Tiểu luận kinh tế phát triển Tình hình Lạm phát ở Việt Nam trong những năm gần đây - Pdf 22


MỤC LỤC
1
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài (lí do chọn đề tài).
Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay của nền
kinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế thị trường hoạt
động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững
trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng
để tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề cần
có để kinh doanh còn là những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế. Một trong
những vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát. Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế
thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian trí
tuệ mới có thể mong muốn đạt được kết quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ
là việc của các nhà doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ. Lạm phát ảnh
hưởng toàn bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao
động ở nước ta hiện nay, chống lạm phát giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định,
cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời
sống nhân dân.
Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan tâm,
nghiên cứu và đề xuất các phương án khác. Đã từ lâu tiền giấy xuất hiện và chẳng
bao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạm phát. Nét đặc trưng
nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cả của hầu hết các hàng hóa
đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh.
Bài viết này với đề tài: “ Tình hình Lạm phát ở Việt Nam trong những năm
gần đây” Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc biệt
thấy được tầm quan trọng của lạm phát. Vì vậy, với lực lượng kiến thức còn hạn
2
chế, em thiết nghĩ nghiên cứu đề tài này cũng là một phương pháp để hiểu nó một
cách thấu đáo hơn, sâu sắc hơn tài chính tiền tệ
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

(0,59%) nhưng lại có xu hướng giảm trong những tháng cuối năm. Như vậy, nếu
như lương thực, thực phẩm luôn là đầu tàu kéo lạm phát đi lên trong những năm
2007 và 2008 thì ở năm 2009 nhân tố này không còn đóng vai trò chính nữa.
Duy trì tốc độ tăng lạm phát và giá cả của năm 2009 ở mức một con số là
một điểm sáng nữa trên bức tranh kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới
chưa thoát khỏi suy thoái kinh tế. Thành tựu kiềm chế lạm phát trong năm 2009 có
tác động tích cực đến ổn định kinh tế - xã hội cũng như tạo thuận lợi cho việc triển
khai các chính sách kích thích kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo an
sinh xã hội. Mặc dù xu hướng tăng của giá tiêu dùng chưa có biểu hiện rõ rệt,
nhưng một số yếu tố chủ yếu có thể sẽ tác động làm tăng nguy cơ tái lạm phát cao
trở lại. Đó là tăng trưởng tín dụng đang ở mức cao
3
do thực hiện các chính sách tài
chính, tiền tệ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế; giá của các mặt hàng nước ta nhập
khẩu với khối lượng lớn trên thị trường thế giới bắt đầu có xu hướng tăng cao do
sự phục hồi của kinh tế toàn cầu, đặc biệt giá xăng dầu. Mặt khác, những nguyên
nhân cơ bản gây ra lạm phát cao ở Việt Nam năm 2008 vẫn còn. Đó là sự thiếu kỷ
luật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) và tập đoàn lớn. Do vậy, kích cầu đầu tư thông qua nới lỏng tín dụng cho
các DNNN và tập đoàn mà thiếu sự thẩm định và giám sát thận trọng chắc chắn sẽ
kích hoạt cho lạm phát trở lại.
5

Nguồn: />nam-2009-la-688-2009122410051546ca33.chn
Năm 2010, lạm phát cả nước ở mức 11,75%:Chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng
12/2010 của cả nước tăng 1,98%, qua đó đẩy mức lạm phát năm của cả nước 2010
6
lên 11,75% so với năm 2009. Con số này vượt gần 5% so với chỉ tiêu được Quốc
hội đề ra hồi đầu năm (khoảng 8%).
Trong khi đó, nếu tính bình quân theo từng tháng (cách tính mới của Tổng

0,05%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá giảm 0,09%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2011 so với tháng 12/2010 tăng 18,13%. Chỉ
số giá tiêu dùng bình quân năm 2011 tăng 18,58% so với bình quân năm 2010.

Biểu đồ so sánh lạm phát năm 2010 với 2011
8Nguồn: />phat-2011-hai-dot-bien-va-su-di-hoang-cua-dong-tien.htm
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2012
tăng 0,27% so với tháng trước, lạm phát năm 2012 được kiềm chế ở mức 6,81%.
9
Trong năm 2012 có tới 7 tháng CPI chỉ tăng dưới 1% và hầu hết các tháng chỉ tăng
dưới 0,5%”.
Cụ thể, theo phân tích của Tổng cục Thống kê, CPI tăng không quá cao vào
2 tháng đầu năm (Tăng 1,0% vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng 2) nhưng tăng
cao nhất vào tháng 9 với mức tăng 2,20%, chủ yếu do tác động của nhóm thuốc và
dịch vụ y tế và nhóm giáo dục. Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm dần trong
những tháng cuối năm.
Về nhóm hàng, CPI bình quân của nhiều nhóm hàng năm nay có mức biến
động nhiều và khác xu hướng so với năm trước. Nhóm hàng lương thực, thực
phẩm tăng thấp hơn mức tăng chung (Lương thực tăng3,26%, thực phẩm tăng
8,14%, CPI bình quân chung tăng 9,21%), trong khi năm 2011 đây là nhóm hàng
có chỉ số giá tăng cao nhất và cao hơn nhiều so với mức tăng chung (Lương thực
tăng 22,82%, thực phẩm tăng 29,34%, CPI bình quân chung tăng 18,58%).
Riêng nhóm dịch vụ y tế có sự thay đổi lớn với chỉ số giá tăng mạnh ở mức
20,37%, cao hơn nhiều lần mức tăng 4,36% của năm 2011. Trong 2 năm qua, chỉ
số giá nhóm giáo dục vẫn duy trì mức tăng cao (Năm 2011 tăng 23,18%; năm 2012
tăng 17,07%) và chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông vẫn duy trì mức giảm (Năm
2011 giảm 5,06%; năm 2012 giảm 1,11%).

cũng tăng. Tăng lương đẩy giá lên cao. Tóm lại, lạm phát là hiện tượng tăng liên
tục mức giá chung và có thể giải thích theo 3 cách.
Theo học thuyết tiền tệ, lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung
tiền.
Theo học thuyết Keynes, lạm phát xảy ra do thừa cầu về hàng hoá và dịch vụ
trong nền kinh tế (do cầu kéo).
Theo học thuyết chi phí đẩy, lạm phát sinh ra do tăng chi phí sản xuất (chi
phí đẩy).
Trên thực tế lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên, mỗi
nguyên nhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau.
Mức cung tiền là một biến số duy nhất trong đẳng thức tỷ lệ lạm phát, mà
dựa vào đó ngân hàng Trung ương đã tạo ra ảnh hưởng trực tiếp. Trong việc chống
lạm phát, các ngân hàng Trung ương luôn giảm sút việc cung tiền.
Tăng cung tiền có thể đạt được bằng 2 cách:
Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi suất thấp và điều kiện kinh
doanh tốt), hoặc Các ngân hàng thương mại có thể tăng tín dụng.
Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi phí.
Về mặt trung hạn và dài hạn, điều đó dẫn tới cầu về hàng hoá và dịch vụ tăng. Nếu
13
cung không tăng tương ứng với cầu, thì việc dư cầu sẽ được bù đắp bằng việc tăng
giá. Tuy nhiên, giá cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ tăng sau đó 2-3 năm. In tiền
để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến lạm phát nghiêm trọng.
Ví dụ:
Năm 1966-1967, chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng tiền để trả cho những
chi phí leo thang của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, lạm phát tăng từ 3% (năm
1967) đến 6% (năm 1970).
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (y) đạt mức cân
bằng, nghĩa là (i) và (y) ổn định. Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũng
không đổi. Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên với
tỷ lệ tương ứng. Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ. Đây là lý do tại sao ngân

Bên cạnh những yếu tố gây nên lạm phát đó là giá nhập khẩu cao hơn được
chuyển cho người tiêu dùng nội địa. Nhập khẩu càng trở nên đắt đỏ khi đồng nội tệ
yếu đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác. Ngoài ra yếu tố tâm lý dân chúng, sự
thay đổi chính trị, an ninh quốc phòng… Song nguyên nhân trực tiếp vẫn là số
lượng tiền tệ trong lưu thông vượt quá số lượng hàng hoá sản xuất ra. Việc tăng đột
ngột của thuế (VAT) cũng làm tăng chỉ số giá.
15
Lạm phát dự kiến
Trong nền kinh tế, trừ siêu lạm phát, lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có
xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó. Giá cả trong
trường hợp này tăng đều một cách ổn định. Mọi người có thể dự kiến được
trước nên còn gọi là lạm phát dự kiến.
16
Trong lạm phát dự kiến AS & AD dịch chuyển lên trên cùng, độ sản lượng
vẫn giữ nguyên, giá cả tăng lên theo dự kiến.
2.4. Các nguyên nhân khác
Giữa lạm phát và lãi suất khi tỷ lệ lạm phát tăng lên lãi suất danh nghĩa tăng
theo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt. Điều này
đặc biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát, tiền mất giá càng nhanh, tăng mức độ
tiền gửi vào ngân hàng, vào quỹ tiết kiệm hoặc đẩy ra thị trường để mua về mọi
loại hàng hoá có thể dự trữ gây thêm mất cân bằng cung cầu trên thị trường hàng
hoá và tiếp tục đẩy giá lên cao.
Giữa lạm phát và tiền tệ khi ngân sách thâm hụt lớn các chính phủ có thể in
thêm tiền để trang trải, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân gây ra
lạm phát. Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới nảy sinh, đòi hỏi phải
in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt. Kiểu lạm phát xoáy ốc
này thường xảy ra trong thời kỳ siêu lạm phát. Tuy nhiên, chính phủ có thể tài trợ
17
thâm hụt bằng cách vay dân thông qua tín phiếu. Lượng tiền danh nghĩa không
tăng thêm nên không có nguy cơ lạm phát, nhưng nếu thâm hụt tiếp tục kéo dài, số

các tỉnh, thành phố với tư cách là đại diện chủ sở hữu nhà nước, rà soát chặt chẽ
các hạng mục đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, kiên quyết cắt bỏ các công trình
đầu tư kém hiệu quả. Đồng thời, tạo điều kiện và tập trung vốn cho những công
trình sắp hoàn thành, những công trình đầu tư sản xuất hàng hoá thuộc mọi thành
phần kinh tế đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào sản xuất.
3.1.3. Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp
Hiện nay, tiềm năng tăng trưởng của nước ta còn rất lớn, nhất là khi Việt
Nam đã là thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại thế giới, đầu tư nước ngoài
và đầu tư tư nhân tăng mạnh, thị trường xuất khẩu được mở rộng, vì vậy, phát triển
sản xuất là giải pháp gốc, tạo hiệu quả nhiều mặt, vừa tăng nguồn cung cho thị
trường trong nước và xuất khẩu, góp phần kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu, vừa
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lại không gây phản ứng phụ.
Để thực hiện yêu cầu này, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các Bộ trưởng,
Chủ tịch UBND các tỉnh và thành phố chỉ đạo quyết liệt, kịp thời tháo gỡ các khó
khăn, vướng mắc về vốn, về thị trường, về thủ tục hành chính, thúc đẩy sản xuất
phát triển.
19
3.1.4. Bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập
siêu
Cân đối cung cầu về hàng hoá, nhất là các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất
và đời sống nhân dân là tiền đề quyết định để không gây ra đột biến về giá, ngăn
chặn đầu cơ. Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng đã và sẽ tiếp tục làm việc với
các Hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng thiết yếu,
như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, xăng dầu, sắt thép, vật liệu xây
dựng, phân bón giao nhiệm vụ cho các đơn vị này phải bảo đảm nguồn hàng,
đồng thời có trách nhiệm cùng Chính phủ kiềm giữ giá cả.Trong khi kiên trì chủ
trương thực hiện cơ chế giá thị trường, xoá bỏ bao cấp qua giá, nhưng trong tình
hình hiện nay, mặc dầu giá thế giới tăng cao, Chính phủ đã quyết định: từ nay cho
đến hết tháng 6, chưa tăng giá điện, giá than, giá xăng dầu; giữ ổn định giá ximăng,
phân bón, nước sạch, thuốc bệnh, vé máy bay, tàu hoả; giao Bộ Tài chính rà soát để

sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan quản lý nhà nước, sự chấp hành và tổ chức,
triển khai thực hiện nghiêm túc của các cấp chính quyền. Hơn nữa, thị trường thế
giới đang biến động, phải theo dõi sát tình hình, cập nhật đầy đủ thông tin để có
các giải pháp phản ứng kịp thời, chính xác, nhằm một mặt, hạn chế các tác động
xấu do những khó khăn khách quan mới nẩy sinh; mặt khác, tận dụng được thời cơ
21
mới xuất hiện để phát huy tiềm năng tăng trưởng của đất nước, thúc đẩy kinh tế
phát triển cao hơn khi điều kiện thuận lợi.
3.2. Một số biện pháp cụ thể
Các chuyên gia đã cảnh báo mạnh mẽ về nguy cơ lạm phát, về những hậu
quả khôn lường mà lạm phát có thể gây ra cho tất cả mọi người dân, nhất là những
người nghèo, phải chịu; về mối hiểm nguy, về những nguyên nhân chính của lạm
phát, về những cách hành xử không phù hợp của chính quyền v.v. Những cảnh báo
đôi khi rất khó nghe, tuy nghiêm túc đó, đã làm cho không ít người bực mình.
May thay Nhà nước đã có những thay đổi theo đúng hướng, Ngân hàng Nhà
nước đã vào cuộc với một loạt biện pháp cứng rắn: nâng dự trữ bắt buộc, thắt chặt
cho vay chứng khoán, cảnh báo về cho vay bất động sản, tăng lãi suất tái cấp vốn,
tăng lãi suất cơ bản, đến buộc các ngân hàng thương mại mua tín phiếu do Ngân
hàng Nhà nước phát hành. Bản thân việc can thiệp quyết liệt của Ngân hàng Nhà
nước là việc làm cần thiết, chứng tỏ Nhà nước đã thay đổi nhận thức của mình và
là hành động đúng hướng: Giảm tổng lượng cung tiền.
- Tăng lãi suất, tăng dự trữ bắt buộc, bắt buộc mua tín phiếu Ngân hàng Nhà
nước (chứ không phải trái phiếu của Bộ Tài chính) là các công cụ chính sách tiền
tệ hữu hiệu để giảm lượng cung tiền.
- Giám sát chặt chẽ cơn khát đầu tư của các tập đoàn kinh tế nhà nước,
không để cho các tập đoàn này liên kết với nhau tham gia quá mức vào các lĩnh
vực tài chính ngân hàng, vào kinh doanh bất động sản, những lĩnh vực có vẻ dễ ăn
"xổi" nhưng đầy rủi ro, thắt chặt chi tiêu ngân sách, tăng cường hiệu quả đầu tư là
cách làm khôn ngoan để chống lạm phát mà vẫn có thể có tăng trưởng bền vững.
Như thế các biện pháp của ngân hàng nhà nước là đúng hướng, là đáng hoan

hiện tốt chính sách tiền lương, chính sách đầu tư, chính sách xuất nhập khẩu bảo
đảm sự phối hợp đồng bộ, hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau để đạt hiệu quả cao nhất.
- Về tiền tệ, tín dụng, NHNN công bố và thực hiện việc hỗ trợ vốn cho các
ngân hàng thương mại để bảo đảm khả năng thanh toán; đồng thời, xemxét việc
tăng dự trữ bắt buộc, tiếp tục áp dụng biện pháp mua tín phiếu NHNN bắt buộc đã
công bố, bảo đảm phù hợp với tình hình diễn biến tiền tệ và khả năng chịu đựng
của các tổ chức tín dụng.
24
C.KẾT LUẬN
Lạm phát luôn có tầm quan trọng hàng đầu trong chính sách kinh tế của các
nước nói chung và của Việt Nam nói riêng. Tiếp tục hoàn thiện mục tiêu chống lạm
phát và kiềm chế lạm phát là mục tiêu cơ bản để tăng trưởng và phát triển kinh tế,
ổn định xã hội, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nước ta trong thời
gian tới.
Về khách quan, do tác động tiêu cực của tình hình kinh tế thế giới; về chủ
quan là do những hạn chế, yếu kém vốn có của nền kinh tế, mô hình tăng trưởng và
cơ cấu kinh tế chậm được khắc phục, bị tích tụ nặng nề hơn trong những năm phải
đối phó với tình trạng suy giảm kinh tế và do một số hạn chế trong quản lý, điều
hành của các cấp. Đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng lạm
phát trong nhiều năm qua, nước ta luôn phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao và
kinh tế vĩ mô không vững chắc, gay gắt hơn các nước trong khu vực.
Lạm phát luôn rình rập và đe dọa chúng ta bất cứ lúc nào. Chính vì vậy,
Đảng và nhà nước phải luôn thận trọng trong mỗi bước đi để đảm bảo cho nền kinh
tế phát triển vững mạnh, làm nền tảng để phát triển khoa học, giáo dục, đuổi kịp sự
phát triển của các nước trong khu vực nói riêng và các nước trên thế giới nói
chung.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status