Nhiễm khuẩn bệnh viện và công tác kiểm soát nhiễm khuẩn
QĐND - Thứ tư, 14/08/2013 | 8:28 GMT+7
In trang này
Hiện nay, nhiễm khuẩn (NK) bệnh viện (BV) là một trong các nguyên nhân hàng đầu đe dọa sự an toàn của
người bệnh, làm tăng tỉ lệ người bệnh tử vong, tăng biến chứng, tăng ngày nằm điều trị, tăng mức sử dụng
kháng sinh, tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật, tăng chi phí dùng thuốc và tăng gánh nặng bệnh tật cho cả
người bệnh và hệ thống y tế. Đây là một vấn đề ngày càng được mọi hệ thống y tế trên thế giới cũng như ở
Việt Nam quan tâm.
1. TÌNH HÌNH NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN.
1.1. Thế giới:
NKBV xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, hệ thống y tế của tất cả các nước phát triển và nước nghèo đều chịu tác
động nghiêm trọng của NKBV. Tổ chức Y tế thế giới tiến hành điều tra cắt ngang NKBV tại 55 BV của 14 nước
trên thế giới đại diện cho các khu vực công bố tỉ lệ NKBV là 8,7%. Ước tính ở bất cứ thời điểm nào cũng có
hơn 1, 4 triệu người bệnh trên thế giới mắc NKBV [2].
Các nhà nghiên cứu đưa ra 5 hậu quả của NKBV đối với bệnh nhân (BN): tăng tỉ lệ mắc bệnh, tỉ lệ tử vong,
ngày điều trị, chi phí điều trị và sự kháng thuốc của vi sinh vật. Tại Mỹ, cứ 20 BN nhập viện có 1 BN mắc
NKBV. Hằng năm thế giới có khoảng 2 triệu người mắc NKBV với 90.000 người tử vong, chi phí chăm sóc tăng
4, 5 tỉ đô-la. Tại Anh, mỗi năm có khảng 100.000 người mắc NKBV với trên 5000 ca tử vong, chi phí tăng thêm
1 tỉ bảng.
ở các nước đang phát triển, tình hình NKBV còn nặng nề hơn do không đủ nguồn lực cho công tác kiểm soát
NK. Tỉ lệ NKBV tại Malaysia (2001) là 13,9%. NKBV là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh. Trên 50%
bệnh nhi ở Brazil và Indonesia mắc NKBV và tử vong từ 12-52%.
NKBV không chỉ gây bệnh cho BN mà còn cho cả nhân viên y tế. Dịch SARS (2003) đã làm cho nhân viên y tế
trở thành BN với tỉ lệ 20-60% tổng số trên toàn thế giới.
1.2. Việt Nam:
Tại Việt Nam, quy chế chống NKBV lần đầu tiên được ban hành vào năm 1997. Một trong những giám sát
NKBV đầu tiên (2001) được tiến hành trên 5396 BN ở 11 BV đại diện toàn quốc (6 BV trung ương, 5 BV tỉnh),
phát hiện 369 BN (6,8%) NKBV. Năm 2005, BV Bạch Mai giám sát tại 36 BV với 7541 BN, kết quả cho thấy tỉ lệ
NKBV là 7,8%. Các NKBV thường gặp là: hô hấp (41,9%), vết mổ (27,5%), tiết niệu (13,1%), tiêu hóa (10,3%),
da và mô mềm (4,1%), NK huyết (1,0%), NK khác (2,0%) [4], [5], [6].
Tại một số BV ở Hà Nội như Bạch Mai, Việt Đức, Thanh Nhàn, Lao và bệnh phổi, tỉ lệ NKBV hằng năm từ 3-
- Trực khuẩn Gram (+): Bacillus, Clostridium perfringens (hoại thư sinh hơi) gây bệnh ở mắt, mô mềm, phổi,
vết thương
- Vi khuẩn Gram (-): Pseudomonas aeruginosa (trực khuẩn mủ xanh), E. coli, Salmonella, Shigella, Klebsiella,
Proteus, Enterobacter thường gây bệnh nặng, khó điều trị do đã kháng các kháng sinh thông dụng.
3.2. Virut:
- Virut lây truyền qua đường tiêu hóa: Polyovirus, Hepatitis A và E, Echovirus, Coxsackie A và B, Adenovirus,
Rotavirus, Coronavirus…
- Virut lây truyền qua đường hô hấp: sởi, quai bị, cúm, á cúm, Adenovirus, Coronavirus
- Virut lây truyền qua đường máu chủ yếu là HIV, viêm gan B, C
3.3. Một số tác nhân khác:
NKBV còn do một số tác nhân khác (tuy ít gặp hơn) như nấm, ký sinh trùng, đơn bào. Đó là nấm Candida spp,
Aspergillus (thường gặp ở khoa hồi sức cấp cứu), hoặc một số ký sinh trùng như Pneumocystic carinii,
Toxoplasma gondii, Cryptosporidium
4. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN.
Có thể nói, bất kỳ ai đã vào BV là có nguy cơ NKBV, không phân biệt BN, nhân viên y tế hay người nhà. Tuy
nhiên, tình trạng sức khỏe của BN và việc tiến hành các thủ thuật xâm nhập là những yếu tố nguy cơ quan
trọng nhất trong NKBV.
BN mắc các bệnh mạn tính nặng, cao tuổi, suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch hay đang dùng thuốc ức chế
miễn dịch; BN đa chấn thương, bỏng nặng, bệnh hô hấp mạn tính là những người có nguy cơ cao NKBV.
BN phải trải qua các thủ thuật xâm nhập như phẫu thuật, đặt nội khí quản, thông tiểu, catheter tĩnh mạch có
nguy cơ cao mắc NKBV. Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy: 97% nhiễm trùng tiết niệu xuất hiện ở BN đặt ống
thông tiểu, 85% nhiễm trùng huyết xuất hiện ở BN đặt catheter tĩnh mạch trung tâm và 83% nhiễm trùng hô
hấp liên quan đến thông khí nhân tạo.
5. NGUỒN TRUYỀN NHIỄM.
Trong NKBV, người là nguồn truyền nhiễm chủ yếu và BN là nguồn truyền nhiễm quan trọng nhất.
- BN: là các BN mắc các bệnh truyền nhiễm đang được điều trị tại khoa truyền nhiễm hoặc các khoa nội,
ngoại. BN đang điều trị bệnh không nhiễm trùng nhưng đang đồng mắc bệnh truyền nhiễm thể điển hình hoặc
không điển hình hoặc người mang mầm bệnh không triệu chứng.
- Nhân viên y tế: có thể là đang có bệnh ở các mức độ khác nhau (nhưng vẫn đi làm việc) hoặc người mang
mầm bệnh không triệu chứng.
xúc với BN, trước khi làm các thủ thuật vô khuẩn, sau khi tiếp xúc với dụng cụ y tế NK là biện pháp quan trọng
nhất để phòng chống NKBV. Tỉ lệ NKBV và tỉ lệ tuân thủ vệ sinh bàn tay ở nhân viên y tế có mối liên quan
nghịch: tỉ lệ tuân thủ vệ sinh bàn tay càng tăng thì NKBV càng giảm và ngược lại. Nhiều nghiên cứu cũng
khẳng định sát khuẩn tay là biện pháp quan trọng nhất để dự phòng lây truyên tác nhân gây bệnh trong các
cơ sở y tế. Một nghiên cứu ở Thụy Sỹ cho thấy: khi tỉ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tăng từ 47,5% lên
66,2% thì tỉ lệ NKBV giảm từ 16,9% xuống còn 6,9% [8].
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế, trong đó quan trọng nhất là
nhận thức của nhân viên y tế về vệ sinh bàn tay, phương tiện vệ sinh bàn tay và số lượng BN. Cần có sự đầu
tư hơn về trang thiết bị cho BV cũng như tăng cường tuyên truyền tầm quan trọng của vệ sinh bàn tay cho
mọi người trong BV, trước hết là nhân viên y tế.
8.2. Vô khuẩn:
Kỹ thuật vô khuẩn với các dụng cụ phẫu thuật, nội soi cần được tuân thủ nghiêm ngặt khi thực hiện các thủ
thuật xâm nhập, phẫu thuật, chăm sóc vết thương.
Vùng da BN dự kiến phẫu thuật: sát khuẩn bằng hóa chất; dùng kéo cắt bỏ lông, tóc (nếu có), không nên
dùng dao cạo vì gây tổn thương vi thể có thể dẫn tới NKBV.
Các dụng cụ, đồ dùng trong BV (quần áo, giường tủ ) và chất thải của BN cần được vệ sinh, khử khuẩn
bằng các biện pháp thích hợp.
Đối với các dụng cụ y tế dùng lại phải bảo đảm xử lý vệ sinh theo đúng các quy định của Bộ Y tế.
8.3. Cách ly BN:
Tổ chức thực hiện các biện pháp cách ly phòng ngừa như: phòng ngừa chuẩn, phòng ngừa bổ sung (dựa
theo đường lây truyền bệnh); tổ chức thực hiện các hướng dẫn và kiểm tra các biện pháp thực hành kiểm
soát NK theo tác nhân, cơ quan và bộ phận bị NKBV.
Một số trường hợp cần thiết có thể tiến hành cách ly nhằm ngăn ngừa sự lây lan từ BN sang BN, nhân viên y
tế, người nhà, khách thăm Tuy nhiên, việc tổ chức cách ly phải linh hoạt và tùy thuộc từng bệnh cụ thể và
hoàn cảnh của BV.
- Bệnh lây qua đường tiêu hóa như tả, viêm gan A, viêm dạ dày - ruột : mang găng và vệ sinh bàn tay tốt, BN
nên dùng riêng dụng cụ ăn uống
- Bệnh lây qua đường hô hấp như lao, cúm, quai bị : luôn mang khẩu trang, rửa tay, thông thoáng không khí,
hạn chế khách thăm Một số bệnh nguy hiểm như SARS cần cách ly nghiêm ngặt (phòng điều trị riêng, máy
điều hòa, lọc khí riêng, cấm khách thăm, mang khẩu trang hoặc mặt nạ hô hấp, vô khuẩn tốt dụng cụ, đồ
9.1.1. Hội đồng /Ban kiểm soát NK:
- Tổ chức: Hội đồng /Ban kiểm soát NK do Giám đốc BV ra quyết định thành lập. Chủ tịch Hội đồng kiểm soát
NK là lãnh đạo của BV; Phó Chủ tịch Hội đồng hoặc ủy viên thường trực là Chủ nhiệm khoa kiểm soát NK
hoặc Tổ trưởng tổ kiểm soát NK; ủy viên của Hội đồng kiểm soát NK là đại diện các khoa lâm sàng, cận lâm
sàng, kế hoạch, điều dưỡng…
- Nhiệm vụ: đề xuất, tư vấn cho Giám đốc BV về kiểm soát NK.
- Phương thức hoạt động: họp định kỳ (mỗi quý 1 lần) hoặc đột xuất để xây dựng các quy định cụ thể về kiểm
soát NK, thông qua kế hoạch hoạt động như giám sát NKBV, đào tạo kiểm soát NK v.v
9.1.2. Khoa/Tổ kiểm soát NK:
- Tổ chức: các BV quy mô 150 giường bệnh trở lên thành lập Khoa kiểm soát NK; các BV dưới 150 giường
bệnh thành lập Tổ kiểm soát NK.
Khoa/Tổ kiểm soát NK tùy theo quy mô BV có các bộ phận sau: hành chính - giám sát, khử khuẩn - tiệt khuẩn,
giặt là và các bộ phận khác do Giám đốc BV quyết định.
Chỉ huy khoa /tổ có Chủ nhiệm khoa /Tổ trưởng, các Phó Chủ nhiệm và Điều dưỡng trưởng khoa. Chủ nhiệm
khoa /Tổ trưởng có trình độ đại học trở lên thuộc chuyên ngành y, điều dưỡng hoặc dược và được đào tạo về
kiểm soát NK.
- Nhiệm vụ:
+ Xây dựng kế hoạch kiểm soát NK định kỳ và hằng năm để trình Hội đồng /Ban Kiểm soát NK thẩm định trước
khi Giám đốc BV phê duyệt và tổ chức thực hiện.
+ Đầu mối xây dựng các quy định, quy trình kiểm soát NK trên cơ sở các quy định, hướng dẫn chung của Bộ Y
tế và trình Giám đốc BV phê duyệt và tổ chức thực hiện.
+ Đầu mối phối hợp với các khoa, phòng/ban liên quan giám sát công tác kiểm soát NK, bao gồm: (1) Phát
hiện, giám sát và báo cáo dịch bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền
nhiễm; (2) Phát hiện, nhận báo cáo các trường hợp NK liên quan đến chăm sóc y tế từ các khoa lâm sàng và
kết quả nuôi cấy vi khuẩn từ khoa vi sinh vật (xét nghiệm) và đề xuất các giải pháp can thiệp kịp thời; (3) Theo
dõi và báo cáo các vi khuẩn kháng thuốc.
+ Kiểm tra, đôn đốc cán bộ, nhân viên, lao động hợp đồng, giáo viên, học viên, BN, người nhà BN và khách
thực hiện đúng quy định kiểm soát NK trong công tác khám, chữa bệnh.
+ Tuyên truyền, huấn luyện, nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến dưới về kiểm soát NK.
+ Quản lý, giám sát các hoạt động khử khuẩn, tiệt khuẩn, giặt là, cung cấp dụng cụ vô khuẩn, hóa chất sát
phòng giặt, hóa chất khử khuẩn. BV có thể hợp đồng với công ty có chức năng giặt khử khuẩn đồ vải y tế để
bảo đảm việc giặt và cung cấp đồ vải đáp ứng yêu cầu phục vụ người bệnh và chuyên môn.
- Có cơ sở hạ tầng để bảo đảm xử lý an toàn chất thải lỏng, chất thải rắn và chất thải khí y tế theo quy định về
quản lý chất thải y tế.
- Các khoa phải có đủ buồng tắm, buồng vệ sinh, nước sạch, phương tiện rửa cho người bệnh, người nhà và
nhân viên y tế.
- Mỗi khoa phải có ít nhất 1 buồng để đồ bẩn và xử lý dụng cụ y tế.
- Buồng phẫu thuật và buồng chăm sóc đặc biệt được trang bị hệ thống thông khí, lọc khí thích hợp, bảo đảm
yêu cầu vô khuẩn.
- Khoa lâm sàng phải có ít nhất 1 buồng cách ly được trang bị các phương tiện cách ly theo hướng dẫn của
Bộ Y tế để cách ly người bệnh có nguy cơ phát tán tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
- Khoa lâm sàng phải có ít nhất 1 buồng thủ thuật có đủ trang thiết bị, thiết kế đáp ứng yêu cầu kiểm soát NK:
có bồn rửa tay, vòi nước, nước sạch, xà phòng hoặc dung dịch vệ sinh tay, khăn lau tay, bàn chải chà tay,
bàn làm thủ thuật, tủ đựng dụng cụ vô khuẩn, thùng đựng chất thải.
- Phòng xét nghiệm phải bảo đảm điều kiện an toàn sinh học phù hợp với từng cấp độ và chỉ được tiến hành
xét nghiệm trong phạm vi chuyên môn theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
- Khoa truyền nhiễm phải có đủ phương tiện phòng ngừa lây truyền bệnh và có khoảng cách an toàn với các
khoa, phòng khác và khu dân cư theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
- Cơ sở vật chất chế biến, phân phối thực phẩm trong BV phải được xây dựng và thiết kế theo đúng các quy
định pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm.
9.2.2. Trang thiết bị và phương tiện:
- Bảo đảm các phương tiện vệ sinh môi trường đầy đủ và phù hợp:
+ Phương tiện vệ sinh tay: bồn rửa tay, phương tiện sát khuẩn tay, khăn lau tay sạch dùng một lần và hóa
chất vệ sinh tay.
+ Có đủ phương tiện vệ sinh chuyên dụng bảo đảm cho công việc vệ sinh BV hiệu quả.
+ Trường hợp BV hợp đồng với công ty cung cấp dịch vụ vệ sinh công nghiệp thì hợp đồng phải xác định rõ
yêu cầu về trang thiết bị, hóa chất, tiêu chuẩn vệ sinh, quy trình vệ sinh, đào tạo nhân viên vệ sinh theo
chương trình, tài liệu của Bộ Y tế và kiểm tra đánh giá chất lượng.
+ Có đủ phương tiện thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải. Thùng, túi lưu giữ chất thải phải bảo đảm đủ số
lượng, chất lượng và đúng màu quy định.
vệ sinh bàn tay ở 3 BV tuyến tỉnh năm 2005”, Tạp chí Y học lâm sàng, BV Bạch Mai, 6/2008, tr. 174-178.
7. Nguyễn Việt Hùng và cộng sự (2007), Thực trạng NKBV và công tác kiểm soát NK tại một số BV phía Bắc
năm 2006-2007, Hội nghị triển khai Thông tư 18/2009/TT-BYT về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác
kiểm soát NK tại các cơ sở khám, chữa bệnh, Hà Nội.
8. Didier Pittet, Stéphane Hugonnet et al (2000), “Effectiveness of a hosiptal-wide programme to improve
compliance with hand hygiene”, The Lancet, 356 (9238), pp. 1307-1312.
9. Institute for Healthcare Improvement (2006), How to guide: improving hand hygiene - a guide for improving
practises among health care workers, CDC, pp. 3.
10. WHO (2009), Hand hygiene Observation Form.
Giấy phép số: 1442/GP - BTTTT 15-10-2009
Tổng biên tập: Đại tá PHẠM VĂN HUẤN
Phó tổng biên tập: Đại tá HÀ MẠNH TƯỜNG, Đại tá NGUYỄN KIM TÔN
Trưởng phòng biên tập: Thượng tá TRỊNH VĂN HÀO
© 2008 - 2009. Bản quyền thuộc về Báo điện tử Quân đội nhân dân. Bảo lưu mọi quyền.