A. THÔNG TIN ĐỀ TÀI
Cấp đề tài: Đề tài cấp Bộ
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Trần Ngọc Dũng, Chủ nhiệm Khoa Sau đại học, Trường Đại
học Luật Hà Nội
Cơ quan chủ quản: Bộ Tư pháp
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học pháp lý
Năm bảo vệ: 2006
B. NỘI DUNG TÓM TẮT
Kể từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách đổi mới, việc đào tạo đội ngũ cán bộ
pháp luật đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng cũng như chất lượng. Các cơ
sở đào tạo cán bộ pháp luật đã không ngừng nâng cao trình độ của các giảng viên, hoàn thiện
chương trình, đổi mới phương pháp, tăng cường cơ sở vật chất để đào tạo và cung cấp cho
đất nước những cán bộ pháp luật có trình độ cao và có năng lực trong các lĩnh vực lập pháp,
hành pháp và tư pháp.
Tuy vậy, trong quá trình nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế,
nhất là hội nhập về kinh tế, nhiều vấn đề, nhiều yêu cầu mới đang được đặt ra trước mắt
cũng như lâu dài đối với đội ngũ cán bộ pháp luật.
Trong quá trình hoạt động của mình, các cán bộ pháp luật được đào tạo trong thời gian
qua đã đạt được nhiều thành công, nhưng khi đối mặt với những đòi hỏi do quá trình hội
nhập khu vực và quốc tế, thì cán bộ pháp luật này chưa đáp ứng được. Nhiều vấn đề liên
quan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế v.v… hầu như mới lạ đối với những
cán bộ pháp luật đã được đào tạo. Việc các doanh nghiệp Việt Nam bị thua kiện trong các
tranh chấp thương mại quốc tế, bị mất các cơ hội đầu tư, mất đối tác kinh doanh…có một
phần là lỗi của những cán bộ pháp luật. Họ chưa đủ năng lực để đối mặt với các thách thức
mới.
Trong bối cảnh đó, việc đào tạo được một đội ngũ cán bộ pháp luật có trình độ cao, có
năng lực toàn diện và phẩm chất tốt để giải quyết những yêu cầu do công cuộc hội nhập
quốc tế đặt ra là một yêu cầu vô cùng bức xúc.
Cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ hợp tác quốc tế là các chuyên gia am hiểu
sâu sắc những lĩnh vực pháp luật liên quan đến hội nhập quốc tế, có kỹ năng giải quyết
các vấn đề đặt ra từ thực tiễn hội nhập quốc tế, am hiểu văn hoá, lịch sử, tập quán, kinh
nhân gây ra phá sản đối với những ngành kinh tế và những doanh nghiệp kém hiệu quả
của nước ta, gây ra xáo trộn về công ăn việc làm cho nhiều người lao động. Hệ thống
pháp luật thương mại của nước ta cũng còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thông lệ
quốc tế.
Trình độ cán bộ thực hiện hội nhập quốc tế chưa cao, công tác đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực cho công tác hội nhập quốc tế chưa được đẩy mạnh. Trình độ cán bộ của
Việt Nam nhìn chung đã được nâng lên đáng kể sau hơn một thập kỷ tiến hành hội nhập
quốc tế, nhưng so với yêu cầu hiện nay và mặt bằng trình độ chung của các nước thì đội
ngũ cán bộ của nước ta cần được nâng cao hơn nữa cả về chuyên môn và ngoại ngữ.
2. Các chủ trương, chính sách về hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã nhận định: "Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách
quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực,
vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh" [17, tr.13]. Để đạt được mục tiêu đó, một trong những
định hướng quan trọng là: "Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực
với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước" [17, tr.26].
Song song với đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chủ trương trọng tâm về
đối ngoại của Đảng giai đoạn này là: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo
tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự
chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia,
giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường.
Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 07/NQ-TW về hội nhập kinh tế quốc
tế. Ngày 14/3/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 37/QĐ-TTg về
Chương trình hành động của Chính phủ chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 07/NQ-TW. Hội
nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị đã nhất
trí về năm nội dung cơ bản trong công tác hội nhập kinh tế quốc tế như sau:
- Thống nhất về nhận thức tư tưởng về hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp tục tuyên truyền
nâng cao hiểu biết về hội nhập kinh tế quốc tế cho mọi tầng lớp nhân dân;
- Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế;
- Mở cửa thị trường và giảm thuế quan;
1.3.4. Nhu cầu đào tạo các chức danh tư pháp trong giai đoạn mới.
Việc xác định chính xác nhu cầu đào tạo các chức danh tư pháp trong thời gian trước mắt
và lâu dài có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch
đào tạo. Nhu cầu đào tạo được đánh giá qua hai tiêu chí: nhu cầu về số lượng cán bộ và
nhu cầu về chất lượng cán bộ.
1.4. Kinh nghiệm và mô hình đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ việc hội
nhập quốc tế của một số nước.
Qua việc nghiên cứu chương trình đào tạo luật gia tại các nước Nhật Bản, Hàn Quốc,
Cộng hòa Philippines, Cộng hoà Liên bang Đức, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, Ôxtrâylia và
New Zealand, Hoa Kỳ, và Canada, có thể đưa ra ba nhận định sau đây:
Thứ nhất, ở những nước XHCN, nền luật học chưa phát triển. Luật pháp được đồng
nghĩa với cách hiểu của luật công, là những công cụ triển khai chính sách của Nhà nước.
Dạy luật về cơ bản cũng dựa trên các phương pháp của luật công, lấy lý luận Mác-Lênin
về tổ chức bộ máy nhà nước làm công cụ tư tưởng chính, các ngành luật được lựa chọn
tùy theo nhãn quan quản lý nhà nước từng thời điểm khác nhau. Trong hệ đại học, người
ta không rèn luyện các kỹ năng hành nghề cần có của luật sư như kỹ năng thẩm vấn, kỹ
năng đàm phán, kỹ năng tranh tụng, mà chủ yếu diễn giảng tư tưởng và cầu trúc các đạo
luật, cách hiểu và vận dụng chúng theo một đường lối thống nhất bởi Đảng cầm quyền.
Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa gặp khủng hoảng, ảnh hưởng của mô hình này suy
giảm đáng kể. Các quốc gia Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ quay trở lại với nền
dân luật truyền thống. ở Trung Quốc và Việt Nam, hệ thống pháp luật của mô hình Nhà
nước toàn trị được thay thế bởi một nền pháp luật tương thích với kinh tế thị trường. Tư
duy lại việc dạy và học luật ở các quốc gia này là một điều tất yếu đang diễn ra.
Thứ hai, ở các quốc gia châu Âu lục địa, kể cả ở Anh và các quốc gia chịu ảnh hưởng của
người Anh, việc dạy luật được bắt đầu ở bậc đại học, học viên phần lớn là những tú tài trẻ
tuổi, chưa có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống. Sau khi có bằng cử nhân luật, họ phải trải
qua những kỳ đào tạo nghiệp vụ mới có thể từng bước hành nghề luật. Quy trình đào tạo luật
được chia thành hai công đoạn: công đoạn hàn lâm, do các khoa luật phụ trách, công đoạn
dạy nghề, do Bộ Tư pháp, Hiệp hội Luật sư hoặc các tổ chức được ủy quyền tiến hành. Các
cấp học thạc sĩ, tiến sĩ luật học là nối dài của quá trình đào tạo hàn lâm, người có bằng tiến sĩ
hoàn chỉnh, đồng bộ. Cho nên, sau cải cách mở cửa, là thời kỳ phục hồi và phát triển của
đào tạo luật, nhưng đào tạo pháp luật của Trung Quốc đã tiến một cách mò mẫm trong
hoàn cảnh thiếu tư tưởng đào tạo. Thiếu tư tưởng đào tạo có nghĩa là thiếu sự hướng đạo
và sẽ mất phương hướng trong sự thay đổi của xã hội, nhất là trong thời đại toàn cầu hoá
ngày nay. Thiếu tư tưởng đào tạo pháp luật sẽ trở thành một căn bệnh nan y hạn chế sự
phát triển đào tạo pháp luật tại Trung Quốc.
Kinh nghiệm đào tạo cán bộ pháp luật tại Vương quốc Thụy Điển cho thấy tất cả các
trường Đại học ở Thụy Điển đều là những trường đa ngành. Cơ cấu của trường bao gồm
các khoa khác nhau, giảng dạy các chuyên ngành khác nhau như: y học, luật, thần học,
khoa học xã hội và nhân văn, kỹ thuật. Người đứng đầu trường đại học tổng hợp là Hiệu
trưởng và mỗi khoa có Ban Chủ nhiệm khoa, mà người lãnh đạo là Trưởng khoa. Mỗi
khoa có ngân sách riêng và Chủ nhiệm khoa chịu trách nhiệm về nhân sự và tài chính.
Chủ nhiệm khoa là người đứng đầu một viện và thông thường mỗi khoa có một số viện
nghiên cứu. Có một trường hợp ngoại lệ là Khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp Lund:
đó là một Khoa và một Viện, tổ chức có một ban lãnh đạo khoa, một Trưởng khoa và một
Chủ nhiệm khoa.
Chương trình đào tạo tại các trường đại học là đáp ứng nhu cầu đào tạo cán bộ cho
các lĩnh vực hoạt động của Chính phủ. Hầu hết các cơ quan vẫn thường đề nghị tiếp tục
đào tạo cán bộ về các vấn đề có liên quan tới luật công, luật hành chính, luật thuế và luật
của Liên minh châu Âu. Nhưng tình hình đã có sự thay đổi. Nhiều lĩnh vực đã tác động tới
công tác đào tạo tại các trường đại học, làm cho nó hợp lý hơn, năng động hơn trước và
thậm chí công tác nghiên cứu dường như cũng mất đi vai trò mũi nhọn, tiên phong trong
một thế giới phát triển.
II. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ PHÁP LUẬT LÀM
CÔNG TÁC HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM
1. Thực trạng đào tạo cán bộ pháp luật ở Việt Nam
1.1. Mô hình hiện tại của việc đào tạo cán bộ pháp luật ở Việt Nam.
Trong 26 năm vừa qua, các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật đã đào tạo được hàng chục
nghìn cử nhân, hàng nghìn thạc sĩ và hàng trăm tiến sĩ luật học. Đội ngũ cán bộ pháp luật
được đào tạo đã hoạt động trong nhiều cơ quan và trong nhiều lĩnh vực khác nhau và
e) Mục đích học tập của sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh đôi khi chưa chính
đáng. Ý thức học tập của các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh còn chưa
đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp hội nhập quốc tế của nước ta.
g) Chưa có sự gắn bó và liên thông giữa các bậc học, giữa các ngành học, giữa các cơ
sở đào tạo cán bộ pháp luật cũng như giữa lý luận và thực tiễn, giữa việc đào tạo và sử
dụng cán bộ pháp luật.
h) Việc sử dụng cán bộ pháp luật đã tốt nghiệp các hệ chưa thật hợp lý, gây ra sự lãng
phí và không phát huy được hết những kiến thức mà các nhà trường đã trang bị cho các
luật gia này.
Tất cả những điều đó cho thấy cần phải khẩn trương xây dựng một mô hình tổng thể
mới về đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho việc hội nhập quốc tế của
Việt Nam.
1.2. Các cấp bậc đào tạo cán bộ pháp luật hiện hành.
Các cấp bậc đào tạo cán bộ pháp luật này có một số thành công và ưu điểm như:
- Người học có thể lựa chọn các cấp bậc đào tạo, thường xuyên nâng cao trình độ theo
nhu cầu công tác cũng như điều kiện và khả năng của mình;
- Bên cạnh việc đào tạo bài bản và chính quy một số cấp bậc, còn có việc đào tạo nghề
để các Luật gia sau khi tốt nghiệp có thể làm việc một cách thuần thục ngay;
Tuy vậy, có thể nhận thấy một số nhược điểm, bất cập của hệ thống các cấp bậc đào
tạo cán bộ pháp luật này là:
a) Ở cấp đào tạo đại học luật, các môn phụ trợ như: các môn chính trị, ngoại ngữ, thể
dục, quân sự, tâm lý học…) chiếm một tỷ lệ khá lớn (30%)
b) Đến cấp cao học, tỷ lệ các môn phụ trợ như triết học, ngoại ngữ, phương pháp giảng
dạy đại học, phương pháp nghiên cứu khoa học cũng vẫn chiếm một tỷ lệ khá lớn (25%).
c) Các cấp học không có sự liên kết, gắn bó và bổ sung cho nhau, mà tách biệt nhau.
d) Chưa thực hiện được vệc bồi dưỡng sau đại học để cung cấp những kiến thức
chuyên ngành, cập nhật mới về một lĩnh vực hoặc về một số vấn đề để trang bị cho
người học (có thể là các cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ luật) những kiến thức cần thiết phục vụ
cho công việc hàng ngày của họ, đáp ứng tốt hơn những yêu cầu có tính chất thời sự
cũng như lâu dài về hội nhập quốc tế của Việt Nam.
- Các cơ sở đào tạo sau đại học đều đã xây dựng chương trình đào tạo thạc sĩ và đào
tạo tiến sĩ cơ bản tuân theo Quy chế Đào tạo sau đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành. Các chương trình đào tạo cao học đều được xây dựng bao gồm chương trình cơ
bản, chương trình cơ sở, chương trình chuyên ngành, viết và bảo vệ luận văn thạc sĩ.
Các chương trình đào tạo tiến sĩ đều bao gồm việc học chương trình tương tự như đào
tạo thạc sĩ, học ngoại ngữ chuyên ngành, nghiên cứu sinh phải viết và bảo vệ ba chuyên
đề tiến sĩ, trình bày luận án ở bộ môn, luận án được phản biện độc lập và bảo vệ luận án
tiến sĩ cấp nhà nước.
- Các chương trình đào tạo sau đại học đã được các cơ sở đào tạo sau đại học xây dựng
tương đối khoa học, hợp lý. Thí dụ trong các chương trình có phần lý luận, có phần thực tiễn,
có phần pháp luật trong nước, có phần nghiên cứu lịch sử phát triển của các ngành luật, của
các chế định pháp luật; tìm hiểu và nghiên cứu áp dụng các kinh nghiệm thích hợp của nước
ngoài phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nước ta.
- Các cơ sở đào tạo đã xây dựng được nhiều chương trình, mở ra nhiều mã số ngành
đào tạo để các học viên cũng như nghiên cứu sinh có điều kiện lựa chọn ngành khoa học
thích hợp với khả năng, trình độ cũng như những lĩnh vực hoạt động của họ.
- Các cơ sở đào tạo đã xây dựng cơ cấu chương trình gồm các môn học bắt buộc và
một số môn học tự chọn nhằm mục đích giảm tải (về số môn học, về số tiết cho mỗi môn)
để phù hợp với ngành nghề, công việc, vị trí công tác… của các học viên và nghiên cứu
sinh.
- Các cơ sở đào tạo sau đại học đã thường xuyên nghiên cứu, tham khảo chương trình
đào tạo sau đại học của các nước khác.
Tuy vậy, các chương trình đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học ở các cơ sở
đào tạo luật ở nước ta có một số nhược điểm và bất cập như sau:
- Chương trình đào tạo của các cơ sở chưa thống nhất, không đồng đều, có nơi nặng,
có nơi nhẹ; có nơi rất bài bản, có nơi còn sơ sài, tuỳ tiện.
- Có một số môn học không thích hợp, làm tốn nhiều thời gian, công sức, chi phí tài
chính, hiệu quả thấp.
Nội dung đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học có những ưu điểm và thành
công như:
năng, điều kiện của cơ sở đó.
3) Hợp tác với các nước khác và tiếp thu được những kinh nghiệm tiên tiến của các nước
này. Các cơ sở đào tạo sau đại học đã thực hiện nhiều quan hệ hợp tác với nhiều nước khác
nhau và đã tiếp thu được nhiều kinh nghiệm tiến tiến của các nước này.
Hình thức đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học có những nhược điểm và
bất cập như:
1) Có những hình thức đào tạo không bảo đảm chất lượng đào tạo sau đại học, hiệu
quả không cao. Hình thức vừa làm vừa học (tại chức) hoặc đào tạo ban đêm, cuối tuần là
những hình thức đào tạo đạt hiệu quả không cao. Học viên luôn luôn bị chi phối bởi nhiều
vấn đề cùng phải giải quyết ngay một lúc hoặc sau một ngày, một tuần làm việc căng
thẳng, vất vả, thì học viên và ngay cả giảng viên cũng không còn sức lực và hứng thú
giảng dạy, học tập nữa.
2) Các cơ sở đào tạo sau đại học triển khai quá chậm hình thức bồi dưỡng sau đại học; Mặt
khác, hình thức này chưa phù hợp với nguyện vọng và nhu cầu của người học, không khuyến
khích, động viên được người học.
+ Phương pháp đào tạo cán bộ pháp luật ở các cơ sở đào tạo sau đại học
Phương pháp đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học có những ưu điểm và
thành công như sau:
1) Một số giảng viên đã sử dụng các phương pháp đào tạo thích hợp (như thuyết trình,
hướng dẫn thảo luận, gợi ý nghiên cứu, trao đổi giữa thầy và trò );
2) Một số giảng viên đã học tập và sử dụng có hiệu quả các phương pháp giảng dạy
tiên tiến, như chương trình tin học phục vụ cho đào tạo đại học và sau đại học. Công
nghệ Power Point đã làm tăng thêm tính hấp dẫn và nhớ lâu của các học viên, đòi hỏi
người giảng viên phải đầu tư nhiều công sức, có nhiều kỹ năng trong soạn bài, hoàn
thành giáo án.
3) Nhiều giảng viên đã coi học viên và nghiên cứu sinh là trung tâm của quá trình đào
tạo; giảng viên cần làm mọi việc để phục vụ cho họ học tập và nghiên cứu một cách tốt
nhất.
Phương pháp đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ sau đại học có những nhược điểm
và bất cập như sau:
4) Việc tuyển học viên các lớp thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên, công chứng
viên đã kết hợp giữa cử tuyển và thi tuyển; nhưng do việc lựa chọn những người đi học
các lớp này bị giới hạn trong phạm vi biên chế của các cơ quan tư pháp nên chưa lựa
chọn được những người thật sự giỏi về chuyên môn, có tư cách đạo đức tốt để đào tạo
nguồn bổ nhiệm các chức danh này.
5) Đa số học viên luật sư khi mới vào trường còn chưa được tiếp cận với hoạt động tranh
tụng hoặc tư vấn của Luật sư. Chương trình đào tạo nghiệp vụ Luật sư cần trang bị một
cách bài bản, hệ thống về các kỹ năng nghề nghiệp ban đầu để tạo cơ sở cho các học viên
sau khi tốt nghiệp có thể thực hiện được một số hoạt động nghề nghiệp cần thiết trong thời
gian làm luật sư tập sự.
1.3.2. Đào tạo tại chức
Hình thức đào tạo tại chức được áp dụng để đào tạo các cử nhân luật theo một chương
trình riêng nhằm tạo điều kiện cho các học viên tham gia các chương trình đào tạo không
chính quy trong khi vẫn có khả năng tham gia vào các quá trình lao động xã hội. Hình thức
đào tạo tại chức giải quyết được việc nâng cao trình độ cho cán bộ trong các cơ quan, xí
nghiệp, đồng thời cung đảm bảo được quyền lợi của người học.
Tuy nhiên, việc đào tạo theo hình thức tại chức có nhược điểm là trong cùng một
khoảng thời gian, người học phải vừa học, vừa làm, giải quyết nhiều công việc nên không
thể chú tâm vào việc học, chất lượng học tập và nghiên cứu không cao. Các học viên dễ
bị chi phối bởi công việc chuyên môn, nghề nghiệp hàng ngày; các học viên không tuân
theo chương trình một cách chặt chẽ về số môn học; việc tổ chức giảng dạy các lớp
được rải ra trên nhiều địa bàn, rất khó khăn cho công tác quản lý trực tiếp…
1.3.3. Đào tạo từ xa
Hình thức đào tạo từ xa có đặc điểm giống đặc điểm của hình thức đào tạo tại chức, là:
người học vừa công tác, vừa đi học nhằm nâng cao trình độ. Nhưng nó khác với hình thức
học tại chức là ở chỗ: Học viên học tại chức phải tập trung đến lớp để nghe giảng viên
giảng và hướng dẫn thảo luận; nhưng người học từ xa phải tự nghiên cứu các tài liệu học
tập mà cơ sở đào tạo cung cấp là chủ yếu. Khi nào cơ sở đào tạo chuẩn bị thi các môn thì
mới tổ chức việc hệ thống hoá và giải đáp thắc mắc cho sinh viên. Các sinh viên thi tốt
nghiệp là chủ yếu. Chỉ có rất ít sinh viên có kết quả học tập tốt trong các lớp ở các địa
việc hoàn thiện chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, chất lượng đào tạo, phát
triển năng lực đào tạo của các cán bộ, giảng viên trong các cơ sở đào tạo này.
Tuy vậy, hoạt động hợp tác quốc tế của các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật có nơi, có
lúc vẫn chưa được coi trọng và chưa được xem như một biện pháp hữu hiệu để đổi mới
tư duy, nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên và việc học tập, nghiên cứu của
sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh. Hiệu quả của hoạt động hợp tác quốc tế
có lúc còn hạn chế và chưa bám sát yêu cầu đào tạo, thiếu sự phối hợp giữa các cơ sở
đào tạo và sự điều phối của các cơ quan hữu quan. Tình trạng mạnh ai nấy làm còn xảy
ra. Một số cơ sở đào tạo luật còn chưa chủ động trong việc mở rộng hợp tác quốc tế và
có tính chủ động chưa cao.
+ Các lĩnh vực đào tạo cán bộ pháp luật sau đại học hiện hành
Trong những năm vừa qua, các chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo cán bộ pháp
luật của Việt Nam đã bước đầu thể hiện được sự đa dạng về các lĩnh vực pháp luật được đào
tạo phục vụ cho sự hội nhập quốc tế của Việt Nam. Thí dụ, trong các chương trình đã có
những môn học hoặc chuyên đề về hoặc liên quan đến hội nhập quốc tế, như: công pháp quốc
tế, tư pháp quốc tế, luật kinh tế quốc tế, luật so sánh, luật thương mại quốc tế, luật về sở hữu trí
tuệ, luật về chuyển giao công nghệ, luật hiến pháp các nước, luật hình sự quốc tế, lịch sử các
học thuyết chính trị…
2. Thực trạng đội ngũ cán bộ pháp luật làm công tác hội nhập quốc tế hiện nay
của Việt Nam.
Nhận định về tình trạng hiện nay của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, Nghị quyết
số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế đã chỉ rõ: “Đội ngũ cán bộ làm công
tác kinh tế đối ngoại còn thiếu và yếu.” Cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại được hiểu
là tất cả những người làm việc liên quan tới hội nhập kinh tế quốc tế ở trong và ngoài hệ
thống bộ máy nhà nước, tất nhiên trong đó bao gồm cả lực lượng cán bộ pháp luật trong
lĩnh vực này. Thực tế, đội ngũ cán bộ pháp lý phục vụ việc hội nhập quốc tế của Việt Nam
thể hiện ở chỗ còn thiếu về số lượng và còn yếu về chất lượng được phản ánh khá rõ
trong kết quả điều tra, khảo sát một số cơ quan của hai thành phố lớn là Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh vừa qua cho thấy: thứ nhất, còn thiếu những người làm công tác pháp
luật trong lĩnh vực hội nhập quốc tế; thứ hai, trình độ chuyên môn của những người làm
2) Giảng viên các trường đại học luật, các khoa, bộ môn luật của các học viện, trường
đại học, cao đẳng ở trung ương và địa phương;
3) Chuyên gia công tác ở các cơ quan nhà nước với tư cách là những chuyên gia xây
dựng chính sách, pháp luật, chuyên gia đàm phán, công chức hành chính;
4) Cán bộ ở các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp như thẩm phán, kiểm sát viên, luật
sư, công chứng viên, giám định viên, điều tra viên, cán bộ thi hành án ;
5) Các cán bộ quản lý, chuyên viên pháp lý, chuyên gia đàm phán ở các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế
1.3. Những yêu cầu đối với công tác đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao
phục vụ hội nhập quốc tế.
Công tác đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phải đáp ứng được những yêu cầu
như sau:
Toàn bộ quá trình triển khai công tác đào tạo cán bộ pháp luật phục vụ hội nhập quốc tế
phải đảm bảo quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc
tế. Chiến lược đào tạo cán bộ pháp lý nói chung và đào tạo cán bộ pháp lý phục vụ hội nhập
quốc tế nói riêng phải quán triệt Nghị quyết số 48/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
và Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Công tác đào tạo cán bộ pháp lý phải đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng phục
vụ hội nhập quốc tế.
Cơ cấu đào tạo cán bộ pháp luật phải được thiết kế hoàn chỉnh, đồng bộ đối với từng
bậc, từng hệ, từng loại hình, từng chuyên ngành đào tạo.
Chương trình đào tạo cán bộ pháp luật phải vừa thiết thực, đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.
Phương pháp và phương tiện đào tạo phải đồng bộ và phù hợp với các loại hình và quy
mô đào tạo cán bộ pháp lý phục vụ công tác hội nhập. Phương pháp đào tạo cán bộ pháp
lý phải được cải tiến mạnh mẽ, có kết hợp hợp lý giữa các phương pháp truyền thống và
phương pháp hiện đại nhằm truyền đạt có hiệu quả chương trình đào tạo mới đã được đề
cập ở trên. Cần đầu tư thích đáng cho việc hoàn thiện và hiện đại hoá các phương tiện
đào tạo.
a) Chương trình đào tạo thống nhất: Chương trình đào tạo thống nhất thể hiện ở chỗ các
cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật trong cả nước cần ngồi lại với nhau để cùng trao đổi, bàn
bạc, thảo luận một cách thật sự dân chủ và khoa học về việc xây dựng một khung chương
trình đào tạo cán bộ pháp luật phục vụ cho việc hội nhập quốc tế của Việt Nam với nhiều cấp
bậc và hình thức khác nhau. Chương trình này sẽ bao gồm những môn học, chuyên đề thiết
yếu cho việc đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho việc hội nhập quốc tế của
Việt Nam và dành một phần thích hợp cho mỗi cơ sở đào tạo thể hiện những đặc sắc riêng
của mình. Có thể tham khảo khung chương trình đào tạo cử nhân luật nói chung mà các cơ
sở đào tạo luật đã hoàn thành dưới sự chủ trì của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
b) Chương trình đào tạo hiện đại: Chương trình đào tạo hiện đại thể hiện ở chỗ các cơ
sở đào tạo cán bộ pháp luật mạnh dạn áp dụng những nội dung, kiến thức mới phục vụ
cho việc hội nhập quốc tế. Những nội dung và kiến thức mới thể hiện ở những kết quả
nghiên cứu mới nhất từ lý luận và thực tiễn hội nhập quốc tế. Chương trình đào tạo cán
bộ pháp luật phải tiếp tục hoàn thiện và phát huy tính tích cực của các kiến thức đã được
cho là cần thiết và đúng trong chương trình đào tạo hiện hành. Ngoài ra, chương trình
phải tham khảo các kinh nghiệm quốc tế, các môn học, các chuyên đề mà các nước khác
đã áp dụng thành công khi đào tạo cán bộ pháp luật phục vụ cho hội nhập quốc tế của
nước họ.
GIẢNG VIÊN
(Tăng cường số lượng,
chất lượng)
Đổi mới phương
pháp giảng dạy
ĐỐI TƯỢNG
ĐÀO TẠO
Phương pháp
học tập
Hoàn thiện
giáo trình,
tài liệu
d) Chương trình đào tạo có cơ cấu hợp lý: Chương trình đào tạo cán bộ pháp luật phục
vụ cho hội nhập quốc tế có cơ cấu hợp lý thể hiện ở chỗ: Càng ở bậc đào tạo cao hơn thì
tỷ lệ đào tạo về lý luận càng phải nâng cao lên, tỷ lệ nghiên cứu pháp luật thực định cần
giảm xuống. Ngoài ra, ở cấp đào tạo nào cũng nên có thời gian đào tạo nghề cho người
học với một tỷ lệ phù hợp, để các nhà luật gia, dù được đào tạo ở trình độ nào (đại học,
cao học, tiến sĩ), sau khi học xong chương trình đó, đều không bỡ ngỡ khi bắt tay vào các
công việc thực tiễn và cũng đều có thể phát huy được những kiến thức và trình độ của
mình, phục vụ một cách tốt nhất cho việc hội nhập quốc tế của Việt Nam.
2.2. Đổi mới chương trình đào tạo cử nhân luật
Cần tăng thêm thời lượng cho các môn học cung cấp kiến thức pháp lý trực tiếp phục vụ
công tác hội nhập quốc tế và bổ sung thêm một số môn học mới vào chương trình đào tạo.
Những môn luật liên quan trực tiếp đến hội nhập quốc tế sau đây cần được giảng dạy cho tất
cả các sinh viên học luật: cụ thể như:1) Công pháp quốc tế, 2) Tư pháp quốc tế, 3) Luật Hiến
pháp nước ngoài, 4) Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, 5) Luật hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài, 6) Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, 7) Luật về đầu tư của Việt Nam ra
nước ngoài, 8) Luật sở hữu trí tuệ, 9) Luật chuyển giao công nghệ, 10) Luật so sánh, và 11)
Luật biển.
Ngoài ra, còn một số môn học hoặc chuyên đề khác cũng liên quan trực tiếp đến việc hội
nhập quốc tế, nhưng nếu giảng dạy đại trà các môn này cho tất cả các sinh viên luật thì sẽ
không đủ thời gian và không khả thi. Do đó, sau khi đã được cấp bằng cử nhân luật, các cử
nhân có xu hướng tham gia trực tiếp vào hội nhập quốc tế cần học thêm trong thời gian 6
tháng một số môn học hoặc chuyên đề khác liên quan trực tiếp đến hoạt động hội nhập quốc
tế để đạt được trình độ cao hơn, phục vụ có hiệu quả hơn cho việc hội nhập quốc tế của Việt
Nam. Đó là những môn học hoặc chuyên đề sau: 1) Luật về các tổ chức quốc tế, 2) Luật
Thương mại Quốc tế, 3) Luật Môi trường Quốc tế, 4) Luật Cạnh tranh Quốc tế, 5) Luật Trọng
tài Quốc tế, 6) Luật về ngoại hối, 7) Luật Tài chính quốc tế và về các định chế tài chính quốc
tế, 8) Luật về hải quan quốc tế, 9) Luật hàng hải và vận tải, 10) Liên hợp quốc và trật tự thế
giới, và 11) Luật ngoại giao và lãnh sự
Sau khi học xong các môn này, người học sẽ được cấp một chứng chỉ cử nhân có trình độ
cao phục vụ hội nhập quốc tế và sẽ được ưu tiên tuyển dụng vào các cơ quan có hoạt động
Lý luận
(mở rộng)
30%
Pháp luật (so
sánh, khái quát)
(40%)
Thực tiễn (so
sánh, đánh giá)
(15%)
Các môn
phụ trợ (5%)
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
Lý luận
(cơ bản)
(20%)
Pháp luật
thực định
(50%)
Kiến thức
thực tiễn (đơn
thuần) (10%)
Các môn
phụ trợ (10%)
Bồi dưỡng sau đại
(cập nhật) (15%)
Bồi dưỡng
sau ĐH (cập
nhật) (10%)
Kỹ năng
hành nghề
tháng)
CỬ NHÂN
LUẬT HỌC CÓ
TRÌNH ĐỘ CAO
PHỤC VỤ HỘI
NHẬP QUỐC TẾ
II. Đào tạo đại
trà. Chương trình
đại học cũ (3
năm)
Hoạt động
liên quan đến
HNQT
(>3 năm)
Làm việc trong lĩnh
vực không liên quan
trực tiếp đến hội nhập
quốc tế
Chứng chỉ cử nhân
có trình độ cao
phục vụ HNQT
Đổi mới nội dung chương trình, hình thức và phương pháp đào tạo đại học ngành luật
là vấn đề có tính cấp bách.
Có thể trình bày mô hình về mối tương quan giữa các cấp bậc đào tạo cán bộ pháp lý
và cơ cấu các mảng chương trình của mô hình đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao
phục vụ cho sự nghiệp hội nhập quốc tế của Việt Nam như sau:
Đổi mới việc đào tạo cán bộ pháp luật cần phải được thực hiện theo các phương
hướng sau đây:
- Một là, cần thống nhất về quan điểm và hành động theo hướng cải cách mạnh mẽ. Sự
thống nhất tư tưởng và quan điểm sẽ tạo nên những điều kiện tốt về mặt tinh thần cho
các kiến thức thực tiễn và học về kỹ năng. Tòa án tối cao thực hiện việc bồi dưỡng
thường xuyên cho đội ngũ thẩm phán, thư ký toà án Không nên giao việc đào tạo nguồn
luật sư cho Học viện tư pháp - một cơ sở của Nhà nước - bởi vì một khi luật sư do cơ sở
của Nhà nước đào tạo, chứng chỉ hành nghề cũng do cơ quan nhà nước cấp, thì luật sư
bị phụ thuộc vào cơ quan nhà nước, không thể hành nghề một cách độc lập, khách quan
được. Cần để cho Hiệp hội luật sư tự đào tạo nguồn bổ sung cho họ.
Thứ ba, các viện nghiên cứu không nên tham gia đào tạo cử nhân, thạc sĩ mà chỉ nên
đào tạo tiến sĩ. Lý do là: các viện nghiên cứu không có đủ cơ sở vật chất, kỹ năng, nghiệp
vụ và đội ngũ giảng viên, chuyên viên để đào tạo cử nhân và thạc sĩ.
Thứ tư, cũng nên dành một thời gian thích hợp cho việc dạy môn Hán Văn, Cổ luật,
tiếng Latinh và Luật La Mã. Trong các môn luật, nên bắt đầu bằng luật dân sự ngay từ
năm thứ nhất hoặc năm thứ hai, giảm bớt và tránh dạy các môn luật công ngay từ ban
đầu.
Thứ năm, Không nên chỉ tuyển nguồn thẩm phán từ đội ngũ thư ký tòa án, mà nên tuyển
dụng rộng hơn từ đội ngũ luật gia nói chung, nhất là từ các luật sư đang hành nghề.
Thứ sáu, cần phải bổ sung, thay đổi một số điểm trong chương trình, nội dung đào tạo. Cần
loại bỏ một số môn học không thực sự liên quan đến chương trình đào tạo cử nhân luật, thí
dụ như các môn: toán học, khoa học trái đất, lịch sử phát triển công nghệ
2.3. Đổi mới chương trình đào tạo thạc sĩ.
Do thời lượng giảng dạy các môn cơ sở quá dài, hầu hết các vấn đề đã được học ở
chương trình đại học, nên dẫn đến tình trạng chán nản, lãng phí về kinh tế và mất nhiều
thời gian của cả giảng viên và học viên. Nhiều môn chuyên ngành đã dành nhiều thời
gian để đề cập đến lý thuyết và chỉ dành một lượng thời gian rất hạn hẹp cho việc phân
tích các tình huống cụ thể. Chương trình đào tạo cử nhân đã trang bị cho sinh viên các
kiến thức cơ bản nhất, vậy nên chăng chúng ta lại lặp lại những điều đã nói ở cấp học
cao hơn? Trong khi các thạc sĩ tương lai cần nhiều thời gian hơn thế để phát triển khả
năng lý luận, nâng cao kiến thức đã được học ở bậc đại học, nâng cao kỹ năng xử lý
công việc cũng như năng lực giải quyết các tình huống cụ thể.
Cần phải có những thay đổi nhất định để đáp ứng yêu cầu đào tạo thạc sĩ thực sự trở
thành những người có trình độ khoa học pháp lý và có khả năng lý luận cao. Đặc biệt,
học có cải tiến và
đổi mới (3 năm)
Chứng chỉ trình độ
cao phục vụ hội
nhập quốc tế
Luận văn thạc sĩ
liên quan đến
HNQT
Luận văn thạc sĩ
không liên quan
đến HNQT
Đào tạo chuyên sâu
một số môn liên
quan HNQT (6
tháng)
THẠC SĨ
LUẬT HỌC
CÓ TRÌNH
ĐỘ CAO
PHỤC VỤ
HỘI NHẬP
QUỐC TẾ
II. Đào tạo đại trà.
Chương trình cao
học cũ (3 năm)
Hoạt động
liên quan đến
HNQT
(>3 năm)
Làm việc trong lĩnh
7) Các cơ sở đào tạo cần có những chương trình bồi dưỡng kiến thức linh hoạt phục vụ
cho đối tượng (cả cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) chỉ có nhu cầu được bồi dưỡng ngắn hạn theo
các chuyên đề trong từng lĩnh vực cụ thể phục vụ trực tiếp cho công tác hội nhập.
2.4. Đổi mới chương trình đào tạo tiến sĩ.
Chương trình đào tạo phải giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và thực
hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, giải quyết những vấn đề khoa học và
hướng dẫn hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực pháp luật do nghiên cứu sinh lựa chọn.
Về kiến thức, chương trình đào tạo phải bảo đảm hoàn chỉnh kiến thức pháp lý cơ bản
cho nghiên cứu sinh, cung cấp những kiến thức lý luận và thực tiễn chuyên sâu.
Để khắc phục được những khiếm khuyết, bất cập của quá trình đào tạo tiến sĩ đã nêu ở
trên, các cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh luật ở Việt Nam cần thực hiện những phương hướng
và giải pháp cụ thể như sau:
+ Đổi mới việc định hướng, phê duyệt các đề tài luận án tiến sĩ.
- Các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật, đặc biệt là các tiểu ban chuyên môn, sẽ chủ động hơn
trong việc định hướng các đề tài luận án tiến sĩ cho các nghiên cứu sinh lựa chọn.
- Các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật khuyến khích các nghiên cứu sinh chủ động đề
xuất các đề tài luận án đáp ứng các yêu cầu của lý luận và thực tiễn hoặc giải quyết các
vấn đề cấp bách trong thực tiễn.
- Việc tuyển nghiên cứu sinh nên chủ yếu dựa vào trình độ chuyên môn và khả năng
nghiên cứu của các ứng viên (thể hiện qua đề cương luận án); Không nên tổ chức thi
môn chuyên ngành và ngoại ngữ. Các ứng viên chỉ cần trình chứng chỉ ngoại ngữ của
những cơ sở đào tạo có uy tín.
- Việc phê duyệt đề tài luận án cần được các tiểu ban chuyên ngành, khoa sau đại học
và Hiệu trưởng thực hiện một cách nhanh gọn, kịp thời và dựa trên những căn cứ xác
đáng, tránh trùng lặp.
- Các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật khuyến khích, động viên nghiên cứu sinh sử dụng
phương pháp so sánh, đối chiếu pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước khác
hoặc pháp luật quốc tế trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án.
- Các tiểu ban chuyên môn thường xuyên cập nhật và đổi mới việc định hướng các đề
tài luận án cho phù hợp với yêu cầu mới của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, xây
mà trường đã đề ra.
c) Người hướng dẫn không áp đặt quan điểm của mình đối với nghiên cứu sinh nhưng
cũng không để nghiên cứu sinh tuỳ tiện thể hiện quan điểm của mình mà không có ý kiến
gì.
Người hướng dẫn chỉ có thể vận động nghiên cứu sinh đi theo các quan điểm của mình
trên cơ sở có lập luận, có dẫn chứng có sức thuyết phục chứ không áp đặt các quan
điểm của mình đối với nghiên cứu sinh. Nếu người hướng dẫn không quan tâm hướng
dẫn nhiệt tình nghiên cứu sinh làm luận án, để nghiên cứu sinh không viết được luận án có
chất lượng, không bảo vệ luận án đúng hạn thì người hướng dẫn cũng phải chịu một
phần trách nhiệm.
d) Tăng cường các yếu tố bảo đảm cho nghiên cứu sinh thực hiện tốt các quyền và
nghĩa vụ của họ.
- Các cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh cần thường xuyên nâng cao trình độ chuyên
môn, ngoại ngữ, tin học và cập nhật các vấn đề thời sự về lý luận và thực tiễn pháp lý để
hướng dẫn khoa học cho nghiên cứu sinh có chất lượng hơn;
- Đưa thêm một số môn học bắt buộc và tự chọn vào chương trình đào tạo tiến sĩ, thí
dụ như môn phương pháp nghiên cứu khoa học; Giáo dục tính tự giác và có cơ chế thích
hợp để rèn luyện phương thức tự học tập, tự nghiên cứu của nghiên cứu sinh;
- Các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật sẽ tiếp tục tăng cường và hiện đại hoá các cơ sở
vật chất và phương tiện kỹ thuật phục vụ cho việc đào tạo nghiên cứu sinh có chất lượng
(như thư viện, giảng đường, cơ sở dữ liệu, máy tính, máy sao chụp tài liệu, in ấn )
+ Đổi mới, cải tiến việc đánh giá luận án tiến sĩ.
- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện đúng quy định của Luật Giáo dục về việc
phân cấp cho Hiệu trưởng có quyền ra quyết định công nhận trúng tuyển nghiên cứu sinh,
ra quyết định thành lập Hội đồng Chấm luận án tiến sĩ cấp nhà nước, ra quyết định công
nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp.
- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo bỏ thủ tục phản biện độc lập đối với luận án của
nghiên cứu sinh bởi vì việc này không tôn trọng Hội đồng đánh giá luận án ở bộ môn và
làm kéo dài thời gian đánh giá kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh.
- Thực hiện thường xuyên việc khảo sát, học tập những kinh nghiệm tốt của các trường
ngành. Việc thi môn chuyên ngành với những yêu cầu về kiến thức cơ bản hoặc nâng cao
ở mức độ nhất định không thật sự cần thiết khi thí sinh đang có (hoặc đang làm việc
chuyên môn) ở đúng chuyên ngành đó (ví dụ thí sinh đang là giáo viên giảng dạy bộ môn
Luật kinh tế mà thi môn chuyên ngành là Luật kinh tế trong chuyên ngành Luật kinh tế),
càng không cần thiết và không công bằng nếu thí sinh đang làm việc và có hướng nghiên
cứu ở môn luật khác (ví dụ thí sinh có chuyên môn ở bộ môn Luật đất đai có nguyện vọng
làm đề tài về Luật đất đai nhưng vẫn phải dự thi môn Luật kinh tế bởi Luật đất đai thuộc
chuyên ngành Luật kinh tế). Hơn nữa, một môn thi khó có thể đánh giá được đầy đủ năng
lực nghiên cứu của thí sinh Do vậy, nên loại bỏ việc thi môn chuyên ngành đối với thí
sinh thi tuyển vào hệ nghiên cứu sinh.
Đối với nghiên cứu sinh, với chức năng chủ yếu là nghiên cứu, ngoại ngữ là điều kiện đặc
biệt cần thiết để có thể tham khảo tài liệu tiếng nước ngoài, tham gia hoạt động quốc tế về
chuyên môn để phục vụ nghiên cứu đề tài. Điều này càng quan trọng đối với một tiến sĩ
trong tương lai để có thể tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế. Do vậy việc đòi hỏi một
trình độ ngoại ngữ nhất định đối với thí sinh nghiên cứu sinh là một "điều kiện cần". Tuy
nhiên, không nhất thiết phải tổ chức thi môn ngoại ngữ qua kỳ thi tuyển nghiên cứu sinh,
mà xuất phát từ yếu tố kinh tế, có thể chỉ yêu cầu thí sinh chứng minh trình độ ngoại ngữ
qua một chứng chỉ quốc tế hoặc một hình thức khác, coi đó là một điều kiện để có thể dự
tuyển đào tạo tiến sĩ.
+ Về chuyên ngành đào tạo và đề tài tiến sĩ
Để đáp ứng yêu cầu về hội nhập quốc tế, những cơ sở đào tạo tiến sĩ luật chưa có
chuyên ngành Luật quốc tế cần sớm được bổ sung đào tạo chuyên ngành này, bởi đây là
chuyên ngành có đối tượng và nội dung là các môn luật liên quan trực tiếp đến hội nhập
quốc tế. Ngoài ra, các cơ sở đào tạo luật cần xây dựng danh mục các đề tài tiến sĩ ở từng
chuyên ngành căn cứ vào nhu cầu giải quyết những vấn đề cấp thiết đã và đang đặt ra
trong lĩnh vực khoa học, có các hình thức giới thiệu và khuyến khích việc lựa chọn các đề
tài tiến sĩ liên quan đến hội nhập quốc tế để tăng tỉ lệ các đề tài với nội dung này trên tổng
số các đề tài tiến sĩ. Chẳng hạn, hàng năm tiểu ban các chuyên ngành luật có thể xây
dựng những đề tài dạng này và giới thiệu trên trang Web để định hướng việc lựa chọn
của các thí sinh thi tuyển vào hệ nghiên cứu sinh, khi họ xác định hướng nghiên cứu và