ĐẠI HỌC QUỐC (JIA HẢ NỘI
KHOA LUẬT
¡50 <••*
BÙI THI PHIÍƠNG LAN
PHÁP LUẬT VỂ QUYÊN TÁC GIẢ
TRONG QUÀ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TÊ ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Quốc tè
Mã số: 5.05.12
LUẬN VÃN THẠC si LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG NGỌC GIAO
HÀ NỘI - 2003
MỤC LỤC
Chương 1: Một số vấn dể chung về bảo hộ quyền tác giả có yếu tỏ 06-36
nước ngoài
Trang
Phán mở đầu. 0 1 _06
/./
Khái quát về tác giả, quyên tác giả và việc bảo hộ quyền tác giả
06-19
1.1.1
Tác giả, chủ sở hữu tác phẩm
06-10
1.1.2
Quyền lác giả và bảo hộ quyền tác giả
10-19
1.2
Các quyên kê cận quy én tác giả
19-19
1.3
Quyến tác giả và hội nhập quốc tê
19-36
79-82
2.2
Thưc trạng bô máy thực thi bảo hộ quyền tác có yếu tô nước
ngoài ở Việt Nam.
82-98
2.2.1
Hệ thống cơ quan tham gja thực thi bảo hộ quyền tác giả ở Việt
Nam.
82-87
2.2.2
Thực trạng hoạt dộng cúa các cơ quan ihực thi bảo hộ quyển tác giả
ở Việt Nam hiện nay
87-98
("hương 3: Một sô' phuong hướng hoàn thiện pháp luật vẻ quyền tác giả
trong quá trinh hội nhập quốc tê ở Việt Nam
3. ỉ Thực trạng vi phạm quyến tác giả và xứ lý vi phạm quyển tác giả
ở Việt Nam hiện nay
1.1 Thực trạng vi phạm quyền tác giả
.V 1.2 Xứ lý vi phạm quyền lác giả
.12 Một sô giải pháp và khuyên nghị nhằm tăng cường bảo hộ quyền
tác gỉẩ trong quá trình hội nháp quốc tế ở Việt Nam hiện nay
3.2. ] Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ
quyền tác giả có yếu tố nước ngoài
3.2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quá thực thi pháp luật về bảo hộ
quyền tác giả Irong quá trình hội nhập quốc tế
3.2.3 Một số giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu cùa pháp luật quốc tế về
báo hộ quyền tác giả ở Việt Nam hiện nay
Phần kết luận
Danh mục tòi liệu tham khảo
99-123
Có thể nói, ngày nay trí tuệ, sản phẩm sáng tạo về tinh thần của C011 người
thể hiện qua hệ thống tri thức, được sử dụng có hiệu quả và rộng khắp trên thế
giới. Các quyền của nhũng người sáng tạo được công nhận là quyền cùa cá nhân
được phấp luật quốc gia, và pháp luật quốc tế bảo vệ.
Trong lĩnh vực quyên tác giả, những nãm gần đày với việc sử dụng và áp
dụng neày càng rộng rãi những tác phẩm vãn học nghẹ thuật, công nghệ thông
tin việc thực hiện và quàn lý các quyền cá nhân đối với tác phẩm thuộc về sở
hữu trí tuệ này ngày càng gặp phải những thách thức mới. Bảo hộ quốc tế quyền
sỏ' hữu trí luệ nói chung, quyền tác giả nói riêng đã trở nên cấp thiết khi mà xu
hướng ihưưng mại trẽn thế giới đã mở rộng từ lĩnh vực hàng hoá sang lĩnh vực
dịch vụ và sở hfru trí tuệ.
Với xu hướng giao lưu dân sạ quốc tế phát triển ngày càng mạnh mẽ, trong
lĩnh vực bão hộ quyền sở hữu tri tuệ, các quốc gia đều nhận thức được vai trò và
tấm quan trọng của cơ chế hao hộ quyền tác giả trong sự phát triển kinh tế xã hội
cũng như trong lĩnh vực khoa học, công nghệ. Ớ Việt Nam, báo hộ quyền tác giả
nói chung, quyền tác giả có yếu tố nước ngoài nói riêng là một vấn đồ có tính
thời sự, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, nhâì là khi Đảng và Nhà nước ta
chủ trương hội nhập quốc tế và khu vực.
Có thế nói, hệ thống Pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả được
hình thành và đang dần hoàn Ihiện cho phù hợp với pháp luật quốc tế. Hiến pháp
nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 - Văn bản pháp ]ý tối cao của nhà nưỡc ta
ghi nhận lại Điều 60: "Cóng dán cố quyển nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát
minh, súIIo chế, seing kiên cải liến kỹ thuật, lu/p lý hoá sản xuất, sáng tác, phê
bình vãn học, nghệ thuật IV/ tham gia các hoại động văn hoá khác. Nhà nước
hảo hộ quyền tác I>iá và quyển sà hữu côn# n g h iệ p Trên cơ sở quy định tại
Hiến pháp, quyển tác giả và bảo hộ quyền tác giả được quv định trong nhiều văn
bán pháp luật khác, đó là Bộ luật Dân s ự Việt Nam (tại Chương 1, Phẩn thứ 6),
Bộ luật Hình sự; lại các luật chuyên ngành như Luật Báo chí, Luật Xuất bản,
Luật Di sản vãn hoá, Pháp lệnh Quang cáo, Bên cạnh đó là các vãn bản của
1. Tính cấp thiết của đề tài.
hội cua đát nước.
Đè chuấn bị cho sư ạia nhập cùa Việt Nam vào Tổ chức thươnũ !tụii Ilié
iỊÌỚi WTO. ironu lĩnh vực sở hữu trí tuệ, chúng ta đang liến hành bó smtH
nhữnụ quy đinh pháp luậl về báo hộ quyển sớ hữu trí luệ. đặc hiệt ià lĩnh vực
quyền tác giả có vếu tô nước ngoài. Với những lv do irôn, chúnu tôi dã choi ì
đề tài nghiên cứu "Pháp luật về quyền tác già trong quá trình hội nhap
(ỊIIOC tè ó Việt
2
2. Tình hình nghiên cứu.
Cỏ thể nói trong rình vực quyền tác gia, số lượng các công trình nghicn
cứu về lĩnh vực này không nhiều, trong đó có thể kể đến một sô' công trình khoa
học nghiên cứu về pháp ỉuật vổ sở hữu trí tuệ như: Pháp luật xuất bản ở Việt
nam, quá trình thực hiện và dổi mới trong điều kiện cơ chế thị trường định
hưữtiỊỊ XỈỈCN - Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Vũ Mạnh Chu; Các khía
cạnh Luật ('ông ty và Luật háo vệ sở hữu trí tuệ của quá trình chuyển giao CÔỈĨÍỊ
Iiạhệ (Ịn ố c tê iliông qua doanh nghiệp liền cloanh với nước ngoài - Luận án TS
Luật học cùa lác giá Phạm Duy Nghĩa; Hoàn thiện pháp luật báo hộ quyền sở
hữu tri tuệ cua Việt Nam trong liến trình hội nhập quốc tế - Đề tài NCKH đặc
biệt. Đại học Quốc gia Hà Nội do PGS.TS. Nguyên Bá Diễn chủ trì (200ỉ -
2003)
Trong những công trinh nghiên cứu này, các tác giả thường tập trung
vào một số lĩnh vực, đối tượng cụ thế hoặc một khía cạnh nào đó của quyẻn
sớ hữu Irí tuệ, chứ chưa có công trình nào đề cập một cách tổng quan và hệ
thống về quyền tác giả có yếu tố nước ngoài trong điều kiện Việt Nam hội
nhâp quốc tế. Luận văn này lập trung nghiên cứu về vấn đề đó.
3. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích của cté tài dược tiếp cận nhằm có được cái nhìn tổng quan vé
pháp luật vé quyền tác giả, thực trạng bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước
nạoài, tìm ra những bất cập trong các quy định của pháp luật và thực tiễn áp
dụng để đưa ra giải pháp nhàm hoàn thiện pháp luật trong nước vé lĩnh vực bảo
Bèn cạnh đó, tác giá còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như
phương pháp phân tích tống hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê
6. Nhũng dóng góp của dề tài.
Đáy là công trình nghiên ciru có tính chất tổng quan về quyền tác giả, là
công trình nghiên cứu đầu tiên trong khoa học pháp lv nước ta nghiên cứu một
cách hệ thống về quyền tác giả và báo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài.
Trên cư sở lý luận và thực tiền về quyền tác giả và thực thi quyền lác giả ở
Việi Nam hiện nay, luận vãn sẽ đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy
dinh của pháp luật Việt Nam về bao hộ quyền tác giả trong quá trình hội nhập
với quốc lê, góp phần thúc đấy quá trình tham gia Điều ước quốc tế cơ bản về
quyền tác giả, cũng như quá Irình gia nhập các tổ chức quốc tế cua Việt Nam.
Nhũng kết quá nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần tao ra một bức tranh
tống thổ về bảo hộ quycn tác giả trong Tư pháp quốc tế trong quá trình hội nhập
quốc tê ớ Việt Nam, đổns thời sẽ là tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác
.5
nghiên cứu, giảng dạy cũng như các nhà hoạt động pháp luật thực tiễn trong lĩnh
vực sở hữu trí tuệ.
7. Cư cáu của luận vãn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được chia thành 3 chương:
Chương ì - Một sô' vấn àề chung vê bảo hộ quyển tác giá có yểu íô nước
ngoài
Chương 2- Hệ thống pháp luật và bộ máy thực thi quyền tác giá Củ yếu tổ
nước ngoài ủ Việt Nam hiện nay
Chương 3 - Một số phương hướng hoàn thiện Pháp luật về quyền tác già
ĩrong quá trình hội nhập quốc tê ở Việt Nam
6
CHƯƠNG 1
Tác giả, theo qui định cùa pháp luật hiện hành là “người trực liếp sáng tạo
loàn bộ hoặc một phẩn tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học” (Khoản 1 Điều
745 BLDS 1995).
Từ những giải thích, định nghĩa Irên có thể nhận thấy, xét về nguồn gốc,
tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một sản phẩm trí tuệ, là “cha sinh, mẹ đẻ"
của tác phẩm thuộc các lĩnh vực văn học, nghệ thuật hoặc khoa học. Khác với các
lao động sản xuất đưn thuần khác, đặc Irưng của lao động trí óc này là tạo ra sản
phẩm trí luệ và thể hiện nó một cách hữu hình.
Một người được coi là tác giả của một tác phẩm khi tác phẩm đó được hình
Ihành dưới một hình thức vật chất nhất định và phải “cớ lính sáng tạo”, và được
người này sáng tạo “trực tiếp” . Tính “trực tiếp” ở dây có thể hiểu là lính nguyên
gốc của tác phẩm do chính tác giả đã sáng tạo ra, chứ không phải là sự sao chép
từ một lác phẩm nào đó của một người nào đó. Tác phẩm phải là thành quả của
quá trình lao động trí óc của chính bản thân người tạo ra nó - tác giả. Tính “sáng
tạo” đòi hỏi tác phẩm đó phải có tính mới hoặc về ý tưởng hoặc về hình ihức mà
nó thể hiện. Có như vậy, người này mới được coi là lác giả - là chủ sở hữu của lác
phẩm đó và có đầy đủ các quyền của một sở hữu chủ đối với tác phẩm của mình,
mà theo qui định cùa pháp luật đó là quyén tác giả.
Như vậy, cổ thể hiểu lác giả là người trực tiếp sáng tạo ra mộl tác phẩm trí
Uiệ và thể hiện nó dưứi một dạng vật chất nhất định thuộc một trong các thể loại
văn học, nghệ thuật hoặc khoa học.
Tác giả phái sinh. Thực tô' sinh động của đời sống văn hoá xã hội cho thấy
có những tác phẩm được sáng tạo khổng xuất phát lừ ý tưửng đầu tiên mà được
hình thành lừ một lác phẩm nguyôn gốc nào dó. Những người sáng tạo ra loại tác
phẩm này được coi là tác giả phái sinh - tức là những người mà hoại động trí luệ
của họ đổu dựa trên tác phẩm gốc của tác giả khác đổ tạo ra một tác phẩm mới.
Tuy nhiên, tác phẩm phái sinh được hình thành khống phải là sự sao chép lác
phẩm gốc mà tác phẩm phái sinh này phải đáp ứng được tính mới, lính sáng tạo
vổ hình thức, thì người sáng tạo tác phẩm đó mới được coi là tác giả của lác phẩm
phái sinh. Các quyén của các tác giả phái sinh không ảnh hưởng dến quyén tác
quan, hộ thống vé một lĩnh vực nào đó. Tuy nhiên, vỉộc biên soạn, tuyển chọn tác
phẩm không chỉ dừng lại ở đó, mà viộc biên soạn, tuyển chọn tác phẩm phải có lính
sáng tạo, có như vây mới được coi là tác giả theo đúng nghĩa. Tính sáng tạo của
người biôn soạn, tuyển chọn tác phẩm đòi hỏi người làm công tác này phải là người
có trình độ, am hiểu sáu rộng về lĩnh vực mà tác phẩm thể hiện để có sự so sánh
đối chiếu và chọn lọc tác phẩm điển hình giữa vô vàn các tác phẩm khác. Chú giải
là việc làm rõ nghĩa của một số từ, câu, đoạn vãn về một địa danh đưực thể hiện
trcn một tác phẩm nào đó nhằm giúp người đọc hiểu rõ được ý tưởng của tác giả.
G ) thể hiổu tác giả phái sinh là người tạo ra một tác phẩm mới có tính sáng
tạo dựa trên các ý iưỏng của tác phẩm gốc đã có sẵn và khi thực hiện hoạt động
sáng tạo trí tuệ này họ phải lôn trọng các quyền của tác giả và luàn iheo các qui
định của pháp luậl về bản quyền.
9
Đồng tác giả. Tác giả có thể sáng tạo toàn bộ hoặc một phần lác phẩm văn
học, nghệ thuật, khoa học bởi lẽ cảm hứng sáng tạo nhiều khi không phải từ một
người, mà có thể từ một nhóm người. Hiện tượng có lì nhất hai người cùng sáng
lạo ra một lác phẩm được gọi là đổng tác giả của tác phẩm đó, và đồng thời là chủ
sở hữu chung của lác phẩm đó, trừ trường hợp việc sáng tạo lác phẩm íà do thực
hiện một hơp đổng, hoặc thực hiện nhiệm vụ. Các đồng tác giả có các quyền lợi
tương ứng với phần tác phẩm mà mồi người đã tạo ra.
Chủ sở hữu tác phẩm (chủ sờ hữu quyền tác giả): Để khuyến khích các
hoạt động sáng tạo trí tuệ, cá nhàn có (oàn quyền tự do sáng tạo các tác phẩm văn
học, nghệ thuật, khoa học phù hợp với pháp luật và quy chuẩn đạo đức xã hội.
Thông thường, một người sáng tạo ra một tác phẩm là tác giả của tác phẩm đó và
đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, tuy nhiên cũng có những trường hợp tác giả
không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm. Đó là các trường hợp:
Thứ nhất, việc lạo ra một lác phẩm để hoàn thành nghĩa vụ trong hợp đồng
với tổ chức, cá nhãn khác. Các tổ chức, cá nhân có quyền thuê một người khác
sáng tạo mội tác phẩm cho riêng mình dưới hình thức giao kết hợp đổng sáng lạo
tác phẩm. Và đo vậy tổ chức, cá nhân này chính là chủ sở hữu của tác phẩm;
quyền nhân ihân nhất định như quyén công bố, phổ biến, cho phcp hoặc không
cho phép người khác sử dụng tác phẩm của mình (theo pháp luật Việt Nam).
Như vậy, có thổ hiểu chủ sở hữu tác phẩm là người không trực tiếp tạo ra tác
phẩm nhưng có một số quyền (chủ yếu là quyền vật chất) Ihuộc bàn quyền tấc giả,
và quyền này hình thành trên cư sở đổng giao việc, hợp đồng chuyển giao các
quyổn sở hữu tác phẩm, hoặc do được thừa kế quyền sở hữu lác phẩm.
Thực tế cho thấy, tác phẩm - tài sản trí tuệ - dối tượng đặc biệt trong các
giao dịch dân sự (mua, bán, tặng, cho, thừa kế), với tính chất là mộl tài sản phi vật
chất, các tác phẩm trí tuệ rất dễ bị người khác sử dụng nôn rất cần được pháp luật
hảo vệ. V ì vậy, pháp luật quốc eia và quốc tế đã xây dựng hệ thống quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vục tác giả và quyền sở hữu
tác phẩm, đó chính là quyền tác giả.
Vậy tác giả có những quyền gì đối với tác phẩm do mình tạo ra? phạm vi
và đối tượng bảo hộ của quyén này được hiểu như thế nào?
1.1.2 Quyền tác giả và bảo hộ quyên tác giả.
Dựa trên nguyên tắc tác giả có quyền hưởng thụ thành quả lao động của
mình, và cũng để khuyến khích vồ tinh thần cũng như vẻ kinh tế để có những
sáng tạo mới đóng góp vào việc thúc đẩy xã hội tiến bộ, các quốc gia (đặc biệt là
ở các nước phát triển) trong hệ thống pháp luật của minh đều xây dựng các quy
phạm pháp luật về quyền tác giả (còn gọi là luật bản quyền).
Là một nhánh của hô thống pháp luật của quốc gia, luật bản quyền diều
chỉnh các quan hệ phái sinh trong hoạt động sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học và nhằm bảo vê quyén lợi của tác giả - người sản sinh ra các sản phẩm trí
11
tuệ. Như vậy có thể hiểu bảo hộ quyền tác giả là việc bảo vệ các quyền và lợi ích hựp
pháp cùa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả chống lại mọi hành vi xâm phạm.
Quyồn lác giả phát sinh từ ihời điổm một tác phẩm được hình thành dưới
một dạng vật chất nhất định, tức là nguy sau khi hoạt động sáng tạo trí luệ được
tạo ra và thể hiện dưới dạng tác phẩm hữu hình đã khẳng định quyền lác giả của
người sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ đó, quyển này phái sinh không phụ thuộc vào
quyền tài sản - quyền độc quyền của tác giả dối với việc cho phép người khác sử
dụng lác phẩm của inình; một số nước khác gọi đó là luật quyền tác giả -
Author’s right với nghĩa đầy đủ của quyền dân sự, tức là bao gồm quyền nhân
thân và quyền tài sản. Khái niệm quyền tác giả ở Việt Nam đưực tiếp cận dưới
góc độ này.
Quyển nhân thán đối với tác phẩm luôn gắn liồn với tác giả, theo đó các
quyền nhân thân thuộc quyền tác giả gồm có: Quyền đặt tên cho tác phẩm;
Quyền đứng tên tác phẩm; Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm; và theo pháp
luật Việt Nam, ngoài những quyền trốn, quyền nhân thân của tác giả còn bao gồm
quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm; quyền
cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm của mình (điểm c, d Khoản 1
Điều 751 BLDS).
Chúng ta đều biết mỗi tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được hình
thành là kết quả của một quá trình sáng tạo, của lao động trí tuộ của tác giả, do đỏ
khi “đứa con tinh thần” của mình đã thành hình, tác giả đương nhiên có quyền
đặt tên cho tác phẩm đó. Việc ghi nhận quyền đặt tên cho tác phẩm không chỉ
nhằm khẳng định quyền nhân thân của tác giả đối với lác phẩm dó mà còn giúp
phân biệt giữa các tác phẩm với nhau.
Về nguyên tắc, một tác phẩm được hình thành luôn gắn lién với tác giả đã
sản sinh ra nó, và người này có toàn quyền đứng lôn ihật hoặc bút danh đối với
tác phẩm này. Như vậy, việc đặt tên cho tác phẩm là nhằm phân biệt các tác
phẩm, còn việc đúng tên lác giả trên tác phẩm nhằm cá biệt hoá giữa các tác giả
với nhau. Nội dung của quyền nhân thân này đặc biệt có ý nghĩa và quan trọng
khi có tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm, Ĩ1Ó là căn cứ để CƯ quan có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp xác định ai là người đã tạo ra tác phẩm.
Nhằm chống lại việc Ihay đổi, sửa chữa, hay bất kỳ hành vi nào làm sai
Iộch nội dung tác phẩm khi được đưa ra sử dụng phổ biến, tác giả có quyền bảo vệ
sự loàn vẹn của tác phẩm, có quyền cho phép hay không cho phcp người khác sửa
đổi nội dung tác phẩm. Mục đích của việc ghi nhận quyền này là nhằm bảo vệ
ihanh danh của tác giả. Bởi lẽ, khi thực hiện hoạt động lao động sáng tạo này, tác
Quyền tài sản.
Bên cạnh các lợi ích tinh thần trôn đây, pháp luậi các nước đều quyđịnh tác
giả có quyền hưởng các lọi ích vật chất từ thành quả lao động sáng tạo trí tuệ của
mình. Theo đó, quyền tài sản của tác giả được quy định gổm những quyền sau:
Một là, quyền hưởng nhuận bút - quyền tài sản phổ biến của tác giả. Cũng
như các quyền tài sản khác, quyền hưừng nhuận bút nhằm mục đích khuyến khích
về vật chất cho tác giả trong các hoại động sáng tạo trí tuệ. về nội dung này, Nhà
nước Việt Nam đã ban hành một văn bản quy định về tiền nhuận hút cho tác giả,
đó ià Nghị định số 59/HĐBT ngày 5/6/1989 của Hội đồng bộ trưởng (nay là
Chính phủ) về chế độ nhuận búi đối với các lác phẩm chính trị - xã hội, văn hoá -
giáo dục, văn học - nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật.
14
Ị ỉ ai là, quyền được hưởng thừ lao khi tác phẩm được sử dụng. Ngoài việc
dược hưởng nhuận búi, tác giả có quyén hường một khoán chi phí nhất định (thù
lao) khi tác phẩm của mình được sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào. Tuỳ theo
từng loại hình mà tác phẩm đưực sử dụng dưới hình thức xuất bản, tái bản, trưng
bày, triển lãm, biểu diỗn, phát thanh, truyổn hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh
Trên cơ sở hợp đổng sử dụng tác phẩm như thế nào (sử dụng toàn bộ hay một
phần tác phẩm) mà những người sử dụng (dịch giả, người phóng tác, cải biôn,
chuyển thể, cho thuê ) có nghĩa vụ phải trả cho tác giả đổng Ihời là chủ sở hữu
tác phẩm một khoản lợi ích vật chất như đã thoả Ihuận tại hợp dồng.
Ba là, quyền nhận giải thưởng. Nhằm khuyến khích sự sáng tạo cá nhân,
các quốc gia thường tổ chức Irao giải thưởng hàng năm cho các tác phẩm văn học,
nghệ thuật, khoa học, theo đó tác giả được quyền nhận giải thưởng đối với tác
phẩm mà mình đã sáng tạo ra. Tuy nhiên, Pháp luật qui định chỉ trao giải thưởng
cho các tác phẩm thuộc đối tượng được Nhà nước bảo hộ, những lác phẩm có nội
dung chống lại Nhà nước, đi ngược lợi ích quốc gia, hoặc vi phạm các chuẩn mực
xã hội không được thừa nhận và bảo hộ thì đương nhiôn không dược quyền nhận
giải thưởng.
Như vậy, các quyền nhân ihân và quyền tài sản của lác giả đồng thời là chủ
bảo hộ quyền tác giả, đó là những tác phẩm có nội dung vi phạm pháp luật, di
ngược lại lợi ích Nhà nước, lợi ích chung của xã hội.
Vê phạm vi bảo hộ quyền tác giả là các tác phẩm thuộc các lĩnh vực văn
học, nghệ thuật, khoa học dược thể hiện dưói một dạng vật chất nào đó.
Sử dụng hợp ỉý hay còn gọi là giới hạn bảo hộ.
Phần lớn các nước đéu ghi nhận và bảo hộ quyền cùa tác giả đối với những
sản phẩm trí tuệ hữu hình, mà không bảo hộ ý tưởng của tác giả. Bởi nếu bảo hộ ý
lường SC hạn chế tính sáng tạo của công dân, mà mục đích chính của luật bản
quyền là khuyến khích con người tạo ra được những tác phẩm mới.
Như vậy, một người có thể sử ciụng ý tưởng của tác phẩm có sẩn để tạo ra
lác phẩm khác (tức là ý tường của tác phẩm gốc đã dược ihổ hiện dưới rnộl hình
thức khác) mà không bị coi là xâm phạm quyền tác giả của tác giả đối với tác
phẩm gốc. Tuy nhiên, việc sử dụng ý tưởng của lác phẩm gốc phải nhằm tạo ra
một tác phẩm có tính mới, tính sáng tạo và phải luân theo một thủ íục luật định.
Trong trường hợp này, tính mới, tính sáng tạo có thể được thể hiên ở viộc lựa
chọn, sắp xếp từ ngữ, nốt nhạc, màu sắc Bất cứ mộl hành vi sao chép, chiếm
đoạl và sử dụng hình thức đã được thể hiện ở một lác phẩm nguycn gốc mà không
được phép của lác giả đều là hành vi vi phạm luật bản quyén và phải chịu những
biện pháp xử phạt và chế lài tương ứng.
Để xác định một trường hợp được coi là “sử dụng hợp lý” người ta xem xét
việc sử dụng đó vổ: mục đích và đặc diổm của việc sử dụng; bản chất của tác
phẩm được bảo hộ; số lượng và thực chất của phần được sử dụng trong tác phẩm
được hảo hộ như là một tổng thổ; và ảnh hưởng của việc sử dụng dối với tiềm
16
năng thị trường hoặc đối với giá trị của tác phẩm được bảo hộ. Một số nước quí
định rõ số lượng của phần được sử dụng trong tác phẩm (số từ, đoạn vãn, số
trang ) mà nếu sử dụng quá phần được qui định thì bị coi là xâm phạm bản
quyền. (V í dụ, LBQ Anh quốc chì cho phép người đọc copy tới 10% nhưng không
được quá một chương của một cuốn sách)
Pháp luật quyền tác giả không bảo hộ những thòng tin chứa trong lác
cạnh nào của mội buổi biổu diễn của một vờ sân khấu được coi là thổ hiện dưới
dạng hữu hình. Tức là sẽ khó khăn trong việc bảo hộ các lác phẩm ứng khẩu (đặc
biệt là trong lĩnh vực âm nhạc, hài phát biổu, các bài Ihơ ứng biến, kịch ). V í dụ,
dối với việc ghi âm buổi biểu diễn thì quyền đối với bản ghi đó phải là ihuôc về
người tạo ra bản ghi chứ không thuộc về tác phẩm.
Thứ hai, /ác phẩm là kết quả lao động trí tuệ nguyên gốc. Các ý iưởng
Irong Lác phẩm không cần mới nhưng hình thức thể hiện các ý tưởng phải là kết
quả quá trình lao động sáng tạo trực tiếp của tác giả, tức là ihành quả lao động
của chính tác giả, không sao chép lừ tác phẩm của người khác. Công ước Beme
khống qui định nhưng pháp luật các nước trực tiếp hay gián tiếp đều khẳng định
Luậl Bản quyổn chỉ bảo hộ các tác phẩm có lính nguyên gốc. Bởi vậy có thể nói
tính nguyên gốc là yếu tố then chốt đối với bản quyền, và bảo hộ bản quyền
không lính đến chất lượng hoặc giá trị lác phẩm
Để một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả còn có những qui định vé tác
giả, vổ nơi sáng tạo, công bố tác phẩm. Đối với việc đãng kỷ tác phẩm, thực tế
cho thấy, pháp luật các nước đều thừa nhận bản quyền phát sinh ngay từ khi lác
phẩm được tạo ra và được thể hiện dưới một dạng vật chất nhất định, khồng cần
đãng ký để xác lập quyền như quyền sở hữu công nghiệp, tức là bảo hộ tự động.
Vổ nội dung này, LBQ Nhật Bản ghi nhân việc hưởng các quyền lợi của tác giả
“không qua một thủ tục nào chẳng hạn như đăng kỷ, khi tác phẩm được sáng tạo
ra, tác giả sẽ lự động được hưởng các quyền này”. [5] Pháp luật Việt Nam cũng
quy định tương tự “Quyền tác giả phát sinh từ thời điểm lác phẩm được sáng lạo
dưới hỉnh thức nhất định” (Điều 754 BLDS).
Như vậy, việc đăng ký bản quyền là thuộc vé quyền lựa chọn của tác giả
chứ không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với họ. Tuy nhiên, pháp luậl khuyến
khích các tác giả, chủ sở hữu tác phẩm đăng ký tác phẩm lại cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền vì khi có tranh chấp phát sinh thì giấy chứng nhận đăng ký bản quyền
là điều kiện tiên quyết đổ bảo vệ quyền lợi cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, đồng
thời đó cũng là bằng chứng sơ khởi cho việc áp dụng các biên pháp xử lý hành vi
vi phạm bản quy ồn.
hình thức xử lý vi phạm quydn tác giả bao gồm những biện pháp sau:
- Ngăn chặn, chấm dứt hành vi tiếp tục vi phạm quyồn tác giả;
- Ngăn chặn sự lưu thông các sản phẩm do hành vi vi phạm bản quyền mà có;
- Tịch thu, ticu huỷ vật vi phạm, thiết bị được sử dụng đổ sản xuất hàng vi phạm;
- Buộc người có hành vi vi phạm hổi ihường thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu
tác phẩm.
Biện pháp hình sự cũng được sử dụng tại nhiéu nước vì hành vi cố ý vi
phạm bản quyền. LBQ Hoa Kỳ quy định “bất kỳ người nào mà xâm phạm một
cách cố ỷ quyền tác giả phục vụ cho mực đích lợi nhuận thương mai hoặc giành
cúc mục tiêu tài chính cá nhân sẽ bị phạt ỉu \ hình phạt tién được áp dụng với
mức cáo nhất khônR vượt quá 2.500ƯSD. Pháp luật của Việt Nam bên cạnh việc
19
áp dụng các biện pháp trôn còn buộc n^ười có hành vi vi phạm phải xin lỗi, cải
chính công khai. Qui định này nhằm khôi phục lại thanh danh cho lác giả.
1.2 C ác quyền kề cận quyền tác gỉả.
Quyền tác giả là một quyền đân sự đặc biệt có đối tượng điều chỉnh khá
rộng, ngoài các tác phẩm viết và nghệ thuật, quyền tác RÌả cũng điều chỉnh những
quan hệ liên quan đến các đối tượng trên, đó là các qui định về quyền kề cận, hay
còn gọi là quyền liên quan quyền tác giả. Đó là các quyén:
- Quyển ghi âm, ghi hình, sao chcp và phát thanh truyền hình buổi biểu diễn
của những người biổu diễn;
- Quyền sao chép, phân phối các bản ghi âm cùa các nhà sản xuất bản ghi âm;
- Quyền ghì âm, ghi hlnh, sao chép và phát lại các buổi phát (hanh, truyén
hình của các tổ chức phát thanh truyền hình.
Sở dĩ pháp luật qui định các quyền liên quan quyền tác giả vì chúng ta đều
biết một tác phẩm trí tuệ - kết tinh của hoạt động sáng tạo trí óc, được thổ hiện
dưới rất nhiều hình thức. V í dụ, một đĩa nhạc gồm một bài hát dược sản xuất tại
ức có ihổ phát sinh những quyền sau: quyền của người viết nhạc (“tấc phẩm âm
nhạc” được Ihừa nhận theo Công ước Bemc); quyền của người viết lời (“tác phẩm
viếl” dược thừa nhận theo Công ước Beme); quyền của người biểu điỗn/ca sĩ
quốc tế về quyền tác giả nói riêng ở Việt Nam phải được xác định trên cơ sở
nghiên cứu tình hình thực tiễn quốc tế và nhu cầu trong nước dể có những bước đi
hợp lý, chuẩn bị tốt cho việc gia nhập có hiệu quả vào các liên kết kinh lế khu vực
và toàn cầu, đặc biệt là xúc tiến ký kết các Điều ước quốc tế trong cam kếl của lộ
trình gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
1.3.1 Quyền tác giả c ó yếu tố nưóc ngoài.
Hộ quả của quá trình hội nhập quốc tế về quyồn tác giả đã làm đa dạng
boá chủ thể cũng như những yếu tố khác tham gia vào quan hệ quyền tác giả,
các nội dung của quyền tác giả không còn bó hẹp trong phạm vi Ịânh thổ một
quốc gia mà viộc giải quyết các vấn đề phái sinh trong hoạt động (hực thi bảo hô
quốc tế quyền tác giả liên quan đến nhiẻu quốc gia, nhiều hệ thống pháp luật,
tức là xuất hiện “yếu tố nước ngoài" trong quan hê quyền tác giả. Là một Cịuan
hệ dãn sự đặc biệt, quyền tác giả có yếu tố nước ngoài thể hiện ở những khía
cạnh sau:
Thứ nhất, về chủ thể. Tác giả có thể ỉà ngưừi nước ngoài, pháp nhân nước
ngoài có tác phẩm được cổng bố lần dầu tại Việt Nam hoặc tác phẩm được sáng
tạo và thổ hiện dưới hình thức vật chất nhấi định trên lãnh thổ Việt Nam; tác già
là công dân, pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam sáng tạo tác phẩm hoặc công
bố tác phẩm b nước ngoài.
Thứ hai, đối tượng của quyền tác giả. Tác phẩm của công dân, pháp nhàn
Việt Nam dược sáng tạo hoặc công bố ở ngoài lãnh thổ Việl Nam, tức là sự kiện
21
pháp lý và khách thổ của quan hộ quyền tác giả xảy ra ở nước ngoài; Tác phẩm
của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được sáng tạo hoặc công bố lần đầu
ở Việt Nam. Cụ thể, Điều 836 BLDS quy định tác phẩm của cá nhân, tổ chức
nước ngoài được sáng tác ở Việt Nam hoặc được cống bố, phổ biến lần đẩu tại
Việi Nam được hảo hộ theo qui định của pháp luậi Việt Nam và các điều ước
quốc tô' mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết.
Thứ ba, về áp dụng luật.
Là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của quốc gia, Tư pháp