Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, trên đất nước ta đang diễn ra sôi động
quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều
đó, đòi hỏi phải nghiên cứu một cách có hệ thống nhiều lĩnh vực hoạt động kinh
tế theo cơ chế mới. Trong đó, một lĩnh vực có vị trí hết sức quan trọng, đó là lĩnh
vực tiền tệ - ngân hàng. Bởi vì, tiền tệ - ngân hàng là hệ thống thần kinh của nền
kinh tế. Nó có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, là
kênh cơ bản cung ứng vốn cho nền kinh tế để thực hiện các chỉ tiêu vĩ mô của
nền kinh tế. Ngoài cho vay thương mại đối với các tổ chức và cá nhân, hệ thống
ngân hàng còn là nguồn tài chính quan trọng để thực hiện các chủ trương, chính
sách của Đảng và Chính phủ như cho vay đối với hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa,
góp phần hạn chế đáng kể sự chênh lệch phát triển giữa các nhóm thu nhập và
giữa các vùng trong nước, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa.
Đặc biệt, sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức
thương mại Thế giới (WTO) có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nước ta, đánh
dấu sự hội nhập ngày càng sâu, rộng vào kinh tế thế giới. Điều đó đã tạo điều
kiện thuận lợi thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển nói chung và hệ thống
Ngân hàng nói riêng; tuy nhiên cũng đặt ra không ít những khó khăn và thách
thức đối với nền kinh tế Việt Nam. Hoà chung vào quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam một mặt sẽ có nhiều cơ
hội về nguồn lực, công nghệ, thị trường; mặt khác cũng phải đối mặt với nhiều
thách thức, rủi ro khi mức vốn của các NHTM Việt Nam còn thấp so với các
ngân hàng khác trong khu vực, trình độ quản lý còn hạn chế, các tiêu chuẩn về
kiểm toán, kế toán chưa phù hợp với thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế, trình độ
công nghệ còn lạc hậu, dịch vụ ngân hàng còn nghèo nàn. Những thách thức này
sẽ còn gia tăng rất nhiều trong thời gian tới khi Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội
nhập kinh tế quốc tế. Điều này đòi hỏi toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam phải
Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM VIỆT NAM
1.1. Thế nào là NHTM:
NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiên toàn bộ các hoạt
động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán.
1.2. Chức năng của NHTM:
Nhìn chung, NHTM có ba chức năng cơ bản:
- Chức năng trung gian tài chính, bao gồm trung gian tín dụng và trung gian
thanh toán giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
- Chức năng tạo tiền, tức là chức năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng
khối tiền tệ cho nền kinh tế.
- Chức năng “sản xuất” bao gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực để
tạo ra “sản phẩm” và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế.
1.3. Phân loại NHTM:
- Dựa vào hình thức sở hữu: Dựa theo tiêu thức này, có thể phân loại NHTM
thành NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh và chi nhánh
NHTM nước ngoài.
- Dựa vào chiến lược kinh doanh: Dựa theo tiêu thức chiến lược kinh doanh
và mối quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng có thể chia NHTM thành ngân
hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ, và ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ.
- Dựa vào quan hệ tổ chức: Dựa theo tiêu thức quan hệ tổ chức, có thể chia
NHTM thành ngân hàng hội sở, ngân hàng chi nhánh (cấp 1 và cấp 2) và phòng
giao dịch.
1.4. Cơ cấu tổ chức của một NHTM:
- NHTM quốc doanh ở Việt Nam hiện có Ngân hàng công thương Việt Nam,
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. Tổng quan hoạt động của NHTM năm 2007:
Năm 2007, cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế, ngành ngân
hàng cũng đã đạt được những kết quả khả quan có những đóng góp quan trọng
vào phát triển và lớn mạnh của nền kinh tế. Đến nay hệ thống ngân hàng nước ta
có 6 NHTM quốc doanh, 37 NHTM cổ phần, 31 chi nhánh ngân hàng nước
ngoài, 6 ngân hàng liên doanh, 6 công ty tài chính và 10 công ty cho thuê tài
chính, 926 tổ chức tín dụng nhân dân và 46 văn phòng đại diện của các ngân
hàng nước ngoài. Hệ thống ngân hàng đã huy động và cung cấp một lượng vốn
khá lớn cho nền kinh tế, ước tính hàng năm chiếm khoảng 16-18% GDP, gần
50% vốn đầu tư toàn xã hội. Tăng trưởng tín dụng liên tục tăng trong các năm và
năm 2006 ước tính tăng khoảng 24% cao hơn mức 19% năm 2005. Hệ thống
ngân hàng cũng có nhiều đóng góp cho tăng trưởng, phát triển và ổn định nền
kinh tế trong những năm qua. Với hệ thống NHTM rộng khắp cả nước, với số
lượng lao động đông đảo khoảng trăm ngàn cán bộ, nhân viên với nhiều loại hình
dịch vụ, có thể nói hệ thống ngân hàng đã lớn mạnh cả về số lượng lẫn chất
lượng.
Tính chung trong cả nước, tính đến hết tháng 12/2007, tổng dư nợ cho vay
và đầu tư đối với nền kinh tế của hệ thống ngân hàng tăng 37,8% so với cuối năm
2006 và tăng gấp 2 lần so với mức dự kiến từ đầu năm là 17-21% (xem đồ thị 1).
Trong cơ cấu dư nợ cho vay, ước tính đến 87% là dư nợ cho vay lĩnh vực nông
nghiệp, thủy hải sản, sản xuất công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại và dịch
vụ, trong đó riêng lĩnh vực nông nghiệp và thủy hải sản, chế biến nông sản chiếm
tới 29%; còn lại 13% là dư nợ cho vay các lĩnh vực khác. Dư nợ cho vay chứng
khoán của toàn bộ các NHTM dừng ở tỷ lệ 1,37% trong tổng dư nợ cho vay. Đặc
biệt là tỷ lệ nợ xấu đến hết năm 2007 giảm 0,65% so với năm 2006, nhưng số
tuyệt đối thì không tăng. Tổng dư nợ tăng cao chứng tỏ nhu cầu về vốn đầu tư
cũng như sức hấp thụ vốn của nền kinh tế là rất lớn trong bối cảnh năm đầu tiên
gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO). Về nguyên lý cũng như thực tiễn
2.2.1. Hoạt động của một số NHTM:
Trong năm 2007, tất cả các khối NHTM đều có sự phát triển bền vững và
hiệu quả, kinh doanh có lãi. Trong đó, khối NHTM cổ phần có tốc độ phát triển
nhanh nhất. Vốn điều lệ, tổng tài sản, tổng nguồn vốn huy động, tổng dư nợ cho
vay và đầu tư, lợi nhuận trước thuế, mạng lưới giao dịch,…của khối này có tốc
độ tăng bình quân khoảng 70% so với năm trước, nhiều chỉ tiêu tăng gấp 2 lần.
Nhiều NHTM cổ phần mới chuyển từ nông thôn lên thành thị có tốc độ tăng quy
mô kinh doanh từ 200% đến hơn 700%, hay cao hơn nữa.
NHTM cổ phần An Bình (ABBank) là một ví dụ, mặc dù chưa phải là có
mức độ tăng cao nhất. Tính đến ngày 26/12/2007, ABBank đã đạt tổng tài sản
trên 17000 tỷ đồng, tăng tới 538% so với cuối năm 2006; vốn điều lệ đạt 2300 tỷ
GVHD: ThS.Tống Yên Đan SVTH: Quách Tú Xuân
Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
đồng, tăng 103%; tổng dư nợ đạt trên 6300 tỷ đồng, tăng 557%; huy động vốn từ
các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và dân cư đạt 6700 tỷ đồng; lợi nhuận trước
thuế đạt 226 tỷ đồng, tăng 280% so với cuối năm trước. ABBank có 54 chi nhánh
và phòng giao dịch, tăng gấp 5 lần cuối năm 2006.
Một ví dụ khác đó là NHTM cổ phần Đông Nam Á (Sea Bank). Tính đến
hết năm 2007, Sea Bank đạt tổng nguồn vốn hơn 20249 tỷ đồng, tăng 243%; tổng
dư nợ cho vay đạt 11041 tỷ đồng, tăng 329%; tăng 410 tỷ đồng, tăng 300% so
với cuối năm 2006. Trong năm 2007, Sea Bank tăng vốn điều lệ từ 500 tỷ đồng
lên 3000 tỷ đồng, đứng thứ ba trong khối NHTM cổ phần. Sea Bank đã phát hành
thành công 2000 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi. Trong năm 2008, Sea Bank dự
kiến tăng vốn điều lệ lên 5000 tỷ đồng.
NHTM cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh – VP Bank đến hết
năm 2007, đạt tổng tài sản hơn 20000 tỷ đồng, tổng nguồn vốn huy động 15500
tỷ đồng, tăng 125% so với năm 2006; tổng dư nợ cho vay đạt trên 13000 tỷ đồng,
lợi nhuận trước thuế đạt 313 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần năm 2006. VP Bank hiện là
1 trong số 15 NHTM cổ phần có mạng lưới rộng nhất, đến hết năm 2007, có 130
chi nhánh và phòng giao dịch.
Tiếp tục xu hướng diễn ra trong 2 năm 2005-2006, trong năm 2007, nhiều
tập đoàn ngân hàng và định chế tài chính lớn trên thế giới tiếp tục tìm kiếm cơ
hội trở thành cổ đông chiến lược của các NHTM Việt Nam, mà phần lớn là
NHTM cổ phần. Eximbank bán 15% vốn cổ phần cho đối tác Sumitomo Mitsui
Banking Corporation (SMBC) của Nhật Bản, với số tiền 225 triệu USD, với giá
phát hành cao gấp khoảng 6,42 lần mệnh giá. Bên cạnh đó, Eximbank cũng đã
hoàn tất và ký kết thỏa thuận bán 10% vốn điều lệ cho 2 Quỹ đầu tư nước ngoài,
đó là, Quỹ VOF do VinaCapital quản lý cùng với quỹ Marie Asset của Hàn
Quốc, trở thành đối tác chiến lược Eximbank.
OCBC của Singapore mua tiếp 5% vốn điều lệ tại VP Bank nâng tỷ lệ sở
hữu lên 15% vốn cổ phần tại đối tác này. Một đối tác khác cũng của Singapore,
đó là UOB mua 10% vốn điều lệ của NHTM cổ phần Phương Nam. Deutsche
Bank của Đức mua 10% vốn điều lệ tại Habubank.
Cuối năm 2007, NHTM cổ phần Phương Nam đã hoàn tất việc ký kết bán
10% cổ phần cho Ngân hàng UOB của Singapore, với số tiền là 480 tỷ đồng,
tương đương 30 triệu USD. Thông qua giao dịch này, vốn tự có của NHTM cổ
phần Phương Nam tăng lên 1970 tỷ đồng, vốn điều lệ tăng từ 1230 tỷ đồng, lên
1434 tỷ đồng. UOB nằm trong số 100 ngân hàng lớn nhất trên thế giới và đây là
GVHD: ThS.Tống Yên Đan SVTH: Quách Tú Xuân
Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
ngân hàng của Singapore có số vốn đầu tư lớn nhất vào một NHTM cổ phần của
Việt Nam. Đồng thời, NHTM cổ phần Phương Nam cũng ký kết thỏa thuận bán
15% cổ phần cho quỹ Marie Asset của Hàn Quốc.
Việc tiếp tục bán cổ phần cho các tập đoàn ngân hàng lớn của nước ngoài
không chỉ giúp nâng cao năng lực tài chính, nâng cao uy tín quốc tế, thu hút thêm
khách hàng, mở rộng thị phần mà các đối tác nước ngoài còn trợ giúp các ngân
hàng trong nước về mặt kỹ thuật, công nghệ, quản trị ngân hàng.
2.2.2. Hoạt động thanh toán thẻ:
Trong vài năm gần đây, thị trường thẻ ngân hàng tại Việt Nam phát triển
mạnh mẽ, đặc biệt là trong năm 2007. Nhiều ngân hàng đã phát hành các loại thẻ
trung gian cũng ra đời nhằm đón đầu xu thế thanh toán không dùng tiền mặt. Các
liên minh thẻ hiện nay bao gồm: Công ty Smartlink có 25 thành viên, với 2056
máy ATM (48%), 17.502 máy POS/EDC (57%) và số lượng thẻ đã phát hành
4.721.946 thẻ (57%); Liên minh thẻ Đông Á có 5 thành viên tham gia đã phát
hành 1.766.053 thẻ (21%), với 783 máy ATM (18%), 1682 máy POS/EDC
(57%) và Công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia Banknetvn với số
lượng máy ATM chiếm 62% (2654 máy), máy POS/EDC chiếm 46% (10.548) và
đã phát hành 5.170.229 thẻ (chiếm 62%). Các liên minh này đã phần nào kết nối
hoạt động thẻ của các ngân hàng lại với nhau.
Tuy nhiên thị trường thẻ Việt Nam vẫn còn manh mún, có sự khác biệt lớn
trong quan điểm của các ngân hàng, giữa các liên minh về lợi ích kinh tế và lợi
ích cộng đồng. Phạm vi phát hành và sử dụng thẻ còn hạn chế, mới chủ yếu tập
trung ở một số tỉnh, thành phố lớn; đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu tập trung vào
tầng lớp đang làm việc trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, cán bộ, công chức
làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và mới đây là đối tượng hưởng
lương từ ngân sách nhà nước.
Để tăng cường hiệu quả về chi phí, tạo thuận lợi cho các chủ thẻ trong các
giao dịch cá nhân, Ngân hàng Nhà nước đã phê duyệt Đề án xây dựng Trung tâm
chuyển mạch thẻ thống nhất để kết nối các liên minh thẻ (bắt đầu đưa vào triển
khai từ đầu năm 2008). Trong khuôn khổ đề án phát triển các phương tiện và
dịch vụ thanh toán phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Ngân hàng
Nhà nước đã hoàn thành việc đánh giá sơ bộ về thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
phục vụ cho chương trình chuyển đổi công nghệ thẻ từ sang thẻ chip theo chuẩn
EMV và đang phối hợp với các tổ chức thẻ quốc tế nghiên cứu các kinh nghiệm
thực tiễn và yêu cầu về mặt kỹ thuật để xây dựng lộ trình, kế hoạch nâng cấp
công nghệ thẻ theo chuẩn EMV.
GVHD: ThS.Tống Yên Đan SVTH: Quách Tú Xuân
Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
2.2.3. Nghiệp vụ thị trường mở:
Trong năm 2007, nghiệp vụ thị trường mở đã dạt được thành công lớn trong
GVHD: ThS.Tống Yên Đan SVTH: Quách Tú Xuân
Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
2.3. Một số thành tựu và hạn chế của hoạt động NHTM:
2.3.1. Thành tựu:
Đánh giá tổng quan, hoạt động NHTM trong năm 2007 tiếp tục tăng trưởng,
phát triển và đạt được những thành tựu nhất định gắn liền với 4 kết quả nổi bật
sau:
- Thứ nhất, năm 2007 là năm hệ thống các NHTM có tốc độ tăng trưởng rất
lớn về tài sản có, dư nợ tín dụng, huy động vốn và nguồn vốn chủ sở hữu. So với
GDP, tổng tài sản có đạt mức 150%, tổng dư nợ đạt 85%. So với cuối năm 2006,
tính đến cuối tháng 11/2007, tổng tài sản có của hệ thống các NHTM tăng trưởng
khoảng 44%, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế và tổng vốn huy động tăng 37,8%,
đặc biệt nguồn vốn chủ sở hữu tăng trên 50%, chủ yếu là vốn điều lệ. Vốn điều lệ
của các NHTM Nhà nước tăng 57%; con số này là hơn 70% đối với các NHTM
cổ phần. Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ khoảng 2%. Hầu hết các NHTM kinh
doanh có lãi, đặc biệt là khối các NHTM cổ phần đạt mức chênh lệch thu chi lớn.
- Thứ hai, hầu hết các NHTM đạt tỷ lệ an toàn vốn 8%, có một số NHTM
Nhà nước đã đạt mức trên 10% do vốn tự có (chủ yếu là vốn điều lệ) của các
ngân hàng tiếp tục được bổ sung mạnh trong năm 2007 (NHTM Nhà nước tăng
50% và NHTM cổ phần tăng 67%). Đặc biệt, vào những ngày cuối cùng của năm
2007, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã trở thành NHTM Nhà nước đầu tiên
thực hiện IPO thành công đợt phát hành 97,5 triệu cổ phiếu với sự tham gia của
9326 nhà đầu tư với mức giá trúng thầu bình quân 107.860 đồng/cổ phiếu và đây
cũng là đợt IPO lớn nhất trong lịch sử thị trường chứng khoán Việt Nam đến nay.
- Thứ ba, hệ thống sản phẩm dịch vụ ngân hàng tiếp tục phát triển theo
chiều hướng đa dạng hoá, hiện đại hoá. Các NHTM tập trung khai thác thị trường
dịch vụ ngân hàng bán lẻ hết sức tiềm năng. Các NHTM tung ra thị trường nhiều
dịch vụ ngân hàng hấp dẫn như tài khoản cá nhân, ATM, thẻ tín dụng, tín dụng
tiêu dùng. Dịch vụ thẻ có bước phát triển về chiều rộng và chiều sâu, công nghệ
thẻ chuyển sang áp dụng tiêu chuẩn EMV, nhiều dịch vụ gia tăng của thẻ thanh
chú ý là khối các NHTM Nhà nước. Nợ tồn đọng trong cho vay đầu tư xây dựng
cơ bản bằng VNĐ đang ở mức cao trên tổng dư nợ.
- Tự do hóa lãi suất có xu hướng làm cho mặt bằng lãi suất trong nước tăng
lên. Mặc dù lãi suất tăng lên tạo điều kiện thu hút thêm tiết kiệm vào hệ thống
ngân hàng, nhưng việc lãi suất tiền gửi tăng lên làm cho lãi suất cho vay cũng
tăng thêm, và điều đó tạo thêm gánh nặng về chi phí cho các doanh nghiệp phụ
thuộc nặng nề vào nguồn vay từ ngân hàng. Trong điều kiện nói trên, một phần
không nhỏ số doanh nghiệp có thể mất khả năng thanh toán và phá sản nếu
GVHD: ThS.Tống Yên Đan SVTH: Quách Tú Xuân
Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
không được tiếp tục vay vốn từ ngân hàng. Hậu quả là ngân hàng vẫn tiếp tục
cho vay để nuôi nợ, dẫn đến nguy cơ mất vốn ngày càng lớn.
- Các công cụ điều tiết chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước còn cần
phải bàn và còn bất cập nên tác dụng điều tiết chưa cao. Do đó, khi lãi suất thị
trường lên cao trong khi vốn khả dụng của các NHTM dư thừa, Ngân hàng Nhà
nước thiếu khả năng can thiệp để điều tiết mặt bằng lãi suất.
- Cơ cấu hệ thống tài chính còn mất cân đối, hệ thống ngân hàng vẫn là
kênh cung cấp vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế chủ yếu. Tuy nhiên, tỷ trọng
tiền gửi có kỳ hạn dài trên 1 năm tại các NHTM chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 30%,
còn lại là ngắn hạn dưới 1 năm chiếm tới 70%. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng trung
và dài hạn hiện đã ở mức trên 40% và đang có sức ép tăng lên với quá trình công
nghiệp hóa của đất nước. Tính chung cả nội tệ và ngoại tệ, thì số vốn huy động
ngắn hạn chuyển cho vay trung và dài hạn chiếm tới khoảng 50% tổng số vốn
huy động ngắn hạn. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đối với các nước đang phát
triển, kinh tế vĩ mô chưa thực sự ổn định, độ tin cậy của đồng tiền còn thấp, huy
động vốn dài hạn khó khăn…Chính phủ đều có chính sách cho phép sử dụng một
phần vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, đồng thời áp dụng một
số chính sách hỗ trợ để đảm bảo khả năng thanh toán của các ngân hàng. Tuy
nhiên, tỷ lệ trên phải có một giới hạn nhất định. Việc sử dụng vốn ngắn hạn cho
vay trung và dài hạn ở nước ta hiện nay tới 50% là quá cao, nếu duy trì quá lâu sẽ
chính đối với rủi ro về tỷ giá và kinh doanh ngoại hối; quy trình quản lý trạng
thái ngoại hối chưa đáp ứng được yêu cầu nên chưa có những giải pháp hiệu quả
để hạn chế tác động của những rủi ro này khi có sự biến động bất lợi về lãi suất
và tỷ giá. Bên cạnh đó, một số NHTM được phép kinh doanh ngoại hối không
chấp hành các giới hạn về trạng thái ngoại tệ, báo cáo thiếu trung thực, đầu cơ
trong kinh doanh nhưng không kiểm soát được rủi ro tỷ giá. Vì vậy, khi phải đối
mặt với sự biến động của thị trường đã gây tổn thất cho chính NHTM.
GVHD: ThS.Tống Yên Đan SVTH: Quách Tú Xuân
Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
CHƯƠNG 3
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
3.1. Thuận lợi:
Hoạt động ngân hàng phát triển nhanh, mạnh, vững chắc, hiệu quả, chất
lượng và quy mô. Đạt được những kết quả trên là do tác động của các yếu tố sau:
- Trong năm 2007, nền kinh tế đất nước tiếp tục phát triển với tốc độ tăng
trưởng cao, gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại dịch vụ
và du lịch tiếp tục mở rộng và phát triển.
- Những tác động tích cực từ việc gia nhập WTO, sau một năm bước đầu đã
phát huy tác dụng. Đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, kim ngạch xuất nhập
khẩu đạt mức tăng trưởng cao, tác động kích thích hoạt động dịch vụ ngoại hối,
thanh toán xuất nhập khẩu, chuyển tiền, cho vay…của các NHTM phát triển hơn.
- Thị trường chứng khoán phát triển, thu hút vốn đầu tư từ các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nước, đáp ứng cho quá trình mở rộng và phát triển kinh
doanh của doanh nghiệp, việc tăng trưởng vốn điều lệ thuận lợi hơn. Mặt khác,
thông qua thị trường chứng khoán các NHTM, đặc biệt là các NHTM cổ phần, có
điều kiện tạo thương hiệu, nâng cao uy tín và tăng trưởng nguồn vốn điều lệ
thuận lợi hơn, dễ dàng hơn so với trước đây.
- Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đổi mới mạnh mẽ và cạnh tranh rất
sôi động sau một năm nền kinh tế nước ta gia nhập WTO. Môi trường cạnh tranh
tầm kiểm soát song khối lượng nợ xấu tiếp gia tăng, cao nhất là khối NHTM
nước ngoài và liên doanh (hơn gấp đôi), sau đó đến các công ty tài chính (gần
100%), khối NHTM cổ phần (36%). Vi phạm các quy định, quy trình, thủ tục cấp
tín dụng vẫn xảy ra một cách phổ biến ở nhiều NHTM. Nhiều NHTM chưa có
khả năng quản trị rủi ro danh mục tín dụng, đánh giá hợp lý ngành nghề kinh
doanh và rủi ro của khách hàng. Nửa cuối năm 2007, một số NHTM có xu hướng
tập trung mở rộng cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản trong khi thị trường
nhà đất đã xuất hiện dấu hiệu phát triển “nóng”, chưa lành mạnh do một phần
yếu tố đầu cơ. Điều này khiến cho rủi ro tiềm ẩn đằng sau kết quả tăng trưởng
GVHD: ThS.Tống Yên Đan SVTH: Quách Tú Xuân
Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
ngoạn mục của năm 2007 là lớn và trở thành thách thức đối với các NHTM và cơ
quan thanh tra, giám sát ngân hàng trong năm 2008.
- Một số NHTM đang có chiến lược đa dạng hóa hoạt động và phát triển trở
thành tập đoàn tài chính hoạt động đa năng, đa lĩnh vực trong khi đó hệ thống các
chính sách, pháp luật quản lý, giám sát đối với các tập đoàn tài chính còn chưa
đầy đủ và sự hạn chế về năng lực quản trị của các NHTM trong việc nhận diện,
đánh giá và kiểm soát toàn diện các rủi ro phát sinh từ sự đa dạng hóa hoạt động.
Theo đánh giá của một số chuyên gia quốc tế, trình độ quản trị rủi ro của các
ngân hàng Việt Nam hiện nay rất sơ khai, nhiều các nguyên tắc và chuẩn mực
quốc tế về quản trị rủi ro chưa được áp dụng. Thậm chí, nhiều ngân hàng chưa
coi trọng đúng mức việc quản trị vốn theo mức độ rủi ro, tỷ lệ an toàn vốn tính
toán và duy trì chủ yếu để đáp ứng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; hệ
thống quản trị rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động còn yếu; hệ thống công nghệ,
hệ thống thông tin báo cáo nội bộ còn nhiều hạn chế so với yêu cầu quản trị rủi
ro lành mạnh; hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ chưa hoạt động hữu hiệu.
- Dưới tác động của tự do hóa tài chính, các thị trường tài chính trong nước
có xu hướng ngày càng liên thông. Năm 2007 đã khép lại với những cung bậc
thăng trầm chưa từng có của thị trường chứng khoán Việt Nam, chỉ số VN-Index
từ mức 741 điểm ngày 2/1/2007 đã có lúc lên đến đỉnh điểm 1170,67 điểm vào
03 được hầu hết các NHTM thực hiện nghiêm chỉnh và tỷ lệ cho vay kinh doanh,
đầu tư chứng khoán bình quân giảm xuống mức dưới 3% tổng dư nợ toàn hệ
thống, nhờ đó góp phần ổn định thị trường chứng khoán.
- Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng gia tăng và có xu hướng tiếp tục
mạnh hơn trong năm 2008 và những năm tiếp theo do có thêm nhiều NHTM mới
của Việt Nam và NHTM nước ngoài gia nhập thị trường. Trong khi đó, nhiều
NHTM hiện nay chưa xác định được cho mình chiến lược cạnh tranh, chiến lược
kinh doanh và phân đoạn thị trường phù hợp trong khi đó màng lưới chi nhánh
của các NHTM tiếp tục được mở rộng như một phương thức cơ bản chiếm lĩnh
thị trường, duy trì và mở rộng thị phần cùng với thiếu hụt về nguồn nhân lực có
chất lượng cao, hạn chế về năng lực quản trị điều hành, công nghệ góp phần làm
tăng chi phí, rủi ro chiến lược và rủi ro hoạt động cho các NHTM.
GVHD: ThS.Tống Yên Đan SVTH: Quách Tú Xuân
Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
CHƯƠNG 4
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Như vậy, bước vào hội nhập, chúng ta mở cửa toàn diện cho các NHTM, tổ
chức tài chính quốc tế vào nước ta thì sức ép cạnh tranh sẽ rất lớn. Với kinh
nghiệm, vốn và kỹ thuật hiện đại, với mạng lưới rộng khắp trên toàn thế giới thì
sự cạnh tranh của các ngân hàng quốc tế đối với chúng ta sẽ mạnh hơn và khắc
nghiệt hơn. Để đứng vững và phát triển được đòi hỏi ngay từ bây giờ phải có
nhiều giải pháp trước mắt và lâu dài đồng bộ để phát triển hệ thống ngân hàng
nước ta. Cụ thể:
- Cần thực hiện việc quản lý điều hành kinh doanh của NHTM theo hướng
tập trung, thống nhất tại Hội sở chính. Trên cơ sở đó, hoàn thiện và nâng cao chất
lượng dịch vụ ngân hàng truyền thống, chủ động mở rộng các nghiệp vụ ngân
hàng mới trên nền tảng công nghệ hiện đại, phù hợp với nhu cầu thị trường, năng
lực quản lý của tổ chức tín dụng và quy định của pháp luật.
- Tiếp tục rà soát, bổ sung, chỉnh sửa hệ thống quy chế, quy trình nội bộ
như các yêu cầu tối thiểu về vốn, quản lý rủi ro, xây dựng sổ tay tín dụng, quy
hàng; sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Luật Các Tổ chức
tín dụng.
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước với xu hướng
hình thành bộ máy tổ chức tinh gọn, chuyên nghiệp, có đủ năng lực đối với đội
ngũ cán bộ có đủ trình độ xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ theo thông lệ
quốc tế, tiên tiến và hiện đại. Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ linh hoạt,
bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và ổn định nền kinh tế.
- Cải cách căn bản và đổi mới triệt để các NHTM theo hướng phát triển
toàn diện, đa năng, hiện đại và đáp ứng các chuẩn mực và đòi hỏi theo thông lệ
quốc tế, bảo đảm từng bước đưa các NHTM phát triển ngang tầm với các NHTM
ở các nước trong khu vực và trên thế giới.
- Đẩy mạnh thị trường dịch vụ ngân hàng, bảo đảm dịch vụ ngân hàng ngày
một phong phú, đa dạng với chất lượng phục vụ cao.
- Toàn ngành Ngân hàng tiếp tục thực hiện nghiêm chỉnh các Chỉ thị của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước số 02/2005/CT-NHNN ngày 20/04/2005, số
03/2007/CT-NHNN ngày 28/05/2007 và số 06/2007/CT-NHNN ngày 02/11/2007
để bảo đảm phát triển bền vững, an toàn hoạt động ngân hàng và góp phần kiềm
chế lạm phát, tăng trưởng kinh tế.
GVHD: ThS.Tống Yên Đan SVTH: Quách Tú Xuân
Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
- Bên cạnh các giải pháp trên, với tình hình chỉ số giá tiêu dùng tháng 11
tăng 1,23% cao hơn nhiều tháng trước đó; tổng phương tiện thanh toán 7 tháng
đầu năm tăng 22,2% so với suối năm 2006, dư nợ tín dụng tăng 37,7% so với
cùng kỳ năm trước…Chính phủ cần kiềm chế lạm phát và bảo đảm ổn định nền
kinh tế nhằm tránh nguy cơ lạm phát cao vào cuối năm, cũng như làm giảm khả
năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Việt Nam trên trường quốc tế.
Năm 2008 được đánh giá sẽ là năm bứt phá của kinh tế Việt Nam để về đích
sớm đối với một số chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2006 -2010. Do đó, dự báo trong năm 2008 và những năm tới, hoạt động ngân
và giảm thiểu chi phí trong tiến trình phát triển. Với những kinh nghiệm và thành
tựu đạt được của nền kinh tế nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng trong quá
trình hội nhập vừa qua, với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự hỗ trợ, hợp tác
có hiệu quả của các tổ chức, bạn bè quốc tế và nỗ lực của ngành Ngân hàng,
trong thời gian tới, ngân hàng Việt Nam sẽ tận dụng được những thời cơ, vượt
qua những thách thức, đẩy mạnh hơn nữa cải cách và mở cửa để hoạt động an
toàn, hiệu quả và phát triển bền vững trong một môi trường toàn cầu hoá đang
diễn ra mạnh mẽ, góp phần tăng cường sự ổn định và thịnh vượng của khu vực
kinh tế châu Á.
GVHD: ThS.Tống Yên Đan SVTH: Quách Tú Xuân
Thực trạng và giải pháp hoạt động của NHTM Việt Nam sau một năm gia nhập WTO
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Edward w.Read và Idward K.Gill (1993), “Ngân hàng thương mại”, NXB
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Minh Kiều (2006), “Tiền tệ Ngân hàng”,Trường Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Thống kê.
- Lê Văn Tư (2000), “Ngân hàng thương mại”, NXB Thống kê.
Các trang web:
http://www.sbv.gov.vn Lê Quốc Lý (2008), “Điểm lại tình hình tiền tệ, tín
dụng năm 2007 và đề xuất giải pháp, chính sách trong năm 2008”.
http://www.sbv.gov.vn Nguyễn Đắc Hưng (2008), “Một số suy nghĩ về điều
hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2007”.
GVHD: ThS.Tống Yên Đan SVTH: Quách Tú Xuân