Tác động của qúa trình toàn cầu hóa kinh tế - Pdf 10

Tác động của qúa trình toàn cầu hóa kinh tế
Toàn cầu hóa kinh tế ngày nay đã trở thành xu thế chung của thời đại mà các quốc gia,
dân tộc không thể bỏ qua được. Vậy bản chất, những đặc điểm của toàn cầu hóa kinh
tế là gì? Điều này được trình bày tóm lược trong bài viết, cùng với những phân tích
sâu sắc về tác động của quá trình này tới nền kinh tế các nước, đặc biệt đối với các
doanh nghiệp Việt Nam khi nước ta ngày càng tham gia sâu rộng vào hội nhập kinh tế
quốc tế, để từ đó có nhận thức đúng và những biện pháp phù hợp nhằm tận dụng cơ
hội, vượt qua thách thức.
1 - Toàn cầu hóa kinh tế tác động đến các nền kinh tế
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã dẫn đến một xu thế lớn đang chi
phối sự phát triển của thế giới hiện đại, đó là quá trình toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa
(tiếng Anh là Globalization), xét về bản chất là quá trình gia tăng mạnh mẽ những mối
liên hệ ảnh hưởng, tác động lẫn nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã
hội, chính trị giữa các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới. Trong các nội dung trên
thì toàn cầu hóa kinh tế vừa là trung tâm, vừa là động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu
hóa các lĩnh vực khác. Về bản chất, toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng
các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia và khu vực, tạo ra sự tùy thuộc
lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng tới một nền kinh tế
thế giới hội nhập và thống nhất. Những đặc điểm chủ yếu của toàn cầu hóa kinh tế là :
Tự do hóa các yếu tố của tái sản xuất xã hội mang tính toàn cầu được thể hiện qua tự
do hóa thương mại đang trở thành nội dung quan trọng của quá trình toàn cầu hóa
kinh tế. Bằng chứng là, mục tiêu của hầu hết các thể chế kinh tế thương mại song
phương và đa phương, đặc biệt là WTO, đều tập trung giải quyết vấn đề tiếp cận thị
trường thông qua các cam kết về tự do hóa thương mại. Đây là quá trình dỡ bỏ dần
những cản trở trong hoạt động thương mại, xóa bỏ sự phân biệt đối xử, tạo lập sự cạnh
tranh bình đẳng, nhằm làm cho hoạt động thương mại trên phạm vi quốc tế ngày càng
tự do hơn thông qua việc cắt giảm dần thuế quan; giảm bớt, tiến tới loại bỏ hàng rào
phi thuế quan, như hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, quản lý ngoại hối, phụ
thu hàng nhập khẩu, các loại lệ phí và nhiều cản trở vô hình khác; bảo đảm cạnh tranh
công bằng và không phân biệt đối xử.
Đẩy mạnh tự do hóa các hoạt động tài chính và đầu tư quốc tế được đẩy mạnh. Toàn

làn sóng lan khắp các châu lục. Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 24 tổ chức liên
kết kinh tế khu vực có quy mô lớn với những mức độ quan hệ khác nhau. Tầm ảnh
hưởng của chúng đến mức hầu như không có quốc gia nào không là thành viên của
một liên kết kinh tế quốc tế, nhiều quốc gia đồng thời là thành viên của nhiều tổ chức
liên kết kinh tế khác nhau. Và, nếu khi mới ra đời, GATT chỉ có 23 thành viên với
lĩnh vực điều tiết chủ yếu là trong thương mại hàng hóa và còn giới hạn ở vấn đề thuế
quan, thì đến cuối năm 2005, WTO (tổ chức thay thế cho GATT trước đây) đã là một
tổ chức với gần 150 thành viên, điều tiết hầu hết các lĩnh vực, khía cạnh của thương
mại quốc tế.
Toàn cầu hóa đã thúc đẩy kinh tế phát triển với tốc độ cao, nếu nửa đầu thế kỷ XX,
tổng GDP của thế giới tăng 2,7 lần, thì đến nửa cuối thế kỷ, tổng GDP thế giới đã tăng
5,2 lần. Đầu năm 1950, tỷ trọng thương mại trong GDP toàn cầu là 7%, thì hiện nay
2
đã tăng lên hơn 50%. Năm 2004, tổng giá trị thương mại toàn cầu đạt hơn 22.267 tỉ
USD, làm cho thương mại thực sự trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển
và tăng trưởng của nền kinh tế thế giới. Biểu đồ sau đây cho thấy mức tăng trưởng
GDP và xuất khẩu hàng hóa thế giới trong 10 năm sau khi WTO ra đời.
Biểu đồ: Tăng trưởng GDP và xuất khẩu hàng hóa của thế giới thời kỳ 1995 – 2004
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế dẫn đến việc những hàng rào kinh tế ngăn cách giữa
các quốc gia dần được dỡ bỏ, điều này đã mở ra những cơ hội thị trường to lớn cho tất
cả các nước, mà trước hết là thị trường xuất - nhập khẩu.
Trong nền kinh tế toàn cầu, cùng với các quan hệ trao đổi hàng hóa dịch vụ tăng lên
mạnh mẽ là sự gia tăng nhanh chóng các dòng lưu chuyển của vốn đầu tư, công nghệ,
kinh nghiệm quản lý, được đẩy mạnh. Vì vậy, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa,
các quốc gia có cơ hội to lớn trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tiếp
nhận được các công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế
giới, rút ngắn khoảng cách tụt hậu.
Đối với các nước đang phát triển, toàn cầu hóa kinh tế đã tạo điều kiện cho các quốc
gia nhanh chóng tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế. Từ đó hình thành
nên một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, rút ngắn được tiến

trong lúc các mặt hàng công nghiệp có hàm lượng khoa học, công nghệ cao lại thường
được cắt giảm thuế quan sớm hơn cả.
Toàn cầu hóa kinh tế mở ra cơ hội tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, song chính điều
đó lại bao hàm khả năng phụ thuộc rất lớn vào bên ngoài của các quốc gia. Mức độ
phụ thuộc này thể hiện trên hai chỉ tiêu chính là tỷ trọng thương mại trong tổng GDP
và tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài, nhất là vốn ngắn hạn trong tổng vốn đầu tư phát triển.
Sự lệ thuộc này dồn các nước vào tình thế phải đối mặt với nhiều rủi ro do biến động
thị trường, giá cả, thậm chí cả các sự cố về xung đột chính trị, sắc tộc ở một nơi nào
đó trên thế giới.
Toàn cầu hóa kinh tế có thể đưa lại những hậu quả xấu về môi trường sống và xã hội.
Bởi vì, việc mở cửa nhằm tiếp nhận các nguồn lực, các thành tựu khoa học công nghệ,
thiết bị máy móc và những nguồn vốn đầu tư của thế giới để phát triển, bản thân nó
4
cũng tiềm ẩn những mặt bất lợi: sự xâm nhập công nghệ lạc hậu, nạn ô nhiễm môi
trường, các tệ nạn xã hội, sự bất bình đẳng trong xã hội gia tăng.
2 - Những cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế
Cơ hội thị trường quốc tế sẽ ngày càng rộng mở cho các doanh nghiệp cùng với tiến
trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tiễn những năm đổi mới đã chứng minh
rõ điều này. Trong giai đoạn từ năm 1996 - 2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt mức trung bình 17,5/ năm, giá trị xuất khẩu đã tăng gấp
gần 5 lần, từ 7,2 tỉ USD (năm 1996) lên 32,2 tỉ USD (năm 2005), đưa Việt Nam trở
thành quốc gia có nền thương mại phát triển ở mức trung bình trên thế giới. Và, kể từ
sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực (tháng 12-2001), kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng hơn 7 lần, từ 1,053 tỉ USD năm
2001, lên 6,5 tỉ USD năm 2005.
Các doanh nghiệp tiếp cận được với đầu vào nhập khẩu rẻ hơn sẽ tạo điều kiện giảm
bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh. Trong điều kiện Nhà nước thực hiện bảo hộ đối
với một ngành sẽ dẫn đến giá hàng hóa của ngành đó cao hơn so với thị trường và vì
thế những ngành có liên quan, đặc biệt là những ngành sử dụng sản phẩm của ngành

các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài ngay tại thị trường nội địa. Bởi vì, khi hội nhập
với nền kinh tế khu vực và thế giới, thị trường nội địa phải "mở cửa", các rào cản thuế
quan cũng như phi thuế quan bị giảm bớt và loại bỏ, các doanh nghiệp nước ngoài
được tự do tham gia buôn bán, cung cấp hàng hóa, dịch vụ như doanh nghiệp trong
nước trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử. Bên cạnh đó, các hình thức hỗ trợ
truyền thống rất phổ biến của Nhà nước cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế bao
cấp như: trợ cấp, trợ giá, hỗ trợ tín dụng xuất khẩu ưu đãi, thưởng xuất khẩu, độc
quyền kinh doanh cũng phải từng bước cắt giảm, xóa bỏ. Trong khi các hàng hóa,
dịch vụ nhập khẩu do nước ngoài cung cấp đa dạng, phong phú với chất lượng và giá
cả thấp hơn, các nhà cung cấp "trường vốn" hơn và dày dạn kinh nghiệm trong cạnh
tranh quốc tế, chưa nói tới tâm lý chung của người tiêu dùng vẫn chủ yếu là "sính
hàng ngoại". Nhiều doanh nghiệp trong nước có nguy cơ bị mất thị phần của mình,
thậm chí bị phá sản.
- Khó khăn rất lớn đối với các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập là khả năng cạnh
tranh của sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu so với các nước
trong khu vực và thế giới. Điều này được phản ánh ở hàm lượng tri thức và công nghệ
trong sản phẩm thấp, yếu tố vốn trong cơ cấu giá thành sản phẩm không cao, chủ yếu
dựa vào yếu tố lao động hoặc điều kiện tự nhiên, trong khi lợi thế về lao động hiện
nay đang giảm dần. Chất lượng hàng hóa, dịch vụ nhìn chung chưa tốt; chưa đa dạng
phong phú về chủng loại; chưa có sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ nào có ưu thế rõ rệt
trên thị trường thế giới nhờ vào chất lượng và những thương hiệu mạnh
- Trình độ công nghệ và trang thiết bị, máy móc của các doanh nghiệp lạc hậu. Hiện
nay tỷ trọng số doanh nghiệp công nghiệp thuộc nhóm ngành công nghệ cao chỉ có
20,6% (thấp nhất trong số các nước ASEAN, trừ Lào, Cam-pu-chia và My-an-ma),
nhóm ngành công nghệ trung bình 20,7%, còn thuộc nhóm ngành công nghệ thấp
chiếm tới 58,7%, dẫn tới năng suất lao động thấp, tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu
nhiều, hiệu quả thấp, giá thành sản xuất của nhiều sản phẩm cao hơn giá nhập khẩu.
6
- Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, trừ một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, phần lớn (90%) là doanh nghiệp nhỏ và vừa với tiềm lực rất hạn chế về tài

Tác giả : Th.s Phan Văn Ninh - PTP Đào tạo
File đính kèm: Không có
Thuật ngữ "Toàn cầu hóa" (TCH) mới xuất hiện vào những thập niên gần đây. Trước hết và chủ yếu là toàn cầu hóa
kinh tế. Nhưng đời sống vật chất lại tác động đến đời sống tinh thần, nên TCH kinh tế đã quyết định xu thế phát
7
triển của các lĩnh vực khác, như văn hoá, chính trị v.v Hiện nay còn nhiều định nghĩa về TCH kinh tế. Nhưng, theo
nhận thức của chúng tôi, về thực chất, TCH kinh tế là xu hướng tất yếu biểu hiện sự phát triển vượt bậc của lực
lượng sản xuất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu dưới tác động của
cách mạng khoa học - công nghệ và tích tụ, tập trung sản xuất, dẫn tới hình thành nền kinh tế toàn thế giới. Mầm
mống của xu thế TCH kinh tế có từ khi đại công nghiệp cơ khí tư bản chủ nghĩa được hình thành, nhưng nó chỉ thực
sự bắt đầu trong bước chuyển từ CNTB tự do cạnh tranh sang CNTB độc quyền. Khi nghiên cứu về chủ nghĩa đế
quốc, V.I. Lê nin đã nhận định: " mạng lưới dày đặc những mạch máu ngân hàng lan rộng nhanh chóng như thế
nào, nó bao phủ các nước, tập trung hết thảy tư bản và các khoản thu nhập bằng tiền, biến hàng nghìn hàng vạn
doanh nghiệp tản mạn thành một đơn vị kinh tế tư bản chủ nghĩa thống nhất toàn quốc, rồi sau đó thành một đơn vị
kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới" . TCH kinh tế là trình độ phát triển cao của quốc tế hóa đời sống kinh tế. Ban đầu
là quốc tế hóa về thương phẩm và dịch vụ, mở rộng mậu dịch quốc tế, hình thành thị trường toàn thế giới thống
nhất. Tiếp theo là quốc tế hóa về tư bản; việc xuất, nhập khẩu tư bản tăng lên, trước hết từ chính quốc sang thuộc
địa, rồi dần dần di chuyển trên phạm vi toàn cầu. Sau cùng là quốc tế hóa về sản xuất; cách mạng khoa học - công
nghệ cùng với sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia đã tái hiện hình thức phân công kiểu công trường thủ
công trên phạm vi toàn cầu, khiến cho các nền kinh tế dân tộc tuỳ thuộc vào nhau và hình thành TCH kinh tế. TCH
kinh tế phát triển tác động đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. TCH kinh tế bắt nguồn từ những nhân tố chủ
yếu sau đây. - Cách mạng khoa học và kỹ thuật trước đây và cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay (nhất là
công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa ) đã thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển vượt bậc, tạo ra những phương tiện giao thông vận tải và thông tin liên lạc hiện đại, mở rộng
phân công lao động quốc tế trên phạm vi toàn cầu, làm tăng sự tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế dân tộc. -
Sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia (TNCs). Ngày nay, số lượng TNCs trên thế giới có khoảng 60.000
công ty mẹ, chiếm 25% giá trị của sản xuất toàn cầu, 65% kim ngạch mậu dịch thế giới,70% đầu tư nước ngoài,
90% công nghệ cao với một hệ thống chi nhánh (công ty con) khoảng trên 500.000, như những vòi của con bạch
tuộc khổng lồ bao trùm khắp thế giới. Mặt khác, trao đổi giữa các chi nhánh trong nội bộ TNCs ở các nước ngày càng
tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thương mại của nhiều nước. Hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài

nước TBCN phát triển nên sự phân cực giàu nghèo giữa các nước, cũng như trong từng nước, ngày càng xa. TCH
kinh tế đặt các nước đang phát triển vào một cuộc cạnh tranh không cân sức, nước nào vượt qua được thì sẽ tiến
nhanh, nước nào ứng phó thất bại thì sẽ bị mất mát lớn, thậm chí thụt lùi. Nền kinh tế dân tộc của các nước đang
phát triển rất dễ bị tổn thương, nhất là về phương diện bảo đảm an toàn về tài chính. TCH cũng kéo theo cả những
8
tội phạm xuyên quốc gia, những tệ nạn xã hội mang tính toàn cầu và truyền bá những "văn hoá phẩm" phi nhân
bản, xâm hại bản sắc văn hoá dân tộc Trong từng nước cũng có tầng lớp dân cư được hưởng lợi từ TCH có tầng
lớp bị thua thiệt hay thất nghiệp, phá sản vì TCH. Bởi vậy, mỗi nước phải có một chiến lược tổng thể phù hợp với
thực lực và bối cảnh lịch sử cụ thể của nước mình để xử lý linh hoạt, nhằm tranh thủ cái lợi, giảm bớt tác hại của
TCH. - TCH kinh tế là xuất hiện tất yếu, khách quan, không thể đảo ngược, nhưng không thuận buồm xuôi gió mà
đầy mâu thuẫn. TCH kinh tế mở rộng biên giới kinh tế vượt biên giới lãnh thổ quốc gia, mỗi nước tham gia TCH kinh
tế, một mặt, phải thích nghi với những quy tắc chung, phải từ bỏ một số quyền lợi dân tộc nào đó, mặt khác vẫn
phải bảo vệ chủ quyền quốc gia và lợi ích chính đáng của dân tộc. TCH kinh tế thúc đẩy nền kinh tế thế giới tăng
trưởng nhanh nhưng phân phối lợi ích lại ngày càng chênh lệch. Các nước phát triển muốn dựa vào ưu thế về nhiều
mặt để duy trì trật tự kinh tế thế giới hiện tồn trong khi các nước đang phát triển lại muốn đòi lập một trật tự kinh tế
quốc tế mới công bằng, cùng có lợi. TCH kinh tế đi cùng với khu vực hóa; tự do hóa xen lẫn với xu hướng bảo hộ,
nên cạnh tranh toàn cầu lại diễn ra cùng với cạnh tranh giữa các tổ chức kinh tế khu vực, giữa tổ chức khu vực với
quốc gia ngoài khu vực. - Các chủ thể cùng hợp tác và đấu tranh, cùng tham gia hoạch định các thể chế về TCH kinh
tế. Đó là các quốc gia có chủ quyền, các tổ chức kinh tế khu vực, các tổ chức kinh tế quốc tế (IMF, WB, WTO) và
TNCs. Mặc dù ưu thế thuộc về các nước phát triển nhất và TNCs lớn nhất, họ chi phối quyết sách của các tổ chức
quốc tế, nhưng không phải họ có thể mặc sức làm mưa làm gió theo ý chí chủ quan của họ. Trên vũ đài quốc tế và
trong từng tổ chức quốc tế luôn diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước
đang phát triển, giữa lực lượng tiến bộ với lực lượng đế quốc và không ít những thoả thuận phản ánh sự đấu tranh
và thoả hiệp giữa các lực lượng đó. - Kinh tế phi vật thể ngày càng thoát ly kinh tế hiện vật và tồn tại độc lập, khiến
cho TCH kinh tế rất dễ bị xáo động bởi các cuộc khủng hoảng. Hiện chỉ có khoảng 2% giao dịch tài chính, tiền tệ có
quan hệ với hàng hoá và dịch vụ. Cái gọi là "kinh tế bong bóng" tăng lên, trở thành một nhân tố quan trọng làm cho
hệ thống tài chính - tiền tệ toàn cầu dễ bị xáo động. Tình trạng đó diễn ra trong bối cảnh chuyên môn hóa và hợp
tác quốc tế ngày càng sâu rộng; TNCs cắm nhánh ở nhiều nước và biến phân công quốc tế thành phân công trong
nội bộ công ty, lôi cuốn các quốc gia vào cùng một "dàn hợp xướng", nên chỉ một xáo động nhỏ cũng có thể làm
rung chuyển cả hệ thống; gây ra những cuộc khủng hoảng lan rộng. - Xu thế khu vực hóa tiếp tục diễn ra cùng với

tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới, đối với mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam, phải biết phát huy được những
lợi thế, hạn chế những thách thức, đảm bảo được lợi ích và chủ quyền dân tộc là chìa khóa cho sự phát triển.
9
Toàn cầu hóa kinh tế - cách tiếp cận, cơ hội và thách thức (Bài viết của Bộ
trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển đăng trên Báo Nhân dân Điện tử
ngày 17/01/2005)
1. Ðã có nhiều ý kiến khác nhau về chủ đề toàn cầu hóa. Bởi, toàn cầu hóa là một tiến trình
phức tạp, chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Có mặt thuận và mặt nghịch, có cơ hội và thách
thức. Mặc dù vậy, như Ðảng ta đã nhận định "Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách
quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia "
(1)
.
Tại sao lại nói "Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan"? Bởi động lực của "toàn cầu hóa" là sự
phát triển của lực lượng sản xuất, mà lực lượng sản xuất thì không ngừng lớn mạnh. Ðây là quy
luật chung nhất cho mọi thời đại, mọi chế độ xã hội. Sự lớn mạnh đó không chỉ theo cấp số cộng
mà theo cấp số nhân. Cái cấp số này lớn đến mức nào không chỉ tùy thuộc vào sự phát triển của
khoa học - công nghệ mà còn tùy thuộc vào cách tổ chức quan hệ sản xuất, nhưng càng về sau
cấp số này càng lớn.
Trong xã hội phong kiến, lực lượng sản xuất còn hết sức thấp kém, của cải làm ra chưa đủ bảo
đảm những nhu cầu tối thiểu của con người, các yếu tố của quá trình tái sản xuất đóng khung sự
vận động trong phạm vi cai quản của lãnh chúa phong kiến theo kiểu "Nội bất xuất, ngoại bất
nhập". Thị trường, do đó, cũng bị vây chặn trong địa hạt của từng lãnh chúa.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra, lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, quan
hệ sản xuất phong kiến không thể dung nạp nổi sự phát triển của lực lượng sản xuất, các cuộc
cách mạng tư sản đã quật đổ chế độ phong kiến. Chủ nghĩa tư bản ra đời, trước hết ở châu Âu,
đã phá bỏ các rào cản do các lãnh chúa thiết lập và áp chế. Có thể nói công lao của chủ nghĩa tư
bản, như một nấc thang trong sự phát triển của xã hội loài người, là đã hình thành được thị
trường dân tộc.
Nhưng như trên đã nói, lực lượng sản xuất không ngừng phát triển, thị trường dân tộc cũng đã
không chứa nổi nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Và do đó, nhà nước của giai cấp tư

đậm dấu ấn của con người, của chủ thể. Chính sự chiếm đoạt thị trường theo phương thức thực
dân (cũ và mới) kéo dài suốt từ đầu thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 20 bắt nguồn từ yêu cầu phát triển
của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa và do chính quyền tư sản ở các nước tư bản công
nghiệp phát động. Tiến trình toàn cầu hóa hiện nay cũng do các nước tư bản phát triển - đằng
sau nó là các tập đoàn xuyên quốc gia - phát động, trước hết là vì lợi ích của các nước, các tập
đoàn này.
Chính vì thế, quá trình toàn cầu hóa hiện nay là "không đối xứng". Sự "không đối xứng" không chỉ
ở các lĩnh vực mà quá trình này đặt ra và giải quyết. Trong khi chú ý đến nội dung kinh tế, nó đã
không quan tâm đầy đủ đến các vấn đề xã hội, an sinh và môi trường. Không đối xứng còn thể
hiện ở sự phân phối lợi ích trong toàn cầu hóa là không cân bằng. Các nước công nghiệp phát
triển được lợi nhiều hơn, các nước đang phát triển và chậm phát triển chịu nhiều thua thiệt
(3)
.
Ở nước ta cũng đã có cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu, lý luận về tính chất của toàn cầu
hóa. Rằng toàn cầu hóa có định ngữ (tính từ) không? Toàn cầu hóa đang diễn ra là thuộc phạm
trù tư bản chủ nghĩa, là toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa hay toàn cầu hóa kiểu gì? Giá trị của các
11
cuộc tranh luận này có lẽ chủ yếu không phải ở phương diện khoa học. Bởi, về mặt khoa học và
nhận thức luận, vấn đề đã được giải quyết khi chúng ta phân biệt sự vận động của quy luật tự
nhiên và quy luật xã hội và đã được giải quyết từ thời Mác. Ngay sau việc khẳng định đại công
nghiệp tạo ra thị trường thế giới, Mác đã chỉ ra rằng giai cấp tư sản đang mưu toan "tạo ra cho nó
một thế giới theo hình dạng của nó"
(4)
. Giá trị chủ yếu của các cuộc tranh luận này có lẽ chủ yếu
là để nhận diện rõ hơn mặt trái của toàn cầu hóa, tránh những hiểu biết phiến diện và ngộ nhận
sai lầm khi tham gia vào quá trình này.
Một câu hỏi tự nhiên được đặt ra là: Tại sao toàn cầu hóa hiện nay do các nước tư bản phát triển
phát động, trước hết vì lợi ích của các nước này lại "lôi cuốn được ngày càng nhiều nước tham
gia", kể cả các nước đang phát triển và chậm phát triển?
Trong thời đại ngày nay, khi mà các yếu tố của sản xuất đã được quốc tế hóa một cách sâu sắc,

nhiều yếu tố hội thành điều kiện đủ.
3. Do toàn cầu hóa là một quá trình chưa định hình, đang tiếp tục vận động dưới tác động của
các mâu thuẫn và sự đấu tranh giữa các lực lượng đứng sau các mâu thuẫn ấy, khó có thể có
được một định nghĩa chính xác, đầy đủ về toàn cầu hóa. Vì vậy, cách tiếp cận thực tiễn hơn cả là
xem xét các định chế của toàn cầu hóa hiện nay - tức là xem xét các nội dung của toàn cầu hóa
thể hiện trong các Hiệp định của WTO về mở cửa thị trường. Theo đó, các nước tham gia vào tổ
chức này phải mở cửa thị trường nước mình cho các nước thành viên cả về thương mại hàng
hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư.
Ðể mở cửa thị trường về thương mại hàng hóa các nước phải loại bỏ các hàng rào phi quan thuế
cản trở thương mại, phải giảm thuế nhập khẩu (mức độ và lộ trình cắt giảm còn phụ thuộc vào kết
quả đàm phán) để hàng hóa có thể lưu thông tự do từ nước này sang nước khác không bị hạn
chế.
Về dịch vụ, theo phân loại của WTO, dịch vụ bao gồm 11 ngành với 155 phân ngành khác nhau,
hiện đang chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong GDP toàn cầu và bao quát các lĩnh vực của đời
sống xã hội, phục vụ trực tiếp cho sản xuất, tiêu dùng.
Ðể mở cửa thị trường dịch vụ, mỗi nước phải chấp nhận để các nước thành viên cung ứng dịch
vụ cho pháp nhân và thể nhân nước mình theo các phương thức: (i) Cung ứng qua biên giới:
Theo đó, các thương nhân kinh doanh dịch vụ đăng ký kinh doanh ở một nước thành viên có
quyền cung ứng dịch vụ cho các pháp nhân và thể nhân của các thành viên khác mà không cần
lập hiện diện thương mại tại các thành viên đó. Phương thức này ngày càng phát triển với sự
phát triển của công nghệ thông tin và internet. (ii) Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: Theo đó, mỗi nước
thành viên phải để cho pháp nhân và thể nhân nước mình được sử dụng dịch vụ do các thương
nhân của các nước thành viên khác cung ứng ở ngoài lãnh thổ nước mình. (iii) Hiện diện thương
mại: Mỗi nước thành viên phải để cho thương nhân cung ứng dịch vụ của các nước thành viên
khác lập các công ty, chi nhánh công ty tại nước mình để kinh doanh dịch vụ. (iv) Hiện diện thể
nhân: Ðây vừa là phương thức hiện diện thương mại, đồng thời là sự di chuyển thể nhân - về bản
chất là để cho công dân các nước thành viên vào hoạt động dịch vụ ở nước mình. Tuy nhiên, do
phương thức này tác động trực tiếp đến việc làm của từng nước, nên trong Vòng Uruguay - Vòng
đàm phán để thành lập WTO - các nước chưa đạt được thỏa thuận cụ thể. Trong vòng đàm phán
13

tận hơn, sâu hơn như: Thế nào là một nền kinh tế độc lập, tự chủ; mối quan hệ giữa độc lập, tự
chủ về kinh tế và sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng tăng lên trong thời đại toàn cầu hóa; hội nhập
kinh tế và sự hợp tác về an ninh, hợp tác về văn hóa Ðây là những vấn đề có ý nghĩa quan
14
trọng về phương diện chính trị thực tiễn mà trong phạm vi bài viết này chưa thể đề cập đến.
4. Xem xét trên góc độ thương mại, thế giới đã chứng kiến hai mô hình công nghiệp hóa: Công
nghiệp hóa thay thế nhập khẩu và công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu.
Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đã rất thành công cho đến những thập kỷ cuối của thế kỷ
20. Với hàng rào bảo hộ cao bằng thuế nhập khẩu và các biện pháp phi quan thuế, các nước có
thể bán sản phẩm trên thị trường nội địa mà không bị áp lực cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu.
Với thời gian, các doanh nghiệp có thể cải tiến công nghệ sản xuất, hoàn thiện quá trình quản lý,
tích tụ tư bản, v.v. Từ đó, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tạo lập vị thế của doanh
nghiệp trên thị trường. Ðịnh hướng phát triển này luôn gắn với việc tạo ra một thị trường cạnh
tranh nội bộ thông qua việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Khi thế giới bước sang thời kỳ quốc tế hóa nền sản xuất, tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
giữa các quốc gia diễn ra với nhịp độ ngày càng cao đi đôi với các cam kết mở cửa thị trường thì
định hướng công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu không còn phát huy tác dụng như trong thời kỳ
bảo hộ mậu dịch. Và vì vậy, các nước đều chuyển sang thực thi chính sách công nghiệp hóa chủ
yếu hướng về xuất khẩu.
Trong những năm gần đây, khi toàn cầu hóa kinh tế trở thành xu thế khách quan, nhiều khu vực
mậu dịch tự do và các hiệp định mậu dịch tự do song phương ra đời thì các khái niệm công
nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, hoặc công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu không còn nguyên
nghĩa ban đầu của nó. Bởi lẽ, với việc giảm thuế nhập khẩu (tiến đến 0) và việc bãi bỏ các hàng
rào phi thuế, hàng hóa được lưu thông tự do, ranh giới giữa thị trường trong nưóc và thị trường
ngoài nước là không đáng kể, thậm chí không còn. Trong điều kiện đó, một ngành sản xuất, một
ngành dịch vụ chỉ có thể đứng vững và phát triển nếu có khả năng cạnh tranh trên thị trường
trong nước và thị trường quốc tế. Chiến lược phát triển, chủ trương đầu tư được xác định qua ba
yếu tố: (i) Lợi thế so sánh. Lợi thế so sánh là tiền đề để giảm chi phí sản xuất, lưu thông, là yếu tố
tăng khả năng cạnh tranh. Lợi thế so sánh có thể là giá trị công nghệ, là nguồn lao động dồi dào
với chất lượng cao và giá nhân công thấp, là tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý. Lợi thế so sánh

tranh không chỉ ở cấp độ sản phẩm mà là ở cấp độ doanh nghiệp. Chưa hết! Là đơn vị kinh tế cơ
sở, hoạt động của doanh nghiệp tuy phản ánh tất cả, nhưng tự nó không quyết định tất cả. Khả
năng cạnh tranh của một doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chi phí "đầu vào" mà doanh nghiệp
khác đặt ra cho nó, phụ thuộc vào các cơ chế chính sách vĩ mô, vào các dịch vụ công mà Nhà
nước cung ứng. Tất cả những yếu tố này tạo nên chi phí giao dịch xã hội của doanh nghiệp. Chi
phí giao dịch xã hội càng lớn thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng nhỏ. Và vì vậy, sự
cạnh tranh được đặt ra trên cấp độ lớn hơn: Cạnh tranh tổng lực của nền kinh tế, sức cạnh tranh
quốc gia. Như vậy là: Hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội, vừa có thách thức. Thách thức là
sức ép trực tiếp, còn cơ hội tự nó không chuyển thành lực lượng vật chất trên thị trường mà phải
thông qua hoạt động của chủ thể. Cơ hội và thách thức cũng luôn vận động, biến đổi. Tận dụng
được cơ hội sẽ đẩy lùi được thách thức và tạo ra cơ hội mới lớn hơn. Ngược lại, không tận dụng
được cơ hội thì thách thức sẽ lấn át làm triệt tiêu cơ hội. Chính vì vậy mà vai trò "chủ thể" của
doanh nghiệp, của Nhà nước là rất quyết định. Doanh nghiệp là người "xung trận", là lực lượng
16
trực tiếp đương đầu trong cạnh tranh. Nhưng, Nhà nước phải là người mở đường.
Với nền kinh tế đã được toàn cầu hóa, sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng sâu,
sự phối hợp giữa các nhà nước có vai trò ngày càng lớn, chức năng của nhà nước trong quan hệ
kinh tế đối ngoại ngày càng được tăng cường. Và, tôi không nghĩ rằng công thức "thị trường tối
đa - nhà nước tối thiểu" lại có thể phản ánh đầy đủ mối quan hệ về chức năng giữa nhà nước và
thị trường mà thực chất là mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp - lực lượng "đứng sau"
thị trường và làm nên thị trường.
Bộ trưởng Thương mại TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN
Một số cam kết chính trong khuôn khổ WTO và việc thực thi của Việt Nam
Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và quy định mang tính ràng buộc của WTO từ thời
điểm gia nhập và Việt Nam đã nghiêm túc thực thi đầy đủ các cam kết gia nhập và các nghĩa vụ
chung trong WTO. Thực tế hơn hai năm qua cho thấy Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP cao
(từ 6 -8%) và thu hút nguồn vốn FDI kỷ lục, đặc biệt là tiếp tục duy trì tăng trưởng dương trong 6
tháng đầu năm 2009 và hướng đến mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 5-6 % cho cả năm
2009 trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và suy thoái toàn cầu.
1. Một số cam kết chính của Việt Nam khi gia nhập WTO:

phổ biến kiến thức về HNKTQT.
Trong hơn hai năm qua, Việt Nam đã nghiêm túc thực thi đầy đủ các cam kết gia nhập và các nghĩa vụ
chung trong WTO. Việc gia nhập WTO đã góp phần tạo thêm động lực mới để Việt Nam đẩy mạnh cải
cách trong nước, hoàn thiện hệ thống luật pháp – chính sách và thể chế kinh tế thị trường, cải thiện môi
trường kinh doanh - đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, qua đó, đóng góp hiệu quả
vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thực tế hơn hai năm qua cho thấy Việt Nam đạt
tốc độ tăng trưởng GDP cao (từ 6 -8%) và thu hút nguồn vốn FDI kỷ lục, đặc biệt là tiếp tục duy trì tăng
trưởng dương trong 6 tháng đầu năm 2009 và hướng đến mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 5%
cho cả năm 2009 trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và suy thoái toàn cầu.
Một số nhóm tác động nhìn từ góc độ chính trị - đối ngoại:
Thứ nhất, thông qua việc chủ động và tích cực tham gia đàm phán tại Vòng Ðô-ha, nhất là trong khuôn
khổ Nhóm RAMs, ta có điều kiện cùng các nước đang phát triển đấu tranh nhằm thiết lập một hệ thống
thương mại đa phương công bằng, cân bằng hơn và tính đến lợi ích của các nước đang và kém phát
triển. Tiến trình này đến nay đã đạt kết quả bước đầu: nhiều khả năng Việt Nam, cùng một số thành viên
mới gia nhập khác, sẽ được miễn trừ các nghĩa vụ mới về mở cửa thị trường khi Vòng Ðô-ha kết thúc.
Thứ hai, với tư cách thành viên WTO, ta có điều kiện chủ động yêu cầu đàm phán song phương với một
số đối tác xin gia nhập WTO, qua đó góp phần giải quyết các vướng mắc trong quan hệ kinh tế - thương
mại của ta với các đối tác này.
18
Thứ ba, sau khi ta gia nhập WTO, nhiều đối tác kinh tế - thương mại chủ chốt, trong đó có Hoa Kỳ, EU,
Nhật Bản, Ca-na-đa v.v., ngày càng nhìn nhận Việt Nam như một đối tác giàu tiềm năng và quan trọng tại
khu vực Ðông - Nam Á. Ta cũng tận dụng các mối quan hệ mở rộng để đẩy mạnh triển khai liên kết kinh
tế song phương và khu vực. Theo đó, ta đã ký và thực hiện Hiệp định khung về thương mại và đầu tư với
Hoa Kỳ (TIFA), hoàn tất đàm phán Hiệp định Ðối tác Kinh tế (EPA) với Nhật Bản; đang đàm phán Hiệp
định Mậu dịch Tự do (FTA) với Chi-lê, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương (FIPA) với
Ca-na-đa, Hiệp định Ðối tác và Hợp tác (PCA) với EU; Hiệp định đầu tư song phương (BIT) với Hoa Kỳ
Tuy nhiên, việc gia nhập WTO và hội nhập sâu rộng cũng đặt ra những thách thức cho kinh tế đối ngoại
của ta. Trong cam kết gia nhập WTO, ta phải chấp nhận thời hạn 12 năm trước khi được công nhận là
nền kinh tế thị trường đầy đủ. Ðiều này tạo ra sự phân biệt đối xử với các doanh nghiệp và ngành kinh tế
của ta khi xảy ra các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp do các đối tác nước ngoài khởi xướng.

giai đoạn hội nhập sâu rộng; đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến thông tin để nâng cao nhận thức của
doanh nghiệp và của toàn xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ khi Việt Nam là thành viên WTO.
Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước trong hơn hai thập kỷ qua,
cùng với cam kết mạnh mẽ của Ðảng và Nhà nước ta tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, như đã được
khẳng định tại Ðại hội X của Ðảng (tháng 4-2006), cũng như sự chủ động và quyết tâm của Chính phủ và
của toàn xã hội trong việc tận dụng tối đa các cơ hội và vượt qua các thách thức, là cơ sở vững chắc để
chúng ta tin tưởng vào những bước phát triển mới của đất nước trong thời gian tới./.
(Vụ Hợp tác Kinh tế Đa phương, BNG. 10/2009)
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status