nghiên cứu sự đột biến gene k-ras và mối liên quan đột biến gene k-ras với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh ung thư đại trực tràng bản tóm tắt - Pdf 22

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là bệnh phổ biến trên thế giới và là nguyên nhân gây tử vong cao hàng thứ 3 trong các tử
vong do ung thư (UT) nói chung. Theo Hiệp hội phòng chống UT quốc tế (Union for International Cancer Control - UICC), ước
tính trên thế giới mỗi năm có khoảng 1.000.000 trường hợp UTĐTT mới được phát hiện và khoảng hơn 500.000 người chết vì
căn bệnh này. Tỉ lệ mắc bệnh giữa các vùng miền, các châu lục có sự khác nhau. Ở Việt Nam, UTĐTT đứng thứ 5 sau các UT
của dạ dày, phổi, vú và vòm họng. Trong UT đường tiêu hóa thì UTĐTT đứng thứ 2, sau UT dạ dày. Theo thống kê của Bệnh
viện K Hà Nội, tỉ lệ mắc UTĐTT là 9% tổng số bệnh nhân (BN) UT nói chung. Tuy nhiên, so với các UT của đường tiêu hóa thì
UTĐTT là loại có tiên lượng tốt nhất.
Cơ chế hình thành và phát triển của UTĐTT là do biến đổi và tích lũy các gen trong tế bào của niêm mạc đại trực tràng
(ĐTT). Sự tích lũy dần các biến dị di truyền thường phải trải qua nhiều năm (từ 10 - 20 năm), và điều này phù hợp với các nghiên
cứu dịch tễ học di truyền về diễn biến của UTĐTT trải qua nhiều bước.
Sự phát triển vượt bậc của ngành Công nghệ y sinh, hiện nay đã cho phép xác định tương đối chính xác, đầy đủ và nhanh
hầu như tất cả các dạng đột biến quan trọng trong những dòng tế bào UT phổ biến như UT phổi, u lympho ác tính, UTĐTT….
Điều đáng ngạc nhiên là mặc dù mang nhiều đột biến nhưng khả năng phát triển của tế bào UT dường như lại lệ thuộc chủ yếu
vào nguồn tín hiệu sinh trưởng của một hoặc một nhóm gen sinh UT (oncogene) nhất định. Những oncogene này mã hóa các
protein đóng vai trò mắt xích trong các con đường tín hiệu nội bào. Những đột biến này làm cho các tế bào UT có khả năng tăng
sinh vô hạn, liên tục phân chia và thực hiện quá trình xâm lấn, di căn… Tuy nhiên, chính đặc điểm này cũng làm phơi bày “gót
chân Achilles” của tế bào UT. Bằng việc “đánh sập” các oncogene chủ chốt như HER2, K-RAS, β-catenin, cyclin E, B-Raf… bằng
công nghệ iRNA, các nhà khoa học đã thành công trong việc ức chế sự phát triển của nhiều loại tế bào UT in vitro [49]. Những
nghiên cứu trên mô hình chuột biến đổi gen tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của các gen đích trong nhiều bệnh UT, trong đó
2
có oncogene K-ras trong UTĐTT Từ những bằng chứng trên, một thế hệ mới các thuốc điều trị UT có khả năng tác động chính
xác tới các đích tiềm năng trong tế bào UT đã ra đời - đó là liệu pháp điều trị đích.
Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều nghiên cứu về UTĐTT, nhưng chủ yếu là về đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và mô
bệnh học (MBH), còn ít thấy có những nghiên cứu về đột biến gen trong UT nói chung và trong UTĐTT nói riêng. Vì vậy, đề tài
“Nghiên cứu đột biến gen K-RAS và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư đại trực tràng”
được tiến hành nhằm 2 mục tiêu chính sau:
1. Nghiên cứu tình trạng đột biến gen K-RAS ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng.
2. Tìm hiểu mối liên quan giữa đột biến gen K-RAS với một số đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, giải phẫu bệnh và
nồng độ CEA ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng.

GTPase là một enzym có chức năng chuyển đổi một phân tử gọi là GTP (Guanosine-5
,
-Triphosphate) đến một phân tử gọi là GDP
(Guanosine-5
,
-Diphosphate). Các protein K-RAS hoạt động như một chuyển đổi, nó có thể hoạt động (kích hoạt) hay yên nghỉ (bất
hoạt). Để truyền tín hiệu, các protein K-RAS phải được kích hoạt bằng cách gắn vào một phân tử của GTP. Các protein K-RAS được
bất hoạt khi nó chuyển đổi các GTP tới GDP, khi protein kết hợp với GDP, nó không truyền tín hiệu tới nhân tế bào.
Những sản phẩm protein của gen K-RAS đóng vai trò quan trọng trong phân bào, sự khác biệt tế bào và sự chết tế bào theo
chương trình (apoptosis).
1.2.1.3. Cơ chế sinh ung thư của gen K-RAS
Dưới tác dụng của các yếu tố môi trường (bức xạ, hóa chất ), sự đột biến gen K-RAS có thể xảy ra. Khi đột biến, các gen K-
RAS có tiềm năng gây chuyển biến tế bào bình thường thành tế bào UT. Đột biến gen K-RAS làm thay đổi một protein (amino
acid) trong một khu vực quan trọng của protein K-RAS, gây ra các protein để được tiếp tục hoạt động. Thay vì kích hoạt sự tăng
trưởng tế bào để phản ứng lại các tín hiệu đặc biệt từ bên ngoài tế bào, protein hoạt động quá mức (overactive protein) chỉ đạo
các tế bào phát triển và phân chia không ngừng. Trong quá trình phát triển phôi, các protein K-RAS hoạt động quá mức phá vỡ sự
phát triển bình thường và trở thành các mô nhất định.
Một số đột biến gen được hình thành trong thời gian của mỗi con người và chỉ có mặt trong các tế bào nhất định. Những
thay đổi này gọi là đột biến thân (hay đột biến soma). Sự đột biến soma trong gen K-RAS có liên quan đến sự phát triển của nhiều
5
loại UT. Những đột biến này dẫn đến một protein K-RAS đó là luôn luôn chủ động và có thể tác động trực tiếp đến tế bào để phát
triển và phân chia không có kiểm soát.
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, đột biến gen K-RAS là phổ biến trong UTĐTT.
1.2.2. Các phương pháp xác định đột biến gen K-RAS
Nhiều phương phương pháp khác nhau có thể được áp dụng để xác định đột biến gen K-RAS trên cơ sở tỉ lệ tế bào UT trong
mô phân tích.
- Kỹ thuật giải trình tự gen
- Kỹ thuật PCR-RFLP (Polymerase Chain Reaction-Restriction Fragment Length Polymorphism)
- Kỹ thuật Scorpions-Amplification Refractory Mutation System (Scorpions ARMS)
- Kỹ thuật Smart Amplification Process (SmartAmp)

'
s.
- Những yếu tố nguy cơ khác
+ Chế độ ăn nhiều mỡ động vật
+ Thừa cân béo phì.
+ Khói thuốc lá
+ Đái tháo đường type II
7
1.3.2. Cơ chế hình thành và phát triển của ung thư đại trực tràng
1.3.2.1. Quá trình phát sinh ung thư đại trực tràng qua nhiều bước
UTĐTT hình thành và phát triển do tích lũy các biến đổi gen trong tế bào biểu mô của niêm mạc của ĐTT. Các biến đổi gen
kết hợp với những tác nhân gây UT sẽ gây đột biến hoặc khiếm khuyết gen, tạo nên UT và làm mất chức năng của gen ức chế
UT. Sự tích lũy dần các biến dị di truyền thường cần phải qua nhiều năm (từ 10 - 20 năm), và điều này phù hợp với các nghiên
cứu dịch tễ học di truyền về diễn biến của phát sinh UTĐTT trải qua nhiều bước.
1.3.2.2. Tính không ổn định vi vệ tinh và các gen sửa chữa DNA
Cơ chế phân tử sinh UTĐTT gần đây được đưa ra là sự nhân lên của các sai sót, hay còn gọi là tính không ổn định của các vi
vệ tinh MSI. Quá trình này có thể xảy ra qua hai giai đoạn kéo dài tách biệt hoặc giao thoa nhau. Sự không ổn định này có thể
xảy ra đối với toàn bộ nhiễm sắc thể hoặc chỉ xảy ra đối với một vùng gen lặp lại gọi là vùng vi vệ tinh (microsatellite). Các
microsatellite là các đoạn lặp lại đặc biệt của DNA. Các trình tự này chứa Cytosine (C) và Adenine (A) hoặc các Dinucleotide
(lặp lại CA). Những trình tự này được tìm thấy rải rác trong toàn bộ gen (genome), tuy nhiên chức năng chính xác của chúng còn
chưa được biết rõ.
1.5. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.5.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhằm phân tích tình trạng đột biến gen K-RAS cũng như hiệu quả đáp ứng thuốc
ức chế EGFR ở BN UTĐTT.
1.5.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Các nghiên cứu về đột biến gen K-RAS ở BN UTĐTT mới chỉ là bước đầu và số lượng BN còn khiêm tốn.
8
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

qp
z

Trong đó: n: số bệnh nhân cần nghiên cứu
Z
2
1-
α
/2
= 1,96
p: tỉ lệ mắc bệnh dựa theo nghiên cứu trước
q = 1 – p
ε = 0,3 (giá trị sai số tương đối)
Theo kết quả nghiên cứu của Stefanius (Phần Lan - 2011), nghiên cứu xác định đột biến gen K-RAS tại codon 12 và 13 ở
BN UTĐTT thấy tỉ lệ đột biến gen K-RAS là 45%. Vì vậy, chúng tôi ước lượng tỉ lệ đột biến gen K-RAS ở BN mắc UTĐTT là
40% (p = 0,4).
Thay các giá trị vào công thức ta có :
n =
)( 3,04,0
6,04,0
96,1
2
2
X
XX
n = 64
Như vậy, để có độ chính xác 95%, cỡ mẫu nghiên cứu phải có ít nhất là 64 bệnh nhân. Trong nghiên cứu này chúng tôi đã
chọn được 79 BN đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu.
2.2.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01/2010 đến tháng 7/2012.

- Định lượng nồng độ CEA bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang trên máy Immuline one của Đức.
2.4.2.2. Nội soi
- Vị trí u: TT, ĐT xích ma, ĐT xuống, ĐT góc lách, ĐT ngang, ĐT góc gan, ĐT lên, manh tràng .
- Đánh giá hình thể khối u: thể sùi, thể loét, thể “loét + sùi” thể thâm nhiễm (thể trai), thể chít hẹp (thể nhẫn) và thể dưới niêm.
- Kích thước khối u so với chu vi lòng ĐTT: dưới 1/4 chu vi, từ 1/4 - 1/2 chu vi, từ 1/2 – 3/4 chu vi và trên 3/4 chu vi.
2.4.4. Hình thái mô bệnh học
* Phân loại UTBM của ĐTT theo phân loại của WHO năm 2000:
- Ung thư biểu mô tuyến:
+ UTBMT biệt hóa cao
+ UTBMT biệt hóa vừa hay trung bình
+ UTBMT biệt hóa thấp
- UTBM tuyến nhầy
- UTBM tế bào nhẫn
- UTBM tế bào vảy/dạng biểu bì
- UTBM tuyến vảy
- UTBM tủy
- UTBM không biệt hóa
* Đánh giá độ ác tính của khối u bao gồm: độ ác tính thấp và độ ác tính cao.
* Đánh giá mức độ xâm lấn của u theo chiều sâu vào thành ĐTT theo T (Tumor).
2.4.5. Chẩn đoán di căn hạch
12
- Tất cả các hạch phẫu tích được từ bệnh phẩm sau phẫu thuật đều được xét nghiệm MBH.
- Chẩn đoán MBH của hạch: các hạch nhỏ < 0,5 cm được chuyển đúc cả hạch, các hạch lớn > 1cm được cắt mỏng 2 mm qua
thiết diện lớn nhất của hạch trước khi cố định và xử lý. Xác định hạch di căn khi có cấu trúc UT xâm nhập trong mô hạch.
- Xác định BN có di căn hạch khi kết quả MBH có 01 hạch di căn trở lên.
2.4.6. Đánh giá kết quả xét nghiệm sự đột biến gen K-RAS
- Có đột biến:
+ Vị trí đột biến: xác định đột biến tại codon 12 và codon 13.
+ Kiểu đột biến: xác định kiểu đột biến kiểu thay thế GGT → GAT và kiểu thay thế GGT → GTT.
+ Dạng đột biến: đồng hợp tử; dị hợp tử.

Nhận xét: Tỉ lệ mắc bệnh UTĐTT ở nam giới là 60,8% - cao hơn so với nữ (39,2%); tỉ lệ nam/nữ là 1,55/1.
3.2. Đột biến gen K-RAS ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng
3.2.1. Tỉ lệ đột biến gen K-RAS ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng
Bảng 3.10. Tỉ lệ đột biến gen K-RAS
Đột biến N = 79 Tỉ lệ %
Có đột biến 46 58,2
Không đột biến 33 41,8
Tổng 79 100
Nhận xét: Tỉ lệ đột biến gen K-RAS ở BN UTĐTT là 58,2%. Tất cả đều đột biến dạng dị hợp tử.
Bảng 3.11. Đột biến gen K-RAS theo giới tính
p < ,05
15
Giới
Có đột biến Không đột biến Tổng
p
n (%) n (%) N (%)
Nam 29 (63,0) 19 (57,6) 48 (60,8)
> 0,05
Nữ 17 (37,0) 14 (42,4) 31 (39,2)
Tổng 46 (100) 33 (100) 79 (100)
Nhận xét: Đột biến gen K-RAS ở nam chiếm tỉ lệ 63,0%; ở nữ chiếm tỉ lệ 37,0%.
Bảng 3.12. Đột biến gen K-RAS theo nhóm tuổi
Tuổi
Có đột biến Không đột biến Tổng
p
n (%) n (%) N (%)
16
≤ 40 4 (8,7) 1 (3,0) 5 (6,3)
> 0,05
> 40 42 (91,3) 32 (97,0) 74 (93,7)

18
Tổng 46 (100) 33 (100) 79 (100)
Nhận xét: Ở BN có đột biến gen K-RAS, triệu chứng thiếu máu gặp nhiều hơn (58,7%) ở BN không có đột biến gen K-RAS
(p < 0,05).
3.3.2. Đột biến gen K-RAS với một số đặc điểm hình ảnh nội soi
- Đột biến gen K-RAS với kích thước khối u
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa đột biến gen K-RAS
với kích thước khối u
Kích thước
u (cm)
Có đột biến Không đột biến Tổng
P
n (%) n (%) N (%)
19
< 5 2 (4,3) 8 (24,2) 10 (12,7)
< 0,055 - 10 15 (32,6) 14 (42,4) 29 (36,7)
> 10 29 (63,1) 11 (33,4) 40 (50,6)
Tổng 46 (100) 33 (100) 79 (100)
Nhận xét: Tỉ lệ đột biến gen K-RAS tăng theo kích thước khối u (p < 0,05).
- Đột biến gen K-RAS theo mức độ xâm lấn u so với chu vi lòng ĐTT
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa đột biến gen K-RAS
với mức độ xâm lấn u so với chu vi lòng đại trực tràng
Mức độ xâm
lấn u
Có đột biến Không đột biến Tổng
p
n (%) n (%) N (%)
< 1/4 chu vi 1 (2,2) 6 (18,2) 7 (8,9)
< 0,05
1/4 - 1/2 chu vi 5 (10,9) 8 (24,2) 13 (16,5)

Qua thanh mạc 24 (52,2) 10 (30,3) 34 (43,0)
Tổng 46 (100) 33 (100) 79 (100)
Nhận xét: Tỉ lệ đột biến gen K-RAS tăng theo mức độ xâm lấn khối u vào thành ĐTT (p < 0,05).
CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
4.1.1. Tuối và giới tính
Tuổi trung bình của nhóm BN nghiên cứu là 61,7 ± 12,3, tuổi thấp nhất là 21, tuổi cao nhất là 81, trong đó ba nhóm tuổi có
tỉ lệ gặp cao nhất là nhóm tuổi từ 60 - 69 chiếm tỉ lệ là 32,9%, nhóm tuổi từ 50 - 59 và 70 - 79 đều chiếm tỉ lệ 25,3%. Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác như: Fuszek P., Horváth H.C. và CS (2006),
tuổi mắc bệnh trung bình là 65,2 ± 12,5; McFarlane và CS (2004), tuổi mắc bệnh trung bình là 65,5; Vũ Văn Khiên và CS (2012),
tuổi mắc bệnh trung bình là 63,86 ± 12,21; Phạm Văn Duyệt (2002), tuổi mắc bệnh trung bình là 63,7. Như vậy, theo kết quả của
22
nhiều nghiên cứu thì tỉ lệ mắc bệnh gặp chủ yếu ở lứa tuổi 60 - 79. Theo Benson A.B (2007), tuổi trên 50 là nguy cơ cho
UTĐTT; theo Mayer R.J (2007), UTĐTT hay xảy ra ở tuổi trên 50. Theo Nguyễn Văn Vân (2000), tuổi mắc bệnh trung bình ở
thời điểm được chẩn đoán là 60, hay gặp ở tuổi trên 40 và tần số tăng gấp đôi sau mỗi 10 năm.
Tỉ lệ nam mắc bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỉ lệ là 60,8%, nữ chiếm tỉ lệ là 39,2%, tỉ lệ nam/nữ là 1,55/1.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Phan Văn Hạnh (2004), tỉ lệ nam/nữ là 1,98/1; Phạm
Văn Duyệt (2002), tỉ lệ nam/nữ là 1,09/1; Hoàng Kim Ngân (2006), tỉ lệ nam/nữ là 1,16/1; Nguyễn Viết Nguyệt (2008), tỉ lệ
nam/nữ là 1,1/1 [20]. Tuy nhiên một số nghiên cứu khác, tỉ lệ nam/nữ lại cho kết quả: Lê Quang Minh (2011), tỉ lệ nam/nữ là
0,93/1; Phạm Văn Nhiên (2000), tỉ lệ nam/nữ là 0,96/1. Như vậy, số liệu về tỉ lệ nam/nữ giữa các nghiên cứu còn chưa có sự
thống nhất. Tuy nhiên, sự khác biệt này là không nhiều, theo chúng tôi tỉ lệ UTĐTT ở nam thường cao hơn nữ và số liệu nghiên
cứu thường bị ảnh hưởng bới địa điểm nghiên cứu cũng như cách chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu.
4.2. Đột biến gen K-RAS ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng
4.2.1. Kết quả tách chiết DNA
Với sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ Y sinh, hiện nay trên thế giới có nhiều kỹ thuật được áp dụng nhằm xác
định sự đột biến gen K-RAS ở BN mắc UTĐTT.
Tách chiết DNA là bước đầu tiên quan trọng của quy trình thực hiện các kỹ thuật sinh học phân tử. Tách chiết DNA tốt, các
phân tử DNA không bị đứt gãy, không bị tạp nhiễm thì các phản ứng tiếp theo sẽ có độ chính xác cao. Có nhiều phương pháp
tách chiết DNA, tuy nhiên phương pháp phenol/chlorroform được lựa chọn để tách chiết DNA trong nghiên cứu này. Đây là

MBH và nồng độ CEA ở BN UTĐTT.
Trong nghiên cứu này, xác định đột biến gen K-RAS ở codon 12 và codon 13 đã được tiến hành trên 79 BN bị UTĐTT, kết
quả nghiên cứu bảng 3.10 cho thấy tỉ lệ đột biến gen K-RAS ở BN bị UTĐTT trong nghiên cứu của chúng tôi là 58,2%; tất cả đều
đột biến dạng dị hợp tử. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Cunningham C. và CS (1996) nhận xét
rằng tỉ lệ đột biến gen K-RAS ở BN UTĐTT khoảng 50%. Theo kết quả nghiên cứu của Breivik J. và CS (1994), khi tiến hành
nghiên cứu đột biến gen K-RAS tại codon thứ 12 và codon thứ 13 trên 251 BN bị UTĐTT thấy tỉ lệ đột biến gen K-RAS là 39,4%;
Karapetis. và CS (2008), nghiên cứu 572 BN UT trong đó có 394 BN (68,9%) UTĐTT thấy tỉ lệ đột biến gen K-RAS là 41,6%;
Beranek (1999), khi tiến hành nghiên cứu đột biến gen K-RAS tại codon 12 trên 53 BN bị UTĐTT thấy tỉ lệ đột biến là 34%;
Tortola S. (1999), nghiên cứu 132 BN bị UTĐTT thấy tỉ lệ đột biến gen K-RAS là 54 BN chiếm tỉ lệ 41%; Monstein và CS
(2004), nghiên cứu xác định tỉ lệ đột biến gen K-RAS ở BN UTĐTT thấy tỉ lệ đột biến ở khối u TT là 30%, khối u ĐT là 44%;
Prall F. (2007), nghiên cứu xác định tỉ lệ đột biến gen K-RAS trong UTĐTT giai đoạn sớm, đột biến gen K-RAS đã được xác định
tại vị trí codon 12 và codon 13 thấy tỉ lệ đột biến là 34,7%. Gần đây, Stefanius (2011) nghiên cứu sự đột biến gen K-RAS ở BN bị
UTĐTT thấy tỉ lệ đột biến là 45%.
Như vậy, tỉ lệ đột biến gen K-RAS ở BN bị UTĐTT giữa các nghiên cứu còn chưa có sự thống nhất. Theo chúng tôi, có lẽ
do cách chọn mẫu cũng như kỹ thuật chon mẫu có sự khác nhau, hơn nữa mỗi nghiên cứu lại sử dụng kỹ thuật khác nhau và thời
điểm cũng như địa điểm nghiên cứu khác nhau nên các kết quả nghiên cứu cũng có sự khác nhau.
Khi nghiên cứu về kiểu đột biến gen K-RAS, kết quả bảng 3.13 cho thấy gặp chủ yếu là kiểu đột biến thay thế GGT →
GAT (93,5%), kiểu thay thế GGT → GTT chiếm tỉ lệ thấp (6,5%). Theo kết quả nghiên cứu Rako I. và CS (2011) cho thấy tỉ lệ
đột biến gen K-RAS tại codon 12 kiểu thay thế G → A chiếm tỉ lệ 50,0%; Esteller M. và CS (2000), để nghiên cứu sự liên quan
25
của quá trình giảm methyl hóa liên quan đến sự hiện diện của đột biến gen K-RAS, các tác giả đã nghiên cứu 244 mẫu khối u
ĐTT, kết quả cho thấy một mối liên quan rõ ràng giữa ngừng hoặc giảm hoạt động methyl hóa và sự xuất hiện của đột biến gen
K-RAS kiểu thay thế G → A chiếm tỉ lệ 71% ; Prall F. (2007), thấy trong đột biến gen K-RAS thì ti lệ đột biến tại codon 12 là
90,6% và chủ yếu gặp kiểu chuyển đổi G → A. Như vậy, tỉ lệ kiểu đột biến gen K-RAS ở BN bị UTĐTT giữa các nghiên cứu
cũng chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu đều thấy rằng đột biến gen K-RAS ở BN bị UTĐTT chủ yếu là
kiểu đột biến GGT → GAT. Vì vậy, theo chúng tôi cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa với số lượng BN lớn hơn trong việc xác
định tỉ lệ đột biến cũng như kiểu đột biến gen K-RAS ở BN mắc UTĐTT.
4.2.3. Đột biến gen K-RAS với tuổi và giới tính
Ung thư ĐTT là bệnh chung cho cả hai giới nhưng nam thường bị nhiều hơn nữ, tỉ lệ nam/nữ thay đổi từ 1,1 đến 2,1 lần.
Phụ nữ ở các vùng khác nhau có tỉ lệ mắc tương tự nhau, vào khoảng 60 - 80% so với nam giới. Khi tiến hành nghiên cứu tỉ lệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status