MỞ ĐẦU
Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là vấn đề hết
sức phức tạp đòi hỏi mỗi quốc gia phải có sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ
mới có thể mong muốn đạt kết quả tốt. Kiểm soát lạm phát là nhịêm vụ hàng đầu
của Chính phủ. Bước sang năm 2012, trước những diễn biến kinh tế vĩ mô phức
tạp trong nước và quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nghị quyết số
01/NQ-CP ngày 03/1/2012 về những giải pháp chủ yếu điều hành thực hiện kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, trong đó nêu rõ mục tiêu được ưu
tiên hàng đầu là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, em xin
chọn đề tài “Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2012 và một số giải pháp
chủ yếu để kiềm chế lạm phát trong thời gian tới” làm bài tập lớn học kỳ.
NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Định nghĩa
Có rất nhiều quan niệm về lạm phát nhưng hiện nay, lạm phát được định
nghĩa là sự tăng lên liên tục của mức giá chung hoặc là quá trình đồng tiền liên
tục giảm giá. Điều này không có nghĩa là giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ
đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng
lên. Một nền kinh tế vẫn có thể trải qua lạm phát khi giá của một số hàng hóa
giảm, nếu như giá của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh.
2. Đo lường
Để đo lường mức đô lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kì
nhất định, các nhà thầu kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ lạm phát được tính bằng
phần trăm thay đổi mức giá chung. Thực tế hầu hết các nước khi đánh giá lạm
phát đều sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) làm công cụ nền tảng, bởi CPI có
1
những lợi thế riêng như: tính quảng bá tương đối rộng đối với xã hội, được công
bố và tính toán thường xuyên.
Hầu hết các nhóm hàng trong rổ hàng hóa tính CPI đều có xu hướng tăng
trong quý III, và đặc biệt tăng mạnh vào tháng 9. Trong đó đáng chú ý:
-
Trong 10 tháng đầu năm 2012, nhóm “hàng ăn và dịch vụ ăn uống” có
đóng góp rất nhỏ vào tăng trưởng CPI chung - đây là điểm khác biệt so với các
năm trước. Cụ thể, tính chung 9 tháng đầu năm 2012, nhóm hàng này chỉ đóng
góp 4,05% vào mức tăng CPI chung, thấp hơn so với các nhóm hàng “thuốc và
dịch vụ y tế” (33%), giáo dục (16,23%), nhà ở và vật liệu xây dựng (14,19%). Từ
đầu năm, nhóm hàng này đã trải qua một đợt giảm giá kéo dài trong 6 tháng liên
tiếp (từ tháng 3 đến tháng 8) với mức giảm từ -0,14% tới - 0,83%. Mặc dù, CPI
nhóm lương thực thực phẩm(LTTP) trong nước tháng 9 và tháng 10 đã tăng nhẹ
trở lại so với tháng trước lần lượt là 0,08% và 0,29%, nhưng tỷ trọng đóng góp
của nhóm hàng này vào CPI chung vẫn khá thấp so với những năm trước. Hơn
nữa, Giá LTTP thế giới cũng đã tăng nhẹ vào tháng 9 với mức tăng 1,38% so với
tháng 8/2012 nhưng so với đầu năm 2012, giá LTTP thế giới đã giảm 6,73%. Xu
hướng đó phần nào đã có ảnh hưởng tới diễn biến chỉ số CPI của nhóm hàng
lương thực thực phẩm trong nước trong năm 2012.
-
Đóng góp nhiều nhất vào CPI quý III, đặc biệt là CPI tháng 9, là các
nhóm hàng thuốc và dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao
thông:
+ Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng mạnh trong tháng 9 do Chính phủ đã có
quyết định tăng giá vào tháng 4.Tính đến nay, cả nước đã có 32 tỉnh, thành phố
đồng loạt tăng giá dịch vụ y tế với các mức tăng khác nhau. Điều này làm nhóm
thuốc và dịch vụ y tế tăng mạnh 17,02% so với tháng trước trong tháng 9, qua đó
góp phần làm CPI chung tăng khoảng 0,95% (tỷ trọng đóng góp 43,4%). Đây là
hàng thuốc và dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông. Sự
4
tăng giá ở đây không phản ánh hoàn toàn quan hệ cung cầu hàng hóa mà sự gia
tăng này phần lớn mang tính thời điểm, mùa vụ và phần lớn được điều chỉnh
mạnh trong tháng 9.
Thực tế đó càng được khẳng định khi xét đến những yếu tố khác như
tổng cầu, yếu tố tiền tệ - là những yếu tố thường tạo áp lực tăng lạm phát trong
những năm qua. Có thể nhận thấy, năm 2012, cùng bối cảnh chung của kinh tế
thế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng có phần giảm sút, tốc độ tăng trưởng
kinh tế chung đạt mức thấp nhất trong vài năm trở lại đây, nhu cầu tiêu dùng
trong nước tăng thấp hơn so với cùng kỳ, vốn đầu tư chưa có dấu hiệu phục hồi
và hiệu quả sử dụng vốn vẫn là vấn đề đáng quan ngại. Bên cạnh đó, mặc dù lãi
suất tín dụng đã được điều chỉnh giảm phù hợp với với diễn biến của lạm phát
nhằm hỗ trợ cho khu vực sản xuất song tăng trưởng tín dụng qua các tháng vẫn
đạt ở mức thấp.
III. Một số giải pháp chủ yếu để kiềm chế lạm phát trong thời gian tới
1. Tăng cung để khuyến khích phát triển sản xuất
Để kiềm chế lạm phát ở mức hợp lý trong năm 2013, có nhiều biện pháp,
có thể nêu ra biện pháp chủ yếu sau: Về nhóm biện pháp tác động vào quan hệ
cung - cầu: Để cân đối tiền - hàng trong nền kinh tế, có thể thực hiện các giải
pháp làm tăng cung như khuyến khích phát triển sản xuất, khuyến khích cạnh
tranh, mở cửa cho phép hàng hoá bên ngoài vào trong nước (trong nước chưa sản
xuất được hoặc hiệu quả sản xuất chưa cao) gắn chặt với việc thực hiện Cuộc
vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, nâng cao nhịp độ tăng
trưởng của các ngành sản xuất, nhất là các ngành sản xuất hàng hoá thiết yếu và
phục vụ xuất khẩu…
Tuy vậy, việc tăng sản lượng là điều không dễ, đòi hỏi phải có thời gian
dài, trong khi lạm phát luôn ở trạng thái biến động và luôn tạo ra trạng thái cầu
linh hoạt cũng như thực hiện tập trung ngoại tệ bằng cơ chế mua, bán thông qua
6
ngân hàng theo tỷ giá kinh doanh sát với thị trường; đẩy mạnh việc khuyến khích
mang ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý vào trong nước (hạn chế hoạt động xuất khẩu
vàng), đồng thời kiểm soát việc mang những thứ đó ra nước ngoài; không cấm
việc kinh doanh vàng, bạc, đá quý của tư nhân, nhưng phải có sự quản lý chặt
chẽ…
Thông thường, tâm lý là một yếu tố liên quan đến lạm phát. Trình độ
của đa số dân trí chưa cao, dễ tin theo tin đồn. Do đó, cần có các giải pháp hữu
hiệu, nhất là công tác tuyên truyền hiệu để tác động đến tâm lý của người sản
xuất cũng như người tiêu dùng. Cần sử dụng hiệu quả hơn phương tiện thông tin
đại chúng để làm cho nhân dân có những thông tin đầy đủ nhất, chính xác, kịp
thời nhất về giá cả và chất lượng hàng hoá. Nhà nước cần công bố kịp thời các
chủ trương, biện pháp tác động đến thị trường, giá cả, lạm phát… trong từng thời
gian để cho nhân dân biết, qua đó mà điều chỉnh tâm lý của họ có lợi cho việc
điều hoà lưu thông tiền tệ.
KẾT LUẬN
Tóm lại, tốc độ lạm phát năm 2012 dưới 7% là yếu tố thuận lợi cho việc
ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song yếu tố ổn
định của lạm phát còn chưa cao, áp lực lạm phát từ các nhân tố tác động chính
yếu có khả năng giảm nhẹ nhưng có thể “bùng phát” bất kỳ lúc nào nếu như các
chương trình hỗ trợ, kích thích tăng trưởng thông qua chính sách tài khoá và tiền
tệ không hợp lý và hiệu quả. Chính vì thế, cần thiết phải thực hiện hiệu quả các
giải pháp ngắn hạn, đồng thời vẫn phải chú trọng tạo nền tảng vững chắc để thực
hiện các giải pháp trong dài hạn trên cơ sở các nguyên tắc nền tảng đảm bảo mối
quan hệ bền vững giữa tăng trưởng và lạm phát.
7