Tiểu luận Đầu tư quốc tế: Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài sang châu Phi của các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2002 - 2012 - Pdf 22

Mục lục
Mục lục 1
Lời nói đầu 2
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ THUYẾT: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
(FDI) 4
1. Khái niệm cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài 4
2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 5
3. Các hình thức của FDI 6
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI SANG CHÂU
PHI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002-2012 8
1. Đặc điểm của châu Phi thu hút đầu tư 8
1. Giải pháp từ chính phủ Việt Nam: 19
2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp Việt Nam 21
KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
1
Lời nói đầu
Quan hệ quốc tế trong đầu tư là một lĩnh vực của kinh tế đối ngoại đang ngày càng mở
rộng trên phạm vi toàn thế giới, không chỉ giữa các nước phát triển với các nước đang phát
triển mà cả giữa các nước phát triển với các nước phát triển và giữa các nước đang phát triển
với nhau. Việt Nam xác định quan hệ quốc tế trong đầu tư là một yếu tố khách quan, là đòi
hỏi tất yếu của đất nước. Sau bao nhiêu năm đấu tranh chống Pháp rồi chống Mỹ, cho đến
khi giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước, về cơ bản kinh tế Việt Nam vẫn là
nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nhỏ, manh mún, đời sống nhân dân vô cùng khó
khan, thu nhập bình quân đầu người vào loại thấp nhất thế giới. Việt Nam đã và đang cần
nhiều vốn đầu tư cho việc khôi phục và phát triển kinh tế, cải thiện đời sống người dân.
Bên cạnh những chính sách nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài thì Việt
Nam cũng khuyến khích hoạt động đầu tư ra nước ngoài, vì vậy ngay từ những năm cuối
1980, các doanh nghiệp trong nước đã tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mặc dù lượng
vốn này còn khá khiêm tốn. Việt Nam tích cực tham gia vào hoạt động đầu tư ra nước ngoài
ở hơn 50 quốc gia với số dự án và tổng số vốn đầu tư ngày một tăng. Để hiểu một cách sâu

lợi ích cho các bên tham gia. Tuy nhiên, không phải bất kể nguồn lực đầu tư nào cũng có thể
dịch chuyển được do sự không chấp nhận của quốc gia nhận đầu tư hoặc sự ngăn cản của
quốc gia đi đầu tư. Lợi ích trong đầu tư quốc tế của các bên tham gia là khác nhau.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI-Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư quốc tế
mà chủ sở hữu vốn( thường là doanh nghiệp) mang nguồn lực đầu tư của mình sang một
quốc gia khác để thực hiện hoạt động đầu tư, trong đó chủ sở hữu vốn trực tiếp tham gia vào
quá trình đầu tư và chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư.
4
2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư
toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát
hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. Vì vậy, FDI mang một số đặc điểm nhất định.
Khác với nguồn vốn ODA, mục đích của nhà đầu tư trong hình thức FDI là tìm kiếm lợi
nhuận, vì vậy những lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao sẽ thu hút nguồn vốn này.
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định
hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc
tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Luật các nước thương quy định không giống
nhau về vấn đề này. Tỷ lệ góp vốn của các chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của
mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia theo tỷ lệ này.
Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm
về lỗ, lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng
buộc về chính trị. Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức.
FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư thông qua
việc đưa máy móc, thiết bị, bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật, cán bộ quản lý,…
vào nước nhận đầu tư để thực hiện dự án.
Cho đến nay thì luồng vốn FDI lưu thông giữa các nước phát triển vẫn chiếm một tỷ trọng
cao (trên 60%) trong tổng số vốn FDI trên thế giới. Với mục đích là tìm kiếm lợi nhuận
thông qua mối hợp tác này, ta có thể rút ra một điều từ tỷ trọng trên, đó là môi trường đầu tư
ở các nước phát triển mang lại lợi nhuận nhiều hơn ở các nước đang phát triển. Mặt khác, nó

giá rẻ của các nước nhận đầu tư như nguyên vật liệu, bán thành phẩm; FDI theo định hướng
khác của chính phủ - chính phủ của nước nhận đầu tư có thể áp dụng chính sách khuyến
khích đầu tư để điều chỉnh dòng vốn FDI chảy vào nước mình theo đúng ý đồ đã định sẵn.
Theo hình thức pháp lý, FDI có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức pháp lý khác
nhau tùy theo quy định của luật pháp nước nhận đầu tư. Ở Việt Nam, FDI được tiến hành
dưới các hình thức pháp lý chủ yếu như: hợp đồng hợp tác kinh doanh; doanh nghiệp liên
doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Ngoài ra, FDI ở Việt Nam còn được tiến
hành bằng các hình thức Xây Dựng – Kinh Doanh – Chuyển giao (BOT), Xây dựng –
Chuyển giao – Kinh doanh (BTO), Xây dựng – Chuyển giao (BT).
Mỗi hình thức FDI đều có những thuận lợi và khó khăn nhất định đối với các bên tham
gia. Vì vậy, việc lựa chọn hay áp dụng hình thức đầu tư nào phụ thuộc vào điều kiện cụ thể
của các bên ở thời điểm đầu tư. Thông thường, các nước đang phát triển trong thời gian tiếp
nhận FDI thì doanh nghiệp liên doanh và đầu tư mới là những hình thức chủ yếu được áp
dụng.
7
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
SANG CHÂU PHI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002-
2012
1. Đặc điểm của châu Phi thu hút đầu tư
Châu Phi là một trong những thị trường đang ngày càng phát triển, là điểm đến đầu tư
tiềm năng của các quốc gia trên thế giới. Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam
hướng đến thị trường này cũng ngày càng sôi động với nhiều lĩnh vực đa dạng.
1.1. Đặc điểm chung về địa lý, kinh tế châu Phi
*Về địa lý:
Châu Phi là châu lục có nhiều tiềm năng về tài nguyên với những cao nguyên rộng lớn,
khu rừng ôn đới, nhiều đồng cỏ xanh tươi, động vật quý hiếm và nhiều khoáng sản đa dạng
như đồng, kim cương, vàng, bôxít, sắt, dầu mỏ CH Nam Phi đứng đầu thế giới về khai thác
vàng; Libya, Nigeria và Angeria là những nước hàng đầu thế giới về khai thác dầu mỏ.
*Về kinh tế:
Nông nghiệp: Được coi là hoạt động kinh tế hàng đầu ở châu Phi, chủ yếu là chăn nuôi,

Ngay từ những năm 1970, các chuyên gia và lao động Việt Nam đã có mặt tại nhiều nước
châu Phi, hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, giáo dục…
Việt Nam có thế mạnh là tạo dựng được quan hệ chính trị - ngoại giao truyền thống
hữu nghị, đoàn kết với các nước châu Phi. Ta đã ký một số hiệp định thỏa thuận, biên bản
ghi nhớ về thương mại và đầu tư, về trao đổi đoàn cấp Nhà nước, về hợp tác chuyên gia
tạo nền tảng pháp lý cho hợp tác giữa hai bên. Trải qua nhiều biến động lịch sử, mối quan hệ
chính trị giữa Việt Nam và châu Phi vẫn dựa trên tiêu chí hợp tác, phát triển.
9
Các chính phủ châu Phi luôn quan tâm tới việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
làm thay đổi diện mạo và cách nhìn về một châu Phi nghèo đói và bệnh tật. Theo thống kê
của Bộ Thương mại Việt Nam, kinh tế châu Phi hàng năm vẫn duy trì ở tốc độ tăng trưởng
3%, đặc biệt Nam Phi luôn giữ vị trí hàng đầu. Dồi dào về nhân lực, phong phú về tài
nguyên, khoáng sản… châu Phi hiện đang là "tầm ngắm" của các nhà đầu tư thế giới. Nhiều
dự án đầu tư nông nghiệp được ký kết sau khi các chuyên gia Việt Nam sang đối thoại, hợp
tác.
Những thành tựu và kinh nghiệm phát triển kinh tế của Việt Nam được các bạn châu
Phi đánh giá rất cao và bày tỏ mong muốn được cùng hợp tác, chia sẻ. Trong những năm gần
đây, quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại trên nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp, lao động, y
tế, giáo dục giữa Việt Nam và các nước châu Phi có những bước phát triển mới.
Quan hệ Việt Nam – châu Phi đang được xây đắp trên một nền tảng hữu nghị truyền
thống mà ở đó "những người bạn cũ" đang tạo mọi điều kiện tối đa để có thể trở thành
những đối tác kinh tế quan trọng của nhau.
2.Tình hình đầu tư của các doanh nghiệp việt nam sang Châu Phi
2.1. Khái quát tình hình đầu tư
Theo số liệu thống kê của Cục đầu tư nước ngoài, ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt
Nam đầu tư sang châu Phi. Ngoài những doanh nghiệp Nhà nước có tiềm lực tài chính lớn
thì nay có thêm những công ty tư nhân quan tâm đến thị trường tiềm năng này. Các lĩnh vực
đầu tư tại châu Phi cũng ngày một đa dạng hơn,từ năm 2002 tính đến tháng 8/2012 Việt
Nam đã có 17 dự án ,( từ năm 2002 đến tháng 1 năm 2011 vẫn là 12 dự án) đầu tư tại 10
quốc gia và vùng lãnh thổ châu Phi, với tổng vốn đầu tư đạt 711 triệu USD.

Mauritius, Ai Cập, Kenya, Nigeria và Siera Leon chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công
nghiệp chế biến, chế tạo, bán buôn, bán lẻ, sửa chữa, lĩnh vực hoạt động khoa học công
nghệ, lĩnh vực dịch vụ lưu trú, ăn uống và truyền thông.
Gần đây nhất vào tháng 5/2012, Tập đoàn Viễn thông Quân đội-Viettel cũng đã nhận được
giấy phép đầu tư tại Mô-dăm-bích và đang triển khai hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch
vụ và cơ sở hạ tầng viễn thông, đó là Movitel, một đơn vị của Viettel liên doanh với một
nhóm nhà đầu tư Mô-dăm-bích. Tổng số vốn góp của Viettel là 345,6 triệu USD.
2.4 Một số dự án lớn được cấp phép trong giai đoạn 2002 đến 2012
Các dự án dầu khí chiếm số vốn đầu tư lớn tăng lên đáng kể: tại An-giê-ri (224,9 triệu
USD), Madagascar (117,3 triệu USD) và tại CH Congo (15,3 triệu USD). Ba dự án này
chiếm tới 50% tổng số vốn đầu tư của Việt Nam sang châu Phi và do Công ty TNHH Nhà
nước 1 thành viên thuộc Tổng Công ty thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) làm chủ đầu tư.
Tiếp đến là dự án hợp tác đầu tư mạng điện thoại di động tại Cộng hòa Mozambique của
Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel với tổng số vốn 493,79 triệu USD, trong đó Viettel
đóng góp 345,6 triệu USD. Đây là dự án đầu tư đầu tiên của Viettel tại châu Phi
Tại Mauritius, Công ty TNHH Hóa dược Vedic Fanxipăng đã đầu tư 1 dự án thu mua và
kinh doanh các sản phẩm từ cây Artemisia Annua với số vốn 20.000 USD.
12
Angola thu hút được 6 dự án đầu tư của Việt Nam trong các lĩnh vực sản xuất tấm lợp, xe
gắn máy, hàng may mặc, điện tử, điện lạnh, đồ uống đóng chai, với tổng giá trị 4,53 triệu
USD. Các doanh nghiệp đầu tư chính sang Angola là Công ty TNHH T&T, Công ty TNHH
thương mại Thành Đô, Công ty TNHH Hữu nghị Quốc tế.
Tại Nam Phi, Việt Nam có 2 dự án trong đó 1 của Công ty cổ phần Thiên Minh Đức đầu
tư trong lĩnh vực trồng cây xanh và phát triển du lịch sinh thái với tổng số vốn 715.000 USD
và 1 dự án của Công ty cổ phần XNK Việt Trang hoạt động trong lĩnh vực khai thác, sơ chế
gỗ xuất khẩu và kinh doanh siêu thị với số vốn 950.000 USD.
Tại Ghana, Việt Nam có 1 dự án khai thác mỏ đá, sản xuất và kinh doanh đá granite làm
vật liệu xây dựng với chủ đầu tư là Công ty cổ phần đầu tư Bình Hưng Thịnh.
Tại Tanzania, Công ty TNHH Cơ khí An Việt Cường và Công ty TNHH Thương Mại
Thiên Phú có chung 1 dự án cung cấp dịch vụ khai thác vàng, cho thuê máy móc, thiết bị,

- Đa dạng về loại hình doanh nghiệp tham gia đầu tư
 Có một số dự án đầu tư thành công ở châu Phi: dầu khí, bưu chính viễn thông chẳng
những mang doanh thu ngoại tệ cho đất nước, mà còn nâng cao vị thế hình ảnh của
Việt Nam trên trường quốc tế.
 Hoạt động đầu tư sang châu Phi giúp hình thành một đội ngũ doanh nhân có năng lực
đàm phán trong đầu thầu quốc tế (ngành dầu khí, xây dựng) trong kinh doanh với
nước ngoài để tổ chức thực hiện đầu tư ở nước ngoài.
 Thể chế chính sách liên quan đến đầu tư ra nước ngoài ngày càng được hoàn thiện và
đầy đủ tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam:
mười năm (1999-2009) kể từ khi có Nghị định Chính phủ về đầu tư ra nước ngoài, cơ
chế đã 2 lần sửa đổi và hiện đang được xem xét sửa đổi.
Thực tế cho thấy, ngoài việc chỉ biết tiếp nhận nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, hướng
đi mạnh dạn của nhiều doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài nói chung và đầu tư sang châu Phi
nói riêng là rất phù hợp với nên kinh tế Việt Nam lúc này, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay. Xu hướng trên, một lần nữa cũng cho thấy bản lĩnh
của các doanh nghiệp Việt Nam muốn định vị lại tên tuổi của mình trên bản đồ kinh tế thế
14
giới. Bên cạnh sự nhạy bén của doanh nghiệp, Chính phủ cũng đã ban hành cơ chế, chính
sách thông thoáng tạo điều kiện tốt nhất để các doanh nghiệp Việt Nam đi chinh phục thị
trường châu Phi. Tóm lại, hoạt động đầu tư sang châu Phi đã mở ra một “mặt trận” kinh tế
khai thác thị trường và lợi thế cạnh tranh của các nước khác để bổ sung, hỗ trợ sự phát triển
kinh tế trong nước và nâng cao vị thế kinh tế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
3.2. Hạn chế
3.2.1. Những hạn chế trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài nói chung về phía Chính
phủ
a. Thế chế chính sách chưa hoàn chỉnh, luôn đi chậm so với thực tế, tác động đến sự
phát triển hoạt động đầu tư ra nước ngoài chưa mạnh, thậm chí còn gây trở ngại cho hoạt
động đầu tư.
b. Quản lý hoạt dộng đầu tư ra nước ngoài còn nhiều bất cập:
Quản lý khâu tiền đầu tư chưa hợp lý và phức tạp:

môi trường đầu tư nước bạn, hoặc “bơ vơ lạc lõng” hụt hơi trong giải quyết cá khó khăn
trong triển khai dự án ở nước ngoài.
d. Việt Nam chưa có chiến lược đầu tư ra nước ngoài, trừ ngành dầu khí có những kế
hoạch đầu tư dài hạn ra nươc ngoài, còn từ cấp Trung ương, địa phương, ngành chưa xây
dựng chiến lược đầu tư ra nước ngoài, cho nên chính phủ chưa xây dựng những biện pháp
hỗ trợ sự phát triển hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Hoạt động đầu tư ra nước ngoài hiện
nay của Việt Nam vẫn chủ yếu mang tính tự phát của các doanh nghiệp.
e. Các thông tin về môi trường đầu tư nước ngoài chưa được coi trọng
Nếu như Chính phủ Trung Quốc có chỉ thị cho các cơ quan ngoại giao của Trung Quốc
ở nước ngoài phải có trách nhiệm nghiên cứu môi trường đầu tư bao gồm cơ chế pháp lý,
đặc điểm môi trường đầu tư; các cơ hội đầu tư… thông báo về trong nước và hệ thống thông
tin về thị trường đầu tư được thiết lập từ Trung ương đến các Bộ ngành, đến các hiệp hội và
doanh nghiệp… thì ở Việt Nam, trên trang web của Cục xúc tiến đầu tư chỉ đề cập một số
quy chế đầu tư ở Lào, còn chưa cơ quan nào của Chính phủ được giao nhiệm vụ thông tin về
môi trường đàu tư, cơ hội đầu tư ở các nước. Đây là một trong những nguyên nhân khiến
16
hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn thiếu bài bản, doanh nghiệp tự kai thác thông tin tốn
kém và không đầy đủ.
f. Công tác xúc tiến đầu tư ở nước ngoài chưa được quan tâm:
Nếu ở các quốc gia khác, sau khi cơ quan phi chính phủ, hiệp hội các doanh nghiệp
nhận được danh mục các cơ hội đầu tư ở nước ngoài, họ tổ chức cho các doanh nghiệp đi tìm
hiểu môi trường đầu tư ở nước ngoài, còn ở Việt Nam chỉ mới thực hiện xúc tiến để thu hút
đầu tư nước ngoài vào ngành, địa phương, chứ việc xúc tiến đầu tư ra nước ngoài chưa được
tổ chức vì chưa có chiến lược và chưa được quan tâm.
3.2.2. Những hạn chế trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài nói chung về phía doanh
nghiệp (Chủ đầu tư)
a. Năng lực cạnh tranh yếu
Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam so với các nước khác như Trung
quốc, Malaysia…còn yếu, do dự án của doanh nghiệp Việt đầu tư còn “khá khiêm tốn” về
nhiều mặt. Trừ một số doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Viễn

nhật các chính sách đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam, không thực hiện chế độ báo cáo
định kỳ, không thực hiện việc đăng ký chế độ thay đổi nội dung hoạt động ở nước ngoài,
hình thức đầu tư ở nước ngoài, quy mô đầu tư ra nước ngoài, dễ dẫn đến những rủi ro trong
đầu tư, kinh doanh tại nước sở tại. Việc cập nhật thông tin về chính sách đầu tư còn kém, do
đó vẫn vi phạm những quy định của nhà nước.
3.2.3. Những hạn chế trong hoạt động đầu tư sang châu Phi
Trở ngại đầu tiên là khoảng cách về địa lý giữa Việt Nam với các quốc gia ở khu vực
châu Phi quá xa xôi, dẫn đến chi phí vận tải lớn. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp quy mô
nhỏ thì chi phí bỏ ra càng là vấn đề nan giải.
Bên cạnh đó là sự thiếu hụt về thông tin, khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ. Hầu hết các
doanh nghiệp Việt Nam biết rất ít về thị trường này.
Ngoài ra, việc thanh toán cũng tương đối khó khăn do hệ thống ngân hàng của các
quốc gia châu Phi và Việt Nam chưa có sự hợp tác chặt chẽ.
18
CHƯƠNG III- MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM SANG CHÂU PHI
1. Giải pháp từ chính phủ Việt Nam:
1.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư ra nước ngoài:
Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư ra nước ngoài.
Các văn bản pháp luật quy định về đầu tư ra nước ngoài nên thành luật, có thể là một luật
riêng hoạc có thể tổng hợp vào luật đầu tư, trở thành một phần của Luật đầu tư.
Khi ban hành các văn bản pháp luật quy định về việc đầu tư ra nước ngoài, chính phủ
cũng nên ban hành kèm theo các hướng dẫn chi tiết để việc thực hiện được tuân thủ đúng,
thống nhất và nghiêm túc.
1.2. Đơn giản hóa thủ tục đăng kí thẩm định và cấp giấy phép đầu tư ra nước ngoài
Cần thong thả việc cấp phép đầu tư, đơn giản các thủ tục khi đăng kí cấp phép, cắt bớt
những thủ tục không cần thiết.
Tiếp tục tập trung hoàn thiện cơ chế “liên thông-một cửa” ở các cơ quan cấp giấy chứng
nhận đầu tư và quản lý đầu tư, từng bước công khai hóa các bước của quá trình cấp giấy
chứng nhận đầu tư lên mạng nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

Hai bên tăng cường cơ chế tiếp xúc trao đổi thường xuyên giữa lãnh đạo cấp cao và các
cấp ngành địa phương, giao lưu học hỏi văn nghệ, văn hóa, xã hội…
2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp Việt Nam
2.1. Nghiên cứu kỹ tập quán và tìm hiểu môi trường đầu tư ở châu Phi
Nghiên cứu kỹ tập quán ở nước định đầu tư là một trong những điều cần thiết đối với
doanh nghiệp khi muốn đầu tư ra nước ngoài vì mỗi quốc gia có một nền văn hóa
rieengvowis những thói quen và tập quán khác nhau. Nếu không nắm bắt được điều này,
doanh nghiệp sẽ khó khăn khi thâm nhập vào thị trường mới trong việc xác định nhu cầu và
tiềm năng của thị trường đó.
Để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chính phủ các nước châu Phi đã đưa ra nhiêu chính
sách và biện pháp ưu đãi khuyến khích nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư khi
đầu tư vào châu Phi.
2.2. Hoàn thiện năng lực quản lý dự án, tăng cường năng lực tài chính và công nghệ,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp và nhanh nhạy chớp thời cơ đầu
tư.
Đầu tư của Việt Nam vào châu Phi đang gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ phái các doanh
nghiệp của Trung Quốc, Nhật Bản, Malaysia… Có thể nói đây là những doanh nghiệp có lợi
thế tài chính, công nghệ và kinh nghiệm. Do đó, doanh nghiệp Việt Nam cần hoàn thiện mọi
mặt để thúc đẩy đầu tư sang châu Phi.
2.3. Xây dựng các mối quan hệ hợp tác của các doanh nghiệp Việt Nam trên đất châu
Phi
Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải liên kết với nhau để tạo nên sức mạnh, giảm thiểu
chi phí: đồng thời hợp tác chặt chẽ với các đối tác Châu Phi để tận dụng mọi ưu thế. Sự liên
21
kết với các doanh nghiệp trong nước tại nước sở tại sẽ tạo thêm thế và lực cho các doanh
nghiệp.
22
KẾT LUẬN
Sau hơn 25 năm đổi mới, mở cửa hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và thế giới
đã mang lại cho Việt Nam một diện mạo tương đối ổn định với nguồn vốn FDI. Bên cạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status