư nhằm mua sắm
nguyên vật liệu, thuê mướn lao động…làm tăng tài sản lưu động trong kỳ của toàn
bộ xã hội.
(c). Vốn đầu tư phát triển khác: là tất cả cá khoản đầu tư của xã hội nhằm gia
tăng năng lực phát triển của xã hội, nâng cao trình độ dân trí, cải thiện chất lượng
môi trường. Ví dụ như vốn đầu tư cho lĩnh vực giáo dục: chương trình phổ cập giáo
dục, nghiên cứu, triển khai đầo tạo…Vốn chi cho các chương trình mục tiêu quốc
gia nhằm tăng cường sức khoẻ cộng đồng như chương trình tiêm chủng mở rộng,
chương trình nước sạch nông thôn…

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua cá mặt sau :
Thứ nhất: Tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, xã
hội liên tục phát triển, nền kinh tế toàn cầu nói chung, nền kinh tế mỗi quốc gia nói
riêng cũng vì thế mà không ngừng vận động phát triển.
Thị trường ngày càng trở nên sôi động , nhu cầu của con người phát triển đòi
hỏi tiêu dùng nhiều hơn, hàng hoá phải có chất lượng cao, mẫu mã đẹp đa dạng
và phong phú. Vì thế mà các nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thi jtrường
muốn tồn tại được thì phải đáp ứng nhu cầu đó của dân cư.Vì tất lẽ đó mà đòi hỏi
nhà sản xuất phải tiến hành đầu tư phát triển. Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp
có thể được tiến hành theo những chiến lược khác nhau để giành được thế cạnh
tranh trên thị trường. Do đó đầu tư tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Thứ hai: Đầu tư tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm
Như chúng ta đã biết, đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm: đầu tư vào lao động
, đầu tư vào tài sản cố định, đầu tư vào hàng dự trữ …Tất cả việc đầu tư này nhằm
mục đích là tạo ra một sản phẩm với chất lượng cao, mẫu mã đẹp để đáp ứng nhu
cầu của con người trong xã hội hiện đại. Điều này đã được chứng minh, trong
nhưng năm qua các doanh nghiệp muốn tồn tại trong nền kinh tế thị trường thì căn
bản nhất là phải nâng cao chất lượng sản phẩm hạ giá thành.
Thứ ba là: Đâu tư tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
10
Đề tài: Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Không có doanh nghiệp nào tiến hành sản xuất kinh doanh lại không đặt mục
tiêu về lợi nhuận. Không chỉ là mong muốn có lợi nhuận mà họ còn mong muốn
tiền của họ không ngừng tăng lên tức là quy mô lợi nhuận ngày càng được mở rộng.
Hoạt động đầu tư của mỗi doanh nghiệp chính là hoạt động nhằm thực hiện
chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó với mục tiêu đạt được lợi
nhuận mà doanh nghiệp đề ra. Khi lợi nhuận càng cao thì lợi ích càng lớn và
ngược lại

 Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm:
- Đầu tư cho hoạt động xây dựng gồm:
- Thăm dò, khảo sát, thiết kế.
- Xây dựng mới, xây dựng lại công trình.
- Cải tạo, mở rộng, nâng cấp, hiện đại hóa công trình.
- Sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc.
- Lắp đặt máy móc thiết bị vào công trình.
- Thuê phương tiện máy móc thi công có người điều khiển đi kèm.
 Hoạt động lắp đặt máy móc thiết bị. Công tác lắp đặt máy móc thiết bị
là quá trình lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ hoặc bệ máy cố định để máy móc
và thiết bị có thể hoạt động được như: lắp đặt các thiết bị máy sản xuất, thiết bị vận
chuyển, thiết bị thí nghiệm, thiết bị khám chữa bệnh….nhưng không bao gồm công
tác lắp đặt các thiết bị là một bộ phận kết cấu của nhà cửa, vật kiến trúc như quạt
thông gió, hệ thống lò sưởi, hệ thống thắp sáng linh hoạt…
 Đầu tư xây dựng cơ bản khác như đầu tư xây dựng các công trình tạm,
các công trình sản xuất phụ để tạo nguồn vật liệu và kết cấu phụ kiện phục vụ ngay
cho kết cấu xây dựng…
1.2.3.2. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Lao động (nguồn nhân lực) là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng để
có thể tiến hành sản xuất kinh doanh. Lao động là yếu tố đầu vào duy nhất vừa là
chủ thể đầu tư vừa là đối tượng được đầu tư. Số lượng lao động phản ánh sự đóng
góp về lượng, chất lượng lao động (thể hiện ở trí lực, thể lực, tinh thần và ý thức lao
động) phản ánh bởi sự đóng góp về chất của lao động vào quá trình sản xuất.
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
12
Đề tài: Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn còn có quan niệm con người
chỉ là một yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Việc quản trị nguồn
nhân lực đơn thuần chỉ là thuê mướn và sau đó là “cai quản”. Quan niệm đó dẫn đến
doanh nghiệp không có nhu cầu đào tạo, phát triển nguồn nhân lực của mình; xem

và có tham vọng trở thành người tiên phong trong việc tìm ra công nghệ mới thì
mới có thể theo đuổi hình thức này.
- Nghiên cứu ứng dụng: thường hướng vào giải quyết một số vấn đề đặc biệt.
Nghiên cứu ứng dụng hấp dẫn hơn đối với doanh nghiệp vì có thể nhìn thấy triển
vọng và thực tế cho phép thu hồi vốn đầu tư nhanh hơn. Trong hình thức này, khoa
học cơ bản được vận dụng vào các quá trình công nghệ, vật liệu hay sản phẩm mới.
Thông qua nghiên cứu các doanh nghiệp có thể giảm giá thành sản phẩm nhờ sử
dụng nguyên liệu mới tốt hơn, hoặc tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao hơn,
tăng thêm sức hấp dẫn đối với khách hàng nhờ cải tiến mẫu mã sản phẩm…
Hiện nay chuyển giao công nghệ là hoạt động thường xuyên gắn liền với quá
trình nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, đặc biệt là đối với các doanh
nghiệp ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Hình thức này thường được
thực hiện thông qua quan hệ kinh tế đối ngoại, có thể là trực tiếp (mua công nghệ)
hoặc gián tiếp (qua liên doanh với nước ngoài).
Một số nội dung cho đầu tư khoa học và công nghệ:
- Đầu tư vào hệ thống máy móc thiết bị, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng cho việc
nghiên cứu ứng dụng và triển khai khoa học và công nghệ.
- Đầu tư cho công tác phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ.
- Đầu tư xây dựng hệ thống thông tin quản lý phục vụ hoạt động khoa học và
công nghệ.
- Đầu tư thuê mua bản quyền phát minh, sáng chế.
1.2.3.4. Đầu tư mua sắm hàng tồn trữ.
Hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộ nguyên vật liệu, bán thành phẩm,
các chi tiết phụ tùng và sản phẩm dự trữ. Hàng tồn trữ chiếm tỷ trọng lớn trong tài
sản doanh nghiệp. Các doanh nghiệp khác nhau có các dạng dự trữ khác nhau.
Doanh nghiệp sản xuất hàng tồn trữ gồm nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm và
hàng tồn kho. Doanh nghiệp thương mại dịch vụ, hàng tồn trữ chủ yếu là hàng hóa
tồn kho. Việc duy trì hàng tồn trữ đảm bảo sự sẵn có cho quá trình sản xuất, đảm
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
14

phí thêm cho khâu mua sắm nguyên vật liệu, chi phí cho công tác kiểm tra, chi phí
đào tạo lao động …
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
15
Đề tài: Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
1.2.3.7. Đầu tư cho tài sản vô hình khác.
Tài sản vô hình khác như quyền sử dụng đất, phát minh sáng chế, hoạt động
quản lý…Việc đầu tư cho những tài sản vô hình này là đầu tư phát triển vì khi đã
đầu tư hiệu quả, nó luôn duy trì và gia tăng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển tại Công ty
CP Xi măng Bỉm Sơn.
2.1. Giới thiệu chung về Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn.
Công ty Xi măng Bỉm sơn thành lập năm 1980. Năm 2006 chuyển sang hoạt
động theo mô hình cổ phần. Hoạt động kinh doanh chính của Công ty là là sản xuất
xi măng bao gồm các loại: Xi măng PCB30; Xi măng PCB40; Clinker; Xi măng li
xăng. Trong đó, xi măng PCB30 chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu hàng
năm. Sản phẩm Xi măng của công ty đạt công suất 1,8 triệu tấn xi măng/năm. 2 dây
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
16
Đề tài: Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
chuyền sản xuất gồm: dây chuyền 1 theo phương pháp ướt công suất 0,6 triệu
tấn/năm (theo công nghệ của Liên xô cũ); dây chuyền 2 theo phương pháp khô hiện
đại công suất 1,2 triệu tấn/năm (theo công nghệ của Nhật năm 2001). Mạng lưới
phân phối gồm 1 văn phòng bán hàng trực tiếp tại Nhà máy, 8 chi nhánh tại Hà
Tĩnh, Nghệ An, Ninh Bình, Nam Định, Hà Tây, Thái Bình, Sơn La, Thanh Hóa và 1
văn phòng đại diện tại Lào. Thị trường chủ đạo là Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nam Định,
Hà Tây (chiếm khoảng 70% thị phần). Sản phẩm clinker chủ yếu được tiêu thụ bởi
đơn vị liên kết là công ty Thạch cao xi măng và Công ty Xi măng Hải Vân để
nghiền và đóng bao tại Quảng Bình và Đà Nẵng.
Nguyên liệu đầu vào của công ty chủ yếu tự khai thác gần nhà máy hoặc đấu

dây chuyền số 2
Dự án xây dựng
dây chuyền mới
Sửa chữa lớn
Số tiền
(tỷ đồng)
Tỷ lệ
(%)
Số tiền
(tỷ đồng)
Tỷ lệ
(%)
Số tiền
(tỷ đồng)
Tỷ lệ
(%)
1. Vốn ngân sách
Nhà nước

-

-

-

-

- -
2. Vốn vay
806,8

39
7,518

10.00

276,295 100.00
4. Nợ chưa
thanh toán
2,1
24.00

0.22

-

- -
Tổng số
977,7
47.00

100.00
3,97
5,181

100.00

276,295 100.00
Nguồn: Báo cáo quyết toán vốn đầu tư đã được kiểm toán ngày 31-03-2008
Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư xây dựng dây chuyền mới
Nhận xét:

Số tiền 189 126.52 35.78 26.70
Tỷ lệ (%) 100 66.94 18.93 14.13
2003
Số tiền 230.915 96.375 102.64 31.90
Tỷ lệ (%) 100 41.74 44.45 13.81
2004
Số tiền 168.797 46.36 84.81 37.627
Tỷ lệ (%) 100 27.46 50.24 22.29
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
19
Đề tài: Nội dung cơ bản đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
2005 Số tiền 374.490 78.695 187.690 108.105
Tỷ lệ (%) 100 21.01 50.12 28.87
2006
Số tiền 495.068 120.731 199.554 174.783
Tỷ lệ (%) 100 24.39 40.31 35.30
2007
Số tiền 462 113.420 172.750 175.830
Tỷ lệ (%) 100 24.55 37.39 38.06
Nguồn: Phòng kế hoạch ban quản lý dự án
Nhận xét:
Từ bảng trên ta thấy tổng vốn đầu tư qua các năm của công ty có nhiều biến
động: tổng vốn đầu tư năm 2004 giảm xuống so với năm 2003, đến năm 2005 lượng
vốn đầu tư này tăng lên và tăng cao vào năm 2006. Nguyên nhân của sự biến động
này là do năm 2004, việc cải tạo dây chuyền số 2 đã xong và bắt đầu đi vào sản xuất
ổn định, vượt công suất thiết kế. Thấy được hiệu quả của dây chuyền số 2 nên công
ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn đã tiếp tục chuẩn bị đầu tư dây chuyền sản xuất mới
theo công nghệ khô. Vì vậy vốn đầu tư của các năm 2005 và 2006 đều tăng lên.
Đặc biệt là năm 2006, vốn đầu tư tăng lên cao nhất là vì công ty đang đẩy nhanh
đầu tư chuẩn bị cơ sở hạ tầng, mặt bằng xây dựng… để đầu năm 2008 khởi công

hóa máy móc thiết bị, áp dụng chặt chẽ hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
ISO 9001-2000, nâng cao trình độ quản lý, trình độ vận hành máy móc thiết bị của
lao động… Các hoạt động đầu tư này được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.3: Cơ cấu vốn đầu tư theo nội dung đầu tư giai đoạn 2002 – 2007
Nội dung
đầu tư
2002 2003 2004 2005 2006 2007
Số tiền
Tỷ
lệ
Số
tiền
Tỷ
lệ
Số
tiền
Tỷ
lệ
Số
tiền
Tỷ
lệ
Số
tiền
Tỷ
lệ
Số
tiền Tỷ lệ
TSLĐ 38.6 20 63.9 28 41.7 25 71.4 19 84.5 17 94.2 20
TSCĐ 131.8 70 146.4 64 100.3 59 268.6 72 367.2 74 322.2 70

Dưới đây là bảng tổng kết tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong thời
gian qua.
Bảng 2.4: Doanh thu – lợi nhuận giai đoạn 2002 – 2010
Chỉ tiêu Đơn vị 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Doanh thu
thuần Tỷ đồng 1022 1315 1578 1525 1579 1547 1936 2422 2720
Tốc độ tăng % - 128,7 120,0 96,6 103,5 98,0 125,1 125,1 112,3
Lợi nhuận
thuần Tỷ đồng 27 66 84,5 104 116 140 204 224 60
HV: Nguyễn Thị Kim Dung – CH19A
22

Trích đoạn Những tồn tại trong hoạt động đầu tư phát triển của công ty Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status