Tác động của quá trình toàn cầu hóa đến họat động và phát triển các dịch vụ của ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 31

Tác động của quá trình toàn cầu hóa đến họat động và phát triển các dịch vụ
của ngân hàng thương mại Việt Nam

1.3.1 Hội nhập Quốc tế
1.3.1.1 Gia nhập WTO
Quá trình gia nhập WTO của Việt Nam không chỉ liên quan đến lĩnh vực
kinh tế đối ngoại mà còn tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội và góp
phần thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
Tổ chức Thương mại thế giới ( WTO ) thành lập ngày 01/01/1995 là kết quả
của vòng đàm phán Uruguay kéo dài trong suốt 8 năm ( 1986 – 1994 ). Sự ra đời
của tổ chức này nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thương mại thế giới. Nó kế
thừa Hiệp định chung về thuế quan và thương mại ( GATT ) năm 1947. Nhưng nó
mở rộng các lĩnh vực thương mại về nông nghiệp, hàng dệt may, dịch vụ, đầu tư sở
hữu trí tuệ mà GATT chưa đề cập đến. Sự ra đời của WTO tạo nên một cơ chế
pháp lý tương đối hoàn chỉnh, điều chỉnh các quan hệ thương mại và hàng hóa toàn
cầu. WTO là một tổ chức liên chính phủ hoạt động độc lập với tổ chức Liên hiệp
quốc ( UN ). Cơ quan cao nhất củaWTO là Hội nghị Bộ trưởng kinh tế thương mại
của tất cả các thành viên, thường hai năm họp một lần.
Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO vào năm 1995 và chính thức gia
nhập WTO vào tháng 11 năm 2006.
Việc tiếp cận khu vực ngân hàng là do các quy định của GATS trong phụ lục
về dịch vụ tài chính. Các lĩnh vực cam kết là: tiếp cận thị trường và đối xử quốc
gia.
Nguyên tắc của WTO về tối huệ quốc ( MFN ) đòi hỏi tất cả các thành viên
phải được đối xử như nhau. Điều này khiến cho các cam kết trong USVNBTA trở


thành mức tối thiểu của GATS. Các trường hợp ngoại lệ về nguyên tắc tối huệ
quốc vẫn được chấp nhận, nhưng thông thường đối xử theo MFN cần phải áp dụng
vào một thời gian được xác định trong tương lai.

nước ngoài.
- Không có các biện pháp hạn chế hay yêu cầu phải mang một hình thức pháp
nhân nào cụ thể.
- Không hạn chế việc tham gia góp vốn của bên nước ngoài dưới hình thức tỷ lệ
phần trăm tối đa số cổ phiếu nước ngoài được nắm giữ theo nguyên tắc thoả thuận.
Các thành viên mới như Việt Nam được phép có thêm thời gian để đạt được
các cam kết chung trong hiệp định. Đối với Việt Nam, thời gian miễn trừ thực hiện
đối xử tối huệ quốc là 3 năm.
1.3.2 Ảnh hưởng của việc hội nhập quốc tế đối với ngân hàng
1.3.2.1 Hội nhập ngân hàng là một phần của phát triển kinh tế
Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Vai trò của hội nhập quốc tế trong phát triển tài chính vẫn còn là điều đang còn
nhiều tranh cải. Sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài trong việc cung cấp các
dịch vụ tài chính cho một quốc gia và sự tham gia vào thị trường quốc tế của các
ngân hàng trong nước đều tạo động lực và điều kiện để chuyển giao công nghệ
giữa các quốc gia với nhau. Đối với một số quốc gia với xuất phát điểm là không
có hệ thống ngân hàng thương mại ( hệ thống ngân hàng nói chung là sự mở rộng
của chính sách tài khoá của chính phủ trong nền kinh tế mệnh lệnh ), sự chuyển
giao công nghệ diễn ra trên toàn bộ các dịch vụ ngân hàng. Đối với các nước khác,
chuyển giao công nghệ là đưa ra các sản phẩm và kỹ thuật quản lý mới.
Hệ thống tài chính và ngân hàng cạnh tranh và mở cửa là những hệ thống tài
chính tốt nhất cho phát triển và tăng trưởng kinh tế. Các cuộc tranh luận về tăng


trưởng kinh tế và phát triển tài chính đều ủng hộ công cuộc cải cách nhằm tạo ra
các điều kiện, theo đó sự cạnh tranh có thể lớn mạnh giữa các nhà cung cấp dịch vụ
tài chính ngân hàng nước ngoài và trong nước được giám sát và quản lý an toàn.
Bằng chứng rõ ràng là sự cạnh tranh sẽ làm cho hệ thống ngân hàng lớn hơn,
hoạt động hiệu quả hơn và lành mạnh hơn. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho phát triển
và tăng trưởng kinh tế. Do vậy, các nước đang phát triển nói chung mong muốn cải

tài chính, bảo hiểm. Ngoài ra, việc phải loại bỏ dần những hạn chế đối với ngân
hàng nước ngoài có nghĩa là các ngân hàng nước ngoài sẽ từng bước tham gia đầy
đủ vào mọi lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
Thứ hai, cạnh tranh trong việc huy động vốn ngày càng gay gắt. Thực hiện
hội nhập đòi hỏi chúng ta phải thực hiện lộ trình cởi bỏ những hạn chế đối với các
ngân hàng nước ngoài trong việc huy động vốn. Ngày 16.9.2004, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã điều chỉnh tỷ lệ huy động vốn tiền gởi VNĐ đối với chi nhánh
ngân hàng nước ngoài hoạt động ở Việt Nam từ 25% lên 50%. Việt Nam cũng
đang cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính- ngân hàng theo lộ trình nới lỏng
dần và tiến tới xoá bỏ các hạn chế đối với hoạt động ngân hàng. Giai đoạn từ 2001
đến 2010, các ngân hàng Mỹ sẽ được thành lập các ngân hàng liên doanh với số
vốn từ 30% - 49%, tới năm 2010 được thành lập ngân hàng với vốn 100% của Mỹ.
Hội nhập ngân hàng đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải nhanh
chóng tăng quy mô, đầu tư công nghệ, cải tiến trình độ quản lý…..Công nghệ hiện
đại và trình độ quản lý cũng như tiềm lực tài chính dồi dào của những ngân hàng
nước ngoài sẽ là những ưu thế cơ bản tạo sức ép cạnh tranh trong ngành ngân hàng
và buộc các ngân hàng Việt Nam phải tăng thêm vốn, đầu tư kỹ thuật, cải tiến
phương pháp quản trị, hiện đại hoá hệ thống thanh toán mà đặc biệt là cải tiến và
phát triển dịch vụ ngân hàng để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh
tranh.


Thứ ba, cạnh tranh trong việc sử dụng lao động ngày càng gay gắt. Mọi sự
thành công của một doanh nghiệp đều xuất phát từ yếu tố con người. Hiện nay, chế
độ đãi ngộ cho lao động đặc biệt là lao động có trình độ cao ở các ngân hàng
thương mại Việt Nam chưa đủ sức thuyết phục để lôi kéo những lao động có trình
độ chuyên môn cao.
Thứ tư, cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng cũng ngày càng
quyết liệt. Ngày nay, ngoài những nghiệp vụ truyền thống như tín dụng và huy
động vốn thì dịch vụ ngân hàng cũng tạo nên sắc thái mới cho ngân hàng trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status