tác động của quá trình toàn cầu hóa với các doanh nghiệp việt nam - Pdf 22

TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM.
1. Điểm mạnh
- Nguồn nhân lực dồi dào
Tính đến ngày 1/4/2009 thì dân số Việt Nam là 86 triệu người, trong đó số người trong
độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng 67% dân số cả nước. Một
trong những lợi thế quan trọng của các doanh nghiệp Việt Nam là có nguồn lao động dồi
dào, dân số trẻ, lao động lại cần cù chăm chỉ, do đó chi phí cho sản xuất sản phẩm thấp
tạo ưu thế về giá cho các sản phẩm công nghiệp. Đó cũng là nhân tố thu hút sự đầu tư của
các nhà đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp Việt Nam.
- các doanh nghiệp Việt Nam nên tận dụng lợi thế về văn hóa
Xin trích dẫn nhận xét của Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú như sau:
Điều mà các doanh nghiệp Việt Nam nhưng doanh nghiệp nước ngoài không làm được là
tìm hiểu kỹ nhu cầu của người Việt Nam, văn hoá Việt Nam, đáp ứng nhu cầu đó, văn
hoá đó thì chúng ta sẽ thắng trên sân nhà.
Sự hiểu biết tường tận về văn hoá Việt là "vũ khí" của họ trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, bởi chúng ta không thể dựng hàng rào với tất cả các doanh nghiệp nước ngoài
mà không có hàng rào quanh ta, chúng ta không thể cạnh tranh với người nước ngoài
bằng vốn liếng, công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhưng chúng ta có thể cạnh tranh bằng
Văn hoá . Văn hoá là một thứ không dễ học, là rào cản rất lớn với bất cứ người nước
ngoài nào, kể cả người nước ngoài sống nhiều năm ở một nước. Đơn cử như gà rán KFC
không bao giờ có thể thắng được phở Việt Nam
Cái yếu của doanh nghiệp Việt Nam là kinh nghiệm quản lý, kinh doanh còn mỏng; cơ sở
vật chất của doanh nghiệp; công nghệ yếu kém, nhân lực hạn chế Sản phẩm cũng vậy:
chủng loại còn ít, mẫu mã chưa phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường, chất
lượng hàng hoá của chúng ta còn kém, bao bì, thương hiệu chưa xây đựng được. Đương
nhiên giá cả ở sản xuất quy mô nhỏ, mẫu mã ít thì sẽ cao hơn với sản xuất quy mô lớn.
Chính phủ và các Bộ ngành hiện đang đẩy mạnh kêu gọi "Người Việt dùng hàng Việt”
tạo điều kiện để hàng Việt Nam đến được với người tiêu dùng Việt Nam và người tiêu
dùng Việt Nam có thể dùng hàng Việt Nam, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển cơ sở hạ
tầng, sản xuất, trong khi nhà sản xuất không thể quan tâm nhiều tới xuất khẩu nữa, buộc

sáng tạo, đổi mới. Họ tò mò và ham thích học hỏi. Tuy nhiên, họ có thể trao đổi thêm
kinh nghiệm và kiến thức với những đồng nghiệp trong nước. Điểm mạnh của doanh
nhân Việt là rất cần cù chịu khó, không ngại gian khổ, khó khăn, sức làm việc tốt, khả
năng chịu áp lực cao.
Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ là
trên 95%, làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ,
nên dễ điều chỉnh hoạt động (xét về mặt lý thuyết).
2. Điểm yếu
- Nguồn nhân lực chất lượng thấp
Lực lượng lao động chủ yếu vẫn là lao động giản đơn, khi có đến 65,3 % lao động không
qua bất kỳ trường lớp đào tạo nào (2011). Xét trên bình diện chung, giá lao động của Việt
Nam hiện ở mức thấp so với các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan…
Đánh giá về chất lượng lao động Việt Nam thông qua năng suất lao động, TS. Hồ Đức
Hùng (Đại học Kinh tế TPHCM) so sánh: năng suất lao động của lao động Việt Nam hiện
thấp hơn Indonesia 10 lần, Malaysia 20 lần, Thái Lan 30 lần, và Nhật Bản tới 135 lần!
Ông cũng bày tỏ quan điểm: “Nếu coi lao động giá rẻ (chất lượng thấp) như một lợi thế
thì sai lầm, bởi yếu tố quyết định đến doanh thu lợi nhuận của doanh nghiệp chính là
năng suất lao động”. Dựa trên chỉ số cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới,
năm 2009-2010, Việt Nam xếp thứ 75/133 quốc gia về năng suất lao động, trong khi đó
vị trí của Singapore là 3, Malaysia 24, Thái Lan 36…
Khuyến cáo của TS. Christian H.M. Ketels, cố vấn đặc biệt Học viện Chiến lược và Cạnh
tranh Harvard: “Việt Nam sẽ bị mắc ở mức phát triển hiện nay nếu không có giải pháp
thay đổi nguồn nhân lực”.
- Do hoàn cảnh đất nước mới mở cửa và hội nhập, doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kinh
nghiệm trên thương trường, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam không được đào tạo đầy
đủ, cơ bản kiến thức về kinh tế thị trường cạnh tranh và hội nhập toàn cầu
Tính đến năm 2010 Việt Nam mở cửa nền kinh tế được 20 năm và Hội nhập WTO được
3 năm. Phần lớn doanh nhân Việt có xuất phát điểm rất thấp về nhiều điều kiện để kinh
doanh, gìờ đây buộc phải cạnh tranh trong môi trường Hội nhập, họ đang phải nỗ lực rất
nhiều.

• Thiếu chiến lược kinh doanh rõ ràng
- Chưa làm rõ vị trí và hướng kinh doanh cho doanh nghiệp trên thị trường, mặc dù đã có
doanh thu
- Đánh giá thị trường: cơ hội và thách thức kinh doanh, công nghệ, khách hàng và các đối
thủ chính yếu; nhiều khi thị trường đã thay đổi lớn mà doanh nghiệp vẫn bình chân như
vại
- Nội lực doanh nghiệp - điểm mạnh và điểm yếu: chưa thường xuyên tự đánh giá lại
doanh nghiệp để biết nội lực trong quá trình phát triển
- Thiếu hoặc hoàn toàn không có chiến lược sản xuất, kinh doanh qua từng thời kỳ
- Chưa có sự chia sẻ tầm nhìn giữa bộ máy lãnh đạo và thực thi
• Sản xuất, dịch vụ vẫn chưa hướng tới khách hàng
- Chưa thiết lập được hệ thống quản lý hiệu quả, chi phí, giảm thiểu tối đa những chi phí
không tạo ra giá trị gia tăng
- Chưa thiết lập được hệ thống quản lý chất lượng, liên tục cải tiến chất lượng; thiếu kiểm
soát chất lượng nên không đồng đều, giảm sút chu đáo và mất dần khách hàng
- Chưa tạo được môi trường thúc đẩy sản xuất và sáng tạo
- Không đánh giá được sự thỏa mãn khách hàng, đặc thù doanh nghiệp nên ngộ nhận về
sự thành công
• Marketing còn yếu kém
- Thiếu hoạch định chiến lược marketing, định vị sản phẩm (đối tượng khách hàng và sự
khác biệt)
- Xem việc phát triển thương hiệu là sự quảng cáo mà không coi phát triển thương hiệu
như phát triển một con người hoàn thiện
- Không thiết lập được hệ thống phân phối
- Khả năng liên kết, hợp tác, chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp kém, thậm chí
không có
Trên thế giới, việc liên kết để tạo thành các tập đoàn khổng lồ có sức mạnh chi phối thị
trường đã được tiến hành từ rất lâu. Thế nhưng ở Việt Nam, điều này dường như vẫn
không được nhiều doanh nghiệp quan tâm. Câu tục ngữ xưa: "Buôn có bạn, bán có
phường" dường như ngày nay không được nhiều doanh nghiệp coi trọng bởi lối tư duy

định của các tổ chức liên kết kinh tế quốc tế đều bảo đảm cho các doanh nghiệp có được
cơ hội tiếp cận thị trường xuất khẩu, đầu tư và sản xuất, kinh doanh với các điều kiện ổn
định, minh bạch và có khả năng dự đoán trước.
Đặc biệt khi Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. WTO mang
lại một cơ hội toàn diện về thị trường hàng hoá, thị trường dịch vụ, thị trường vốn và thị
trường lao động. Tham gia vào một không gian kinh tế lớn hơn rất nhiều, hệ thống chính
sách luật pháp minh bạch, phân công lao động toàn cầu. Tự do hoá thương mại và đầu tư
trong WTO tập trung vào việc tăng cường tiếp cận và mở rộng thị trường, cắt giảm và
dần dần tiến tới loại bỏ hoàn toàn các hàng rào thuế quan và phi thuế đối với thương mại
và đầu tư. Các thành viên hợp tác thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua các cam kết cải
cách kinh tế và tiến tới thương mại, đầu tư an toàn, tự do và thông thoáng hơn. Các thành
viên của WTO sẽ thực hiện lộ trình giảm thuế và xử lý các rào cản thương mại sau biên
giới, đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu của doanh nghiệp trong khu vực và tạo điều
kiện cho việc kinh doanh dễ dàng và chi phí rẻ hơn.
- Thu hút vốn đầu tư, các nguồn tài trợ từ nước ngoài
Các doanh nghiệp Việt Nam thường xuyên đối mặt với khả năng tài chính hạn hẹp do
tiềm lực vốn đất nước chưa đủ mạnh. Quá trình toàn cầu hóa với làn sóng đầu tư mạnh
mẽ của các chủ đầu tư nước ngoài, các nguồn tài trợ vốn từ các tổ chức lớn như Ngân
hàng thế giới (WB),…là cơ hội rõ ràng để các doanh nghiệp Việt giải tỏa cơn khát vốn
bấy lâu.
Tham gia vào WTO sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các dòng vốn FDI di chuyển đến những
nơi đầu tư có hiệu quả. Như vậy, các nước nếu biết khai thác tốt các lợi thế so sánh của
đất nước mình sẽ có thể tăng cường thu hút vốn FDI phục vụ cho quá trình phát triển đất
nước. Sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ của các nước NIC, các con rồng châu Á, một số
nước ASEAN, Trung Quốc nhờ một phần quan trọng vào nguồn vốn FDI và các nguồn
vốn bên ngoài khác. Thực tế cho thấy những nước đang phát triển bứt lên được về kinh tế
trong hai ba thập kỷ vừa qua là những nước biết nắm bắt các cơ hội thuận lợi trong
thương mại và đầu tư mà quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra. Đó là
những nước đã thu hút được nhiều vốn FDI nhất trong số các nước đang phát triển, đồng
thời là những nước có chính sách kinh tế dựa trên nguyên tắc tự do hoá và hướng ngoại

khẩu ưu đãi, thưởng xuất khẩu, độc quyền kinh doanh sẽ phải giảm dần theo các cam
kết quốc tế, làm gia tăng mạnh mẽ áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, đây là một thách thức
rất lớn, nhưng cũng là cơ hội để doanh nghiệp tự vươn lên khẳng định mình. Bởi vì, việc
giảm bớt sự bảo hộ của Nhà nước sẽ tạo sức ép và động lực để các doanh nghiệp Việt
Nam buộc phải đổi mới quản lý, công nghệ, cải tiến sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao
hiệu quả và sức cạnh tranh mới có thể tồn tại trên thị trường.
Và để cạnh tranh, trước tiên doanh nghiệp Việt phải xác định được vị thế của mình trên
bản đồ kinh doanh toàn cầu. Theo báo cáo mới nhất của UNDP về 200 doanh nghiệp
hàng đầu Việt Nam thì chúng ta chưa có doanh nghiệp lớn tầm cỡ thế giới. Những doanh
nghiệp hàng đầu Việt Nam chỉ mới tương đương với những doanh nghiệp vừa và nhỏ của
các nước phát triển. Tuy vậy, đây chưa hẳn là một thực tế đáng buồn bởi khi nhìn lại quá
trình lịch sử, nghề kinh doanh của Việt Nam chỉ vừa được khôi phục trong một thời gian
không dài.
Trong thời gian gần đây, nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đến việc
xây dựng thương hiệu và bảo hộ thương hiệu trên thị trường toàn cầu (Phở 24, bưởi Năm
Roi, …)
Ví dụ: Năm 2009 Công ty cổ phần Trung Nguyên khai trương một nhà máy chế biến cà
phê có công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới ở Việt Nam - một cấu phần của Dự án "Thủ
phủ cà phê toàn cầu" do Trung Nguyên đề xướng và đang triển khai: Việc Trung Nguyên
khai trương nhà máy chế biến cà phê có công nghệ hiện đại nhất thế giới, tuy là một sự
kiện bình thường của hoạt động kinh doanh, lại chứa đựng một hàm ý rõ ràng: để thắng
trong cạnh tranh quốc tế và khẳng định mình là không nhỏ, doanh nghiệp Việt Nam cần
nhanh chóng đạt tới đỉnh cao công nghệ của thế giới. Và các doanh nghiệp Việt Nam có
thể đạt được mục tiêu đó. Dĩ nhiên, công nghệ cao chỉ là một phần, dù là phần rất quan
trọng, của cuộc chơi chinh phục mà doanh nghiệp Việt Nam hướng tới.

- Cơ hội giao lưu hợp tác, trao đổi học hỏi với các doanh nghiệp khác trên thế giới
4. Thách thức
• Thách thức bắt nguồn từ bản thân các doanh nghiệp

doanh nghiệp quan tâm một cách đúng mức.
Khả năng tiếp cận vốn cũng là một trong những khó khăn đối với doanh nghiệp, nhất là
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiện tại, có đến 70% doanh nghiệp còn dựa chủ yếu vào các
nguồn vốn vay, trong khi đó quy định về mức lãi suất huy động vốn của Ngân hàng Nhà
nước đối với các ngân hàng thương mại đang ở mức 14%/năm, lãi suất cho vay trong lĩnh
vực sản xuất kinh doanh từ 17% - 18%/năm. Trên thực tế một số ngân hàng thương mại
đã phá rào huy động vốn bằng cách nâng mức lãi suất lên 15% - 19%/năm, tùy vào thời
điểm và số lượng tiền gửi. Hệ quả là lãi suất cho vay đã bị nâng lên trên 20%, gây khó
khăn cho các doanh nghiệp. Chưa kể, một số ngân hàng đặt ra nhiều loại phí, đã đẩy mức
lãi suất thật mà các doanh nghiệp phải vay tăng ngất ngưởng khiến sản xuất kinh doanh
gặp khó khăn và xáo trộn. Như vậy, khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn sản xuất của
doanh nghiệp sẽ đẩy chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lên cao, làm giảm
hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam.
- Sự lạc hậu về khoa học – công nghệ
Hiện nay, đa số các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức
trung bình của thế giới từ 2 đến 3 thế hệ. Thể hiện cụ thể: hơn 70% máy móc thiết bị
đang sử dụng được sản xuất từ những năm 1970; 75% máy móc thiết bị đã hết thời gian
khấu hao; 50% máy móc thiết bị mới tân trang. Xét về trình độ công nghệ, không có
doanh nghiệp Việt Nam nào đạt trình độ công nghệ hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế;
trong khi đó có 35% và 44% doanh nghiệp có trình độ công nghệ trung bình, lạc hậu và
rất lạc hậu; trình độ công nghệ khá cũng chỉ khiêm tốn ở mức 21%.
Vì lý do lạc hậu về công nghệ nên chi phí sản xuất của doanh nghiệp luôn cao hơn chi phí
trung bình của thế giới từ 10 - 30%, trong khi chất lượng chưa tương xứng khiến cho
hàng hóa của Việt Nam rất khó cạnh tranh với các hàng hóa cùng chủng loại của nước
ngoài trên thị trường quốc tế, khu vực và ngay cả thị trường trong nước. Phần lớn doanh
nghiệp Việt Nam hoạt động chủ yếu trong các ngành nghề truyền thống. Tỷ lệ doanh
nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực hiện đại chưa nhiều: doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực dịch vụ tài chính tín dụng chỉ chiếm 1,46%, kinh doanh tài sản và tư vấn
chỉ chiếm 5,73%, khoa học và công nghệ chiếm 0,02%.
- Sự hạn chế về khâu nguyên vật liệu và sự yếu kém về thương hiệu các doanh nghiệp

núi, vùng sâu, vùng xa. Hàng hóa Việt Nam đang có nguy cơ thua ngay trên chính sân
nhà của mình.
• 2. Thách thức từ môi trường kinh doanh
- Điểm yếu kém nhất trong môi trường kinh doanh Việt Nam hiện nay có thể nói chính là
cơ sở hạ tầng của nền kinh tế.
Việc nâng cấp các hạ tầng vật chất của Việt Nam vẫn còn nhiều thiếu sót và chậm trễ, đặc
biệt là trong việc phát triển cơ sở hạ tầng trọng yếu như các tuyến đường giao thông liên
tỉnh, cầu, phà, kho bãi, phương tiện chuyên chở… Những yếu kém này đã làm tăng chi
phí lưu thông, tăng thời gian không sản xuất của doanh nghiệp và làm giảm đáng kể lợi
nhuận cũng như những cơ hội đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam.
- mức nhập siêu trong nền kinh tế không những không giảm mà còn tăng mạnh.
Nhập siêu tháng sau luôn “lớn nhanh” hơn tháng trước. Đối với doanh nghiệp sản xuất
sản phẩm cùng loại tiêu thụ trong nước thì nhập siêu với quy mô lớn, liên tục và trong
thời gian dài như trên đã làm thu hẹp thị phần tiêu thụ sản phẩm, gây khó khăn lớn về thị
trường đầu ra cho doanh nghiệp.
- Hiện nay thủ tục hành chính đang được Chính phủ, các ngành, các cấp cải tiến theo
hướng tiết giảm mạnh nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả với doanh nghiệp.
Bình quân mỗi năm một doanh nghiệp Việt Nam phải dành tới 1050 giờ cho các thủ tục
thuế, gấp hai lần bình quân các nước tiên tiến trong khu vực. Do đó vừa làm tăng chi phí,
tốn thời gian công sức, làm lỡ thời cơ của doanh nghiệp Việt Nam và làm giảm sức cạnh
tranh của nền kinh tế trên trường quốc tế.
- Hiện tượng hàng giả, hàng nhái, hàng buôn lậu trốn thuế, doanh nghiệp ma,… hiện
chiếm tỷ trọng không nhỏ cũng là một yếu tố làm cho môi trường cạnh tranh Việt Nam
kém lành mạnh, gây thiệt hại lớn đối với doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Như vậy, môi trường kinh doanh của Việt Nam còn nhiều bất cập gây khó khăn cho quá
trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đòi hỏi trong thời gian tới, Chính phủ cần
nỗ lực giải quyết những khó khăn nhằm thúc đẩy sản xuất, tăng sức cạnh tranh cho sản
phẩm, doanh nghiệp trong nước và nền kinh tế.
Trước những thách thức, khó khăn như đã phân tích, thì việc nâng cao năng lực cạnh
tranh là một yêu cầu cấp bách của doanh nghiệp và nền kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status