Những bài làm văn hay phân tích tác phẩm văn học lớp 11 - Pdf 22

TRƯỜNG THPT VŨNG TÀU LỚP 11A3
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
MÔN NGỮ VĂN 11 – HKI (2011 – 2012)

A – TÁC PHẨM VĂN HỌC. NHỮNG BÀI VĂN THAM KHẢO
CHỦ ĐỀ 1: TRUYỆN NGẮN CHÍ PHÈO – NAM CAO
Đề Bài: Phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam
Cao để làm nổi bật tấn bi kịch của Chí Phèo.
Bài Làm Tham Khảo
Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc nhất của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945. Sáng tác của ông đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử
thách lại càng ngời sáng. Người trí thức và nông dân nghèo là hình ảnh quen thuộc trong các tác
phẩm của ông. “Chí Phèo” là một tác phẩm được xem là kiệt tác của nhà văn Nam Cao, kết tinh
đầy tài năng nghệ thuật, cái nhìn hiện thực sắc sảo và tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn.
Đặc biệt, ở đó, Nam Cao đã khá thành công khi miêu tả diễn biến tâm lý và hành động của Chí
Phèo để làm bật lên tấn bi kịch của nhân vật này – một nhân vật người nông dân bị tha hóa điển
hình trong xã hội thực dân nửa phong kiến.
Thật vậy, Chí Phèo là một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã
hội cũ. Trước tiên là bi kịch con người bị tha hóa. Chí Phèo vốn là một đứa con hoang bị bỏ rơi
trong cái lò gạch cũ, và may mắn được một người đi thả ống lươn nhặt về. Sau đó, Chí được
mọi người truyền tay nhau nuôi nấng. Lớn lên, Chí sống bơ vơ, không nơi nương tựa, không
người thân thích. Đó là một tuổi thơ đầy bất hạnh! Năm 20 tuổi, Chí làm canh điền cho Bá Kiến
– một chàng trai nông dân “hiền như đất” và chất phác, thật thà. Nếu không có những biến động
xã hội bên ngoài thì cuộc sống của Chí Phèo cứ bình dị trôi qua. Nỗi khao khát giản dị có một
gia đình nhỏ bé, hạnh phúc “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải” luôn thường trực trong Chí,
để sau này khi mọi thứ đều đổ vỡ thì đó là nỗi khắc khoải vô cùng tận trong suốt cuộc đời Chí.
Những chi tiết về quãng đời lương thiện của Chí được tác giả lướt qua hoặc đan xen trong các
đoạn hồi tưởng. “Hắn nhớ đến bà ba, cái con quỷ cái hay bắt hắn bóp chân mà lại cứ bắt bóp lên
trên, trên nữa Hắn thấy nhục hơn là thích!” Chính những chi tiết tưởng chừng nhỏ bé này lại
làm ánh lên được phẩm chất tốt đẹp của Chí: một người có lòng tự trọng và ý thức được về
nhân phẩm. Thế nhưng, chỉ vì một cơn ghen bóng gió của Bá Kiến mà Chí bị đẩy vào tù. Sau

Hắn sợ rượu như những người ốm sợ cơm.” Đó là điều rất lạ ở Chí. Từ tỉnh rượu, Chí Phèo dần
thức dậy ý thức vốn có của một người bình thường. Lần đầu tiên, anh ta nghe “tiếng chim hót
ríu rít bên ngoài, tiếng cười nói của những người đi chợ, tiếng gõ mái đuổi cá của anh thuyền
chài”. Tất cả những âm thanh ấy là những âm thanh quen thuộc của cuộc sống, là tiếng gọi tha
thiết của cuộc sống, len lỏi vào ngõ sâu trong tâm hồn Chí và đánh thức bản chất lương thiện ở
Chí. Chí còn biết ngoài cái lều ẩm thấp chỉ có hơi lờ mờ của mình, mặt trời chắc đã lên cao và
nắng bên ngoài chắc là rực rỡ. Cũng như những người say tỉnh dậy, Chí Phèo đã thấy miệng
đắng và lòng mơ hồ buồn. Nhưng với anh, đây là cảm giác, cảm xúc vừa được đánh thức. Khi
Chí Phèo nghe những âm thanh của cuộc sống và biết được trời sớm hay muộn cũng chính là
anh đã dần ý thức về cuộc sống. Rồi anh nhớ về quá khứ, rắng có một thời, đã ước mơ có một
cuộc sống gia đình nho nhỏ, Thông thường, người ta nhớ lại thời gian đã qua để hiểu về hiện
tại. Chí cũng vậy, hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay cho đời! Rồi Chí Phèo đã
hình dung được tương lai đầy bất trắc: Ở những người như hắn, chịu đựng biết bao là chất độc,
đầy đọa cực nhọc, mà chưa bao giờ ốm có thể là dấu hiệu báo rằng cơ thề đã hư hỏng nhiều. Chí
Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn: một tuổi già đau yếu, cô độc. Hắn dường
như sắp bật khóc lên được mất. Rõ ràng, khi đọc được đến đây tác phẩm, không ai nghĩ Chí
Phèo là con quỹ dữ lạnh lùng của làng Vũ Đại nữa. Một người không những giàu cảm xúc mà
còn ý thức có phần sâu sắc về cuộc đời. Với bản thân Chí Phèo, anh đã trở lại hoàn toàn con
đường tự ý thức.
Những ngày kế tiếp, Thị Nở sống chung với Chí Phèo. Anh ta ốm và Thị Nở trở thành
người duy nhất chăm sóc anh ta. Nhà văn không kể lể nhiều về sự chăm sóc đó mà dừng lại
miêu tả thật chi tiết bát cháo hành. Chí Phèo hết sức ngạc nhiên và xúc động khi nhận được bát
cháo hành mà Thị Nở mang sang cho hắn. Hắn dấy lên những đợt cảm xúc khó tả. Hắn cảm
nhận được rất nhiều: Lần đầu tiên trong đời hắn được một người đàn bà cho, hắn vừa vui vừa
buồn. Và rồi hắn nhận ra rằng cháo hành mới thơm, mới ngon làm sao! Không phải ngẫu nhiên
mà hắn lại cảm giác được như vậy, mà đó là sự hạnh phúc, niềm hạnh phúc vô cùng của Chí
Phèo. Chính Thị Nở là người đem lại hương vị cháo mà hắn cảm nhận được đó là hương vị của
tình yêu, hương vị của tình người bằng lòng yêu thương chân thành và mộc mạc. Như vậy, qua
bát cháo hành, Chí Phèo cảm nhận được sự chăm sóc yêu thương của người khác dành cho
mình và chính hắn cũng mong ước có niềm yêu thương ấy. Từ cảm nhận về tình yêu của Thị

Kiến – nguyên nhân chính gây nên bi kịch của đời mình. Hành động giết chết Bá Kiến của Chí
Phèo là đỉnh điểm của bi kịch cự tuyệt này. Đây là một hành động tất yếu của người dân khi họ
bị đẩy đến bước đường cùng. Và cái chết của Chí là cách lựa chọn duy nhất để Chí giải quyết
tấn bi kịch đời mình, bi kịch tha hóa, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, giải quyết sự bế tắc,
phẫn uất trong tâm hồn. Chí không chấp nhận mình trở về với cuộc sống tối tăm của quỷ dữ,
kiếp sống của thú vật. Thế là trước đây, để bám lấy sự sống, Chí Phèo đã từ bỏ nhân phẩm, bán
linh hồn cho quỷ; giờ đây ý thức về nhân phẩm thức dậy, linh hồn đã trở về, Chí Phèo lại phải
tự huỷ diệt cuộc sống của mình. Niềm khao khát sống lương thiện của Chí Phèo còn cao hơn cả
tính mạng. Vì thế, chết mà uất ức, vẫn còn muốn nói to với mọi người khát vọng của mình:
“khi người ta đến thì hắn cũng đã giãy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi. Mắt hắn trợn
ngược, mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói nhưng không ra tiếng ”. Cái chết của Chí Phèo là tiếng
chuông cảnh tỉnh cả một xã hội đầy rẫy định kiến, thiếu tình nhân hậu, bao dung, vừa đẩy người
ta đến chỗ tột cùng không lối thoát vừa không cho người ta cái cơ hội trở lại làm người. Nhà
văn Nam Cao đã phát hiện ra một phẩm chất của con người: dù bị đẩy đến đâu, đến bờ vực
thẳm thì bản chất lương thiện của họ vẫn luôn ngời sáng.
Thành công của tác phẩm “Chí Phèo” đã thể hiện tài năng truyện ngắn bậc thầy của nhà
văn Nam Cao: xây dựng thành công những nhân vật điển hình bất hủ; nghệ thuật miêu tả diễn
biến tâm lí nhân vật rất đặc sắc, tinh tế; kết cấu tác phẩm linh hoạt, đảo trật tự thời gian; ngôn
ngữ & giọng điệu dân dã, mộc mạc.
Khép lại truyện ngắn “Chí Phèo” – một kiệt tác của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại,
Nam Cao đã khát quát một hiện tượng xã hội ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng: một bộ
phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa. Nhà văn đã
kết án đanh thép cái xã hội tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nhân dân lao động; đồng thời
khẳng định bản chất lương thiện của họ, ngay trong khi họ bị vùi dập mất cả nhân hình, nhân
tính. “Chí Phèo” là một tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ - mãi
đọng lại trong lòng người đọc những dấu ấn khó phai mờ.
___HẾT___
3/22
CHỦ ĐỀ 2: TRUYỆN NGẮN “HAI ĐỨA TRẺ”_THẠCH LAM
Đề Bài 01: Phân tích tâm trạng chị em Liên cố thức để được nhìn chuyến tàu đi

quanh cuộc sống của Liên và An là màu tối, hai chị em luôn khao khát có một luồng ánh sáng
làm tan vỡ màn đêm u tịch. Cho nên đêm đêm, dù “An và Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt” nhưng
vẫn cố đợi chuyến tàu qua như “mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ của họ”.
Tất cả chỉ là mơ ước, là giấc mơ nhưng không rõ ràng cụ thể. Bằng việc tạo nên tình thương có
chuyến tàu đêm đi qua, ông muốn mang đến một niềm vui sống và những tia hi vọng mong
manh để xoa tan bầu không khí nặng nề luôn bủa vây lấy họ.
Toàn truyện có tới trên ba mươi chữ “tối” và những cụm từ chỉ màu tối, mới thấy được
không gian và cảnh sống thật xơ xác, tiêu điều. Cảnh của phố huyện may thay chỉ được thắp
sáng bằng những ánh đèn leo lét trong đêm như ánh đèn chị Tí hay gánh phở bác Siêu. Còn âm
thanh thì những lời bàn chuyện sinh nhai nhưng chỉ thoáng qua và lặn vào đêm tối. Tất cả như
đang chìm dần xuống, thu hẹp lại và những hoạt động cũng nặng nề ốm yếu. Chính vì vậy, tâm
trí Liên thường hướng về những ánh sáng xa vời nhằm tìm kiếm một thế giới khác trước mặt
chị. Ở đó cũng có thể tìm thấy những khoảnh khắc làm vơi đi nỗi đơn điệu của cuộc sống. “Qua
kẽ lá của cành bàng, ngàn sao vẫn lấp lánh, một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng
4/22
nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một.
Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”. Đối với một người chưa
hẳn đã trưởng thành như Liên thì đứng trước cảnh ấy cũng đã cảm thấy nhẹ lòng đi rồi, nhưng
Liên vẫn khát cái gì ồn ào, mạnh mẽ hơn. Vì vậy, hai chị em Liên và An luôn ham thích một
cách hồn hậu nhất hình ảnh của chuyến tàu đi qua phố huyện. Và khi tàu đến, như có một luồng
sức mạnh làm cho sự sống vốn lặng lẽ và tĩnh mịch ấy bừng tỉnh dậy. “Liên cũng trông thấy
ngọn lửa màu xanh biếc, sát mặt đất như ma trơi. Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vang lại, trong đêm
khuya kéo dài ra theo ngọn gió xa xôi ”. Hai chị em Liên và An chỉ mong chờ vậy, mong chờ
một sự đối lập với cuộc sống hằng ngày của hai chị em. “An nhỏm dậy, lấy tay dụi mắt cho tỉnh
hẳn. Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi. Một làn khói bừng sáng
trắng lên đàng xa, tiếp đến hành khách ồn ào khe khẽ ”. Đoàn tàu tạm thời đã xua tan bóng
đêm và sự tĩnh mịch ở phố huyện nghèo này, nhưng hơn tất cả, hai chị em Liên và An được tận
hưởng giây phút hiếm hoi nhất của một ngày. “Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm
than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo
trên toa sau cùng, xa mãi rồi khuất sa rặng tre”.

“Văn học là nhân học” (M.Gorki). Trong văn học, do vậy, vẻ đẹp nhân bản của con
người luôn luôn là một phương tiện thẩm mĩ mà ở đó chất thơ và chất hiện thực hoà quyện vớI
nhau. Để làm rõ điều vừa nói, “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam sẽ là một minh chứng. “Hai đứa
trẻ” vừa là bức tranh hiện thực phố huyện nghèo, vừa như một bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác
phẩm đã gieo vào lòng người đọc một nỗi buồn bâng khuâng day dứt về đời sống con người.
Bức tranh hiện thực nơi phố huyện nghèo xơ xác và lại càng xơ xác, tiêu điều hơn từ cái nhìn
của nhà văn. Đó là lúc hoàng hôn của một ngày tàn nơi miền quê “mặt trời đã lấp sau rặng tre,
nhìn lên chỉ thấy khóm tre màu đen kịt trên nền trời phớt hồng” dàn nhạc của ếch nhái bắt đầu
văng vẳng kêu ngòi đồng, thế cũng đủ làm thành cái buổi chiều êm như ru như bao chiều khác.
Như một mô típ nghệ thuật, cái phố huyện hẻo lánh lại hiện ra trong khung cảnh chợ vãn
của buổi chiều chỉ còn lèo tèo vài ba người bán hàng đang thu dọn gánh, vài đứa trẻ đi thu lượm
các thứ lặt vặt… Cái bức tranh ấy đã một lần hiện lên trong “Gió lạnh đầu mùa” nhưng sao nó
vẫn nhuốm một nỗi buồn khó tả vào cái giờ khắc của ngày tàn trong “Hai đứa trẻ”. Song bức
trang phố huyện ấy không chỉ là cảnh vật mà là bức tranh cuộc sống của con người. Một hiện
thực nơi miền quê hẻo lánh, một chút của chốn kinh thành được mang tới từ con tàu đêm đêm.
Cuộc sống phố huyện có gì? Đó là hoạt động kiếm sống của những người mang trong mắt Liên
dường như quá quen thuộc, mỗi người đã có một thói quen. Như bác phở Siêu, chị Tí, bố con
nhà hát sẩm, cụ Thi điên và ngay cả Liên. Việc chủ yếu cũng chỉ là nghe tiếng trống thu không
thì đóng cửa quán mà đợi chờ. Hiện thực không làm ta ngỡ ngàng đó là một phố huyện nghèo
với những người cần cù lao động một cách lầm lũi đáng thương. Nhưng tất cả những hiện thực
như thế đều đặt trong con mắt quan sát chất chứa trong chất văn lãng mạn.Thời gian đi vào cuộc
sống của phố huyện “rõ ràng” không vụt nhanh hoặc tan vào đêm tối. Thời gian cứ chậm rãi đi
từng bước phát triển của nội tâm. Từ “tiếng trống thu không” đến một câu văn nhẹ nhàng:
“Chiều, chiều rồi” cất lên trong lòng, rồi trời nhá nhem tối đến không gian đã khuya không còn
những “tạp âm”, của ban ngày chỉ còn “vòm trời với ngàn ngôi sao xanh ganh nhau lấp lánh”.
Mỗi thời điểm lại có một cái nhìn cảnh vật khác nhau nhưng đều có phần thi vị hoá nhờ những
câu văn tươi mát, uyển chuyển.
Có buổi chiều nào êm như ru trong cách nhìn của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng? Chỉ có
tâm hồn lãng mạn Thạch Lam mới có cái mượt mà đượm chất thơ như thế. Sự tài tình chính là ở
chỗ nhà văn vừa hoà nhập hai tâm hồn quan sát là một. Hiểu là nhà văn quan sát cũng đúng mà

về chắc chắn vẫn giữ được sự ấm áp quen thân dù rất buồn. Sự hài hoà giữa hiện thực và lãng
mạn đã giúp Thạch Lam có được chất văn nhẹ nhàng thanh thoát, ẩn hiện nhân cách tuyệt vời
của ông.
Trở lại với cảnh sinh hoạt ban đêm nơi phố huyện, chất lãng mạn không dừng lại ở cảnh
bao quát mà đắm lại ở những trang viết về chị em Liên. Đây chính lả điểm nhà văn đã tập trung
khắc hoạ. Liên gây ấn tượng bởi nội tâm sâu sắc, xuất phát từ một con người đa cảm. Khi màn
đêm đã bắt đầu buông xuống cũng chính là lúc Liên thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc
của ngày tàn. Cảm giác buồn ấy gợi lên từ cảnh phố huyện xơ xác buồn trong tiếng trống thu
không vang vọng như hút hồn người. Bất giác, một cảnh tượng làm chị không khỏi chạnh niềm
thương: đó là những chú bé nheo nhóc nhớn nhác giữa chợ đã vãng từ lâu để nhặt những mẫu
que kem và những gì còn có ích cho chúng. Ấn tượng đầu tiên là Liên có một tấm lòng chẳng
trẻ con chút nào. Tư thế của một người chị còn bé hơn thế nữa, nỗi lòng buồn báo hiệu một sự
“trưởng thành” về tâm sinh lí.
Bức tranh phố huyện nghèo hẻo lánh, ẩn khuất trong bóng tối hư vô của phố huyện.
Cuộc sống phố huyện đã ăn sâu trong tâm trí Liên. Tưởng như nếu có thiếu một thứ gì của cảnh
ngoài kìa, Liên đã thốt lên rồi. Nhưng tất cả vẫn thế, ngay cả tiếng cụ Thi đôi lúc làm cho Liên
sợ. Nhưng cảm giác thân thuộc vẫn thấy cụ đáng yêu và đáng thương. Từng cảnh đời, cảnh sống
của mỗi người lần lượt đi qua tâm hồn tưởng như non nớt của Liên. Cuộc sống của từng người
đã góp nên thành cuộc sống của cả một quần thể người dân quê nghèo khó. Từ những mảnh đời
cũng giống như Liên cùng chung môi trường sống, ta thấy một điểm chung rất rõ, đó là sự
quanh quẩn chật hẹp của môi trường xã hội. Ngày lại ngày vẫn chỉ là cái chợ tiêu điều, vài dãy
hàng quán với những khoảnh đất trống “Lá đa lác đác trước lều” và những “con người ấy” mà
thôi.
Nhưng ở Liên lại có một sự khác lạ mà trong số trên chẳng có ai. Một hành động tưởng
như quái gở và vô nghĩa, đó là “đợi tàu”. Nếu mẹ Liên ở đó chắc không cho cô thức. Nhưng đó
mới chính là chiều sâu của tác phẩm khi tác giả khắc hoạ hình ảnh Liên cùng em đợi tàu với
một niềm háo hức rất trẻ con.
Và con tàu đã đến đúng như sự mong mỏi, đợi chờ, như một thoáng niềm vui cũng chợt
tắt. Tàu hôm nay không đông khách, ánh sáng của toa tàu cũng kém đi. Điều đó càng làm lòng
Liên có một nỗi buồn vô hình xâm lấn. Con tàu vô cảm lầm lũi mang đến niềm vui duy nhất

thơ ca của ông với tất cả niềm thương yêu, quý trọng.
Thật đúng như vậy, Tú Xương đã không ngần ngại nói lên tình thương yêu của mình đối
với vợ ngay khi bà còn sống. Đây có thể nói là một bài thơ đặc sắc nhất khi viết về người vợ.
Xuyên suốt tác phẩm là hình ảnh của một người chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con;
thông qua đó, người đọc còn nhận ra một người chồng biết cảm thông, thương yêu và quý trọng
vợ.
Mở đầu bài thơ là hai câu thơ đề giới thiệu về nghề nghiệp của bà Tú cũng như trách
nhiệm nặng nề của bà đối với gia đình:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Buôn bán cũng là một nghề kiếm sống như mọi nghề khác. Thế nhưng việc buôn bán của bà Tú
thì không được vậy. Chẳng có cửa hàng, cửa hiệu, quán xá gì mà chỗ bà Tú “kinh doanh” là ở
“mom sông”. Đó là nơi rất lầy lội, cheo leo, nguy hiểm ở một xóm chợ nghèo ven con sông Vị
Hoàng, làng Vị Xuyên – quê hương của tác giả. Lèo tèo đôi ba gánh hàng, chỗ dành cho người
buôn thúng bán bưng, đồng vốn ít ỏi, lấy công làm lãi, chắc chắn thu nhập chẳng đáng là bao.
Thế mà công việc khó nhọc ấy, bà Tú không chỉ chịu đựng một hai buổi mà phải theo đuổi
“quanh năm”. Chữ “quanh năm” gợi lên một thời gian triền miên, đằng đẵng; như một guồng
quay của thời gian. Cái công việc nặng nề ấy dường như bà Tú theo đuổi suốt đời, bởi nó chẳng
làm cho bà khá hơn lên để có việc khác nhàn nhã hơn hoặc phát triển việc “buôn bán” lên một
cấp độ cao hơn. Mặc dù hoàn cảnh kiếm sống khó khăn và vất vả như vậy, song bà vẫn “nuôi
đủ” “năm con” với “một chồng”. Đúng như vậy, gánh nặng gia đình đè lên đôi vai bà được thể
hiện qua cách đếm đặc biệt trong câu thơ thứ hai thật hóm hỉnh nhưng cũng thật sâu sắc. Nuôi
năm đứa con nheo nhóc đã khiến bà mệt mỏi, bận rộn, lận đận lắm rồi; vậy mà giờ lại còn phải
nuôi thêm một người chồng “vô tích sự” nữa. Chi phí cho ông chồng bằng năm đứa con cộng
lại, có khi còn hơn thế nữa! Mỗi khi ông lều chõng đi thi là tiền lưng gạo lại đổ lên đầu
vợ Chừng ấy thôi đã làm cho người đọc cảm thấy quý trọng bà Tú hơn; hình ảnh bà đã hiện
lên với bao phẩm chất tốt đẹp; đồng thời ta còn thấy rõ được sự vất vả, gian truân của bà. Phải
là người có tấm lòng quý trọng vợ thì Tú Xương mới viết được những câu thơ chân thực như
thế! Mỗi câu thơ đều toát lên sự biết ơn chân thành của ông đối với người vợ bé nhỏ của mình:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

thế thái. Cho nên, hai câu thơ cuối bài không còn là tiếng cười hài hước, chua chát mà là tiếng
chửi:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.”
Tác giả đã chửi thay cho vợ, chửi cái “thói đời”, tức là chửi cái thời đại ấy, chế độ phong kiến
với những lề giáo cổ hủ đã khiến cho những con người tài năng như Tú Xương trở thành gánh
nặng đối với gia đình, trở thành một người chồng vô tích sự, chỉ là một kẻ ăn bám và không
giúp ích gì được cho vợ. Tuy nhiên, ngay trong cái tiếng chửi vẫn còn có chất hài hước. Chửi
“thói đời” nhưng mà cũng chửi mình. Chẳng có ai lại tự nêu nguyên nhân nỗi khổ của vợ lại
chính là mình như vậy.
Tóm lại, nổi bật trong bài thơ là hình ảnh bà Tú – hiện thân của cuộc đời vất vả, lận đận,
là hội tụ của bao đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam: tần tảo, đảm đang, nhẫn
nại quên mình lo toan cho cuộc sống của chồng con.
Điều đặc biệt, có một con người không trực tiếp xuất hiện là ông Tú, nhưng con mắt và
trái tim của ông thì luôn luôn hiện hữu. Con mắt ông nhìn thấy rõ mọi nỗi đắng cay cực nhọc
hằng ngày, và con tim thấu hiểu những nỗi cơ đơn, tâm trạng âm thầm chịu đựng của bà. Bài
thơ “Thương Vợ” là một bản tự kiểm điểm, tự khiển trách hết sức chân thành và nghiêm khắc
của Tú Xương. Mỗi lời thơ như một tiếng thơ dài đau xót của một con người rất có ý thức trách
nhiệm nhưng bất lực. Đó là tấm lòng thương yêu, cảm phục và biết ơn chân thành của người
chồng đối với người vợ; vì mình mà chịu nhiều đắng cay vất vả, khốn cùng giữa buổi “đò
đông”. Đó chính là vẻ đẹp nhân cách của Tú Xương qua bài thơ “Thương Vợ”.
___HẾT___
10/22
CHỦ ĐỀ 4: TỰ TÌNH_HỒ XUÂN HƯƠNG
Đề Bài: Bi kịch duyên phận của nhân vật trữ tình qua bài thơ “Tự tình”(II) của
nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Bài Làm Tham Khảo
Hồ Xuân Hương là một nhà thơ nổi tiếng trong thời kỳ văn học trung đại Việt Nam. Bà
có nhiều sáng tạo và đóng góp trên lĩnh vực thơ chữ Nôm. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng gọi bà là
“Bà Chúa thơ Nôm”. Thơ của Xuân Hương giàu khẩu khí, là tiếng nói đòi quyền sống và thể

Nếu nhịp thơ của bốn câu thơ trên chậm, buồn thì sang câu năm, sáu nhịp thơ đột ngột nhanh,
mạnh; tứ thơ vút lên, “bùng nổ” như một phản ứng dữ dội đối với cuộc đời tẻ nhạt và chán
chường này:
“Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”
Đây không phải là những câu thơ tả cảnh mà chính là tả tâm trạng, nó được hiểu theo nghĩa
tượng trưng. Nữ sĩ sử dụng nghệ thuật đảo ngữ một cách “ljnh hoạt”: “xiên ngang mặt đất – rêu
từng đám”, “đâm toạc” và những động từ mạnh như: “xiên, đâm” đã bộc lộ một tính cách mạnh,
ý thức về cái tôi cá nhân luôn hiện diện. Bà không cam chịu, từ ý thức phản kháng, nữ sĩ đã
thực hiện những khát vọng tháo cũi sổ lồng, vượt qua khỏi cái số phận lẻ mọn, phụ thuộc và bị
động của riêng mình cũng như biết bao số phận phụ nữ khác. Điều đặc biệt trong hai câu thơ
này chính là hình ảnh “rêu”. Rêu trong thơ xưa hiện lên với sự mỏng manh, yếu ớt nhưng
“rêu”của Hồ Xuân Hương thì cứng rắn, “xiên ngang mặt đất”; khắc họa núi trong một tác động
phá hủy đâm toạc chân mây. Hình ảnh một tâm trạng bị dồn nén, muốn đập phá, muốn được
giải thoát khỏi sự chán chường, cô đơn. Có thể nói cảm xúc và ý thức phản kháng của Hồ Xuân
Hương đã đem lại cho cảnh sắc trong bà trạng thái động, bùng nổ; khác hẳn phong vị của thơ
cổ.
Kết thúc bài thơ, Hồ Xuân Hương vẫn không quên trêu ghẹo, chê trách duyên phận tình đời:
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con.”
“Ngán” ở đây là sự chán chường, ngán ngẩm trước cảnh đời éo le, ngang trái. Còn mùa xuân?
Mùa xuân cũng như cuộc tình, đến rồi lại đi. Lẽ thường tình ấy được Xuân Hương phát hiện
như một nguyên nhân để cho “mảnh tình” phải san sẻ. Từ đó, người đọc nhận ra được tâm trạng
ngao ngán, chán chường xuất phát từ sự không phù hợp giữa khát vọng tình yêu nồng thắm, son
sắt với hiện thức lẽ mọn, hẩm hiu và lệ thuộc của bà.
Qua bài thơ Tự tình (II), Hồ Xuân Hương đã bộc lộ tâm trạng và thái độ của mình: vừa
đau buồn, vừa phẫn uất trước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch. Bài
thơ cho ta thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và tài năng độc đáo của “Bà Chúa thơ
Nôm” trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ và xây dựng hình tượng.
___HẾT___

kia thì ông sẽ được hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng không, ông Huấn đã lựa chọn con đường
khác: con đường đấu tranh giành quyền sống cho người dân vô tội. Cuộc đấu tranh không thành
công ông bị bọn chúng bắt. Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước
khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ, ông có tài “bẻ
khoá, vượt ngục” chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ toàn tài, quả là một con người hiếm
có trên đời. Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi
hành án. Trong lúc này đây, khi mà người anh hùng “sa cơ lỡ vận” nhưng Huấn Cao vẫn giữ
được khí phách hiên ngang,kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ông Huấn vẫn hoàn
toàn tự do bằng hành động “dỗ cái gông nặng tám tạ xuống nền đá tảng đánh thuỳnh một cái”
và “lãnh đạm” khong thèm chấp sự đe doạ của tên lính áp giải. Dưới mắt ông, bọn kia chỉ là
“một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ
ra “khinh bạc”. Ông đứng đầu gông, ông vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị lãnh
đạo. Người anh hùng ấy dùng cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình.
Thật đáng khâm phục ! Mặc dù ở trong tù, ông vẫn thản nhiên “nhận rượu thịt như một việc vẫn
làm trong hứng bình sinh”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi Huấn
Cao cần gì thì ông trả lời: “Người hỏi ta cần gì ư? Ta chỉ muốn một điều là ngươi đừng bao giờ
bước chân vào đây nữa ”. Cách trả lời ngang tàn, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì
13/22
Huấn Cao vốn hiên ngang, kiên cường. Ông không thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị
mình xúc phạm.
Huấn Cao còn là một con người có thiên lương trong sáng, cao khiết . Ông rất có ý thức
được vị trí của mình trong xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn “cặn
bã” của xã hội. “Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Tiền tài danh vọng và cường
quyền không thể làm cho lương tâm của ông thay đổi , ông luôn kiêu hãnh ngẩng cao đầu về
điều này: “ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao
giờ.”. Nhân cách của Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê, không hề có một chút trầy xước
nào. Theo ông, chỉ có “thiên lương” , bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng quý. Thế
nhưng khi biết được nỗi lòng viên quản ngục, Huấn Cao không những vui vẻ nhận lời cho chữ
mà còn thốt ra rằng : “Thiếu chút nữa, ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. Huấn Cao cho
chữ là một việc rất hiếm bởi vì “tính ông vốn khoảnh”. Và người anh hùng chọc trời khuấy

___HẾT___
14/22
Đề Bài 02: Vì sao nói cảnh cho chữ trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của nhà
văn Nguyễn Tuân” là cảnh tượng xưa nay chưa từng có?
Bài Làm Tham Khảo
Nguyễn Tuân là một trong những cây bút xuất sắc thuộc trào lưu văn học lãng mạn nửa
đầu thế kỷ XX. Với “Vang bóng một thời”, nhà văn tài hoa và độc đáo này đã tạo nên một thế
giới nghệ thuật đặc biệt, vừa cổ kính, vừa xưa cũ lại phảng phất bầu khí quyển xã hội Việt Nam
buổi giao thời Đông – Tây, kim – cổ với những nhã thú nghệ thuật cao quý. Tác phẩm là bài ca
bi tráng về cái Đẹp, và tấm lòng tha thiết về giá trị truyền thống của dân tộc, của con người tài
hoa và khí phách (thông qua nhân vật Huấn Cao). Và có lẽ, nổi bật và đặc sắc nhất trong tác
phẩm là cảnh tượng ông Huấn Cao cho chữ Viên quản ngục. Đây được mệnh danh là “cảnh
tượng xưa nay chưa từng có”.
Thật vậy, nói cảnh cho chữ là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” là không hề sai. Ngòi
bút Nguyễn Tuân đạt đến độ thăng hoa và thể hiện rõ sự khéo léo, điêu luyện trong nghệ thuật.
Cái Đẹp được sản ra, được sáng tạo giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn mà đáng ra nó phải được sản ra
trong một không gian yên tĩnh, thoáng mát và cao quý. Còn nhà tù ở đây vốn là một nơi mà
bóng tối và cái ác ngự trị, thế mà giờ đây đã trở thành một thế giối rực rỡ ánh sáng: ánh sáng từ
bó đuốc tẩm dầu đang rừng rực cháy kia hay cũng chính là ánh sáng của thiên lương, của nhân
cách từ ba mái đầu đang chụm lại bên nhau. Cái Đẹp và tình yêu đã cộng hưởng với nhau để tạo
nên ở chốn tù lao này một thế giới đầy ánh sáng. Thủ pháp đối lập ánh sáng – bóng tối đã được
tác giả sử dụng một cách triệt để nhất. Nhà tù còn được xem là một biểu tượng của sự hủy hoại
và cái chết; giờ đây lại trở thành mảnh đất cho sự sống và cái Đẹp nảy mầm. Những dòng chữ
được tạo ra kia chính là biểu tượng đẹp đẽ của nhân cách, của văn hóa và của một sự sống vĩnh
hằng được tạo ra. Ngay ngày mai, từ tù Huấn Cao sẽ đi vào cõi chết; nhưng sự sống mà ông để
lại thì bất diệt.
Cũng chính ở nhà lao này, thiên lương của ba con người đang chụm đầu bên tấm lụa kia
đã chiến thắng và đẩy lùi. Cuộc hội ngộ giữa họ là một bằng chứng khẳng định luật pháp của
nhà tù đã không còn ý nghĩa, cái ác đã không còn chốn nương thân.
Đồng thời, cảnh cho chữ cũng đánh dấu sự đổi ngôi trên phương diện uy quyền. Quyền

Xuất hiện ngay từ những dòng đầu của tác phẩm, nhân vật quản ngục đã mang đến cho
người đọc ấn tượng về những điều khác lạ. Ở phần đầu truyện ngắn, quản ngục đã nói về người
tử tù Huấn Cao bằng những lời trầm trồ thán phục một cách chân thành. Đó là một câu chuyện
xưa nay chưa có kẻ coi ngục nào từng làm đối với người tù của mình. Sự khó hiểu ở kẻ coi tù
này đó chính là tâm trạng chờ đợi, mong ngóng sự xuất hiện của tử tù Huấn Cao. Với tư cách là
người dẫn truyện, Nguyễn Tuân đã dành cho nhân vật quản ngục những lời tốt đẹp, đầy trân
trọng. Nếu xem cuộc đời như một dòng thác dữ thì viên quản ngục, trong những suy tư chìm
đắm về ông Huấn, lại có gương mặt của “mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ.”
Nếu xã hội đương thời nhiễu nhương như “một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ” thì
viên quản ngục, với “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người”, là một “âm thanh trong trẻo”
chen vào giữa bản đàn ấy. Việc nhà văn tạo ra một nhân vật khác đời như thế, âu cũng là lẽ
đương nhiên với một tính cách và một phong cách như Nguyễn Tuân.
Bên cạnh đó, viên quản ngục được nói đến trong tác phẩm là một người có “sở thích cao
quý”. Để tạo ra thư pháp cần đến một tài năng siêu phàm, nhưng để hiểu và yêu nghệ thuật này
thì lại cần đến một sở thích cao quý, một tấm lòng tri kỷ. Điều đáng nói là sở nguyện này lại có
ở một con người phải hằng ngày, hằng giờ tiếp xúc và chung sống với cái ác, cái xấu và những
cặn bã trong xã hội. Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, sở thích của quản ngục được đẩy lên đến
mức phi thường và viên quản ngục được nâng lên thành một kiểu tài hoa, nghệ sĩ. Vì tình yêu
với cái Đẹp, con người có nhiệm vụ thi hành pháp luật này đã bất chấp tất cả luật pháp, dám cả
gan biệt đãi một kẻ tử tù, sẵn sàng mang cả tình mạng của mình ra thế chấp để đổi lấy cái Đẹp
mà mình tôn thờ.
Đồng thời, ở nhân vật viên quản ngục còn ánh lên tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”. Mặc dù
bị ông Huấn nói những lời ra lệnh và có vẻ “khinh bạc đến điều”, nhưng ông vẫn không tự ái,
không thù oán mà lại chấp nhận, làm theo đầy nhịn nhục. Nhưng bữa cơm với rượu và thịt vẫn
tiếp tục được mang đến có phần nồng hậu hơn. Bởi ông có con mắt tinh đời để thấu hiểu và lí
giải cái nguyên cớ bên trong của thái độ, của hành động kiêu ngạo ấy.
Lần nào xuất hiện trước mặt Huấn Cao, ông cũng có vẻ khúm núm, khép nép. Đó không
phải là biểu hiện của sự sợ hãi mà là thái độ quy phục. Sự nhịn nhục của con người này không
16/22
đồng nghĩa với sự hạ mình. Đó chỉ là cái nghiêng mình kính cẩn trước một tấm lòng, một nhân

giáo của mình, tất yếu, Nguyễn Tuân sẽ say mê hướng vào những vẻ đẹp vừa mới lạ, độc đáo,
vừa dữ dội, phi thường. Với ông, “sự tầm thường là cái chết của nghệ thuật” (V. Huy – gô).
Vậy nên, bút pháp tương phản, phóng đại được khai thác tối đa cùng những thủ pháp nghệ thuật
của hội họa, điêu khắc và điện ảnh được huy động triệt để đã làm nên những trang văn tuyệt
bút.
Trước hết là cái “lạ” ở không gian, thời gian diễn ra cảnh cho chữ.
Cảnh cho chữ diễn ra ở một địa điểm đặc biệt, chưa từng có xưa nay. Thư pháp vốn là
một thú chơi cao sang, vì thế người nghệ sĩ thư pháp thường sáng tạo trong những không gian
đẹp, sạch sẽ, đầy đủ ánh sáng cùng các phương tiện cần thiết. Vậy mà trong truyện ngắn này,
người tử tù – nghệ sĩ Huấn Cao lại cho chữ viên quản ngục ngay trong đề lao, ở “một buồng tối
chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột phân gián”. Ánh sáng
duy nhất được tỏa ra từ một bó đuốc tẩm dầu, “khói tỏa như một đám cháy nhà”. Có thể nói,
đây là lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, cái đẹp thư pháp lại được khai sinh từ một không
gian ẩm thấp, tối tăm và bẩn thỉu, trên mảnh đất của bạo tàn, hủy hoại và cái chết như thế.
Thời gian diễn ra cảnh tượng này cũng thật kì lạ. Đó là vào một đêm tối tăm, u ám như
bao đêm khác, nhưng đặc biệt, đây là đêm cuối cùng của đời một con người. Ngày mai Huấn
Cao sẽ ra pháp trường nên đây là những thời khắc ngắn ngủi và quý giá nhất. Không giống như
người đời thường dành những phút lâm chung để nghĩ về những điều thiêng liêng nhất, để sống
cho riêng mình, Huấn Cao đã dành đêm cuối cùng của đời mình cho người khác, dành những
giờ phút còn lại của đời mình để đáp lại “những tấm lòng trong thiên hạ”. Những dòng chữ cuối
cùng của ông trở thành vật tri âm cho một người tri kỉ. Nó vốn đã quý lại càng quý hơn, bởi đó
là lời trăng trối của một người sắp từ giã cõi đời. Dường như nhà văn lãng mạn Nguyễn Tuân đã
đẩy nhân vật của mình vào những “khoảnh khắc tột cùng của sự giới hạn”, để nhân vật bộc lộ
đến tận cùng chiều sâu và sức mạnh và nội tâm của nó.
Cảnh cho chữ còn là một tình huống đầy kịch tính. Ở đây, diễn cuộc gặp gỡ giữa ba con
người ở hai giới tuyến. Về địa vị xã hội, chính trị, họ là kẻ thù của nhau, là những người “không
đội trời chung”. Vậy mà họ đã ngồi bên nhau, ba cái đầu chụm lại trong một thế giới đầy thân
thiện, đầy tin yêu của những kẻ tri âm, tri kỉ, dám “tử vì đạo”. Không còn một ranh giới nào,
không có quyền lực, không có bạc tiền. Chỉ có sự lên ngôi của cái Đẹp, của thiên lương và
những tấm lòng tri âm.

Cũng chính ở nhà lao này, thiên lương của ba con người đang chụm đầu bên tấm lụa kia
đã chiến thắng và đẩy lùi. Cuộc hội ngộ giữa họ là một bằng chứng khẳng định luật pháp của
nhà tù đã không còn ý nghĩa, cái ác đã không còn chốn nương thân.
Đồng thời, cảnh cho chữ cũng đánh dấu sự đổi ngôi trên phương diện uy quyền. Quyền
lực đã được chuyển từ tay người coi tù sang tay kẻ tử tù. Kẻ nắm sinh mạng người khác thì
“khúm núm”, người bị tước mọi thứ quyền thì ung dung đường bệ. Có thể nói, trật tự xã hội
được đảo lộn hoàn toàn. Tác giả của “sự đổi ngôi”ấy, không ai khác chính là cái đẹp của Nghệ
thuật và tình người. Ngoài ra, vẻ đẹp của Huấn Cao tỏa sáng rạng ngời nhất là ở cảnh cho chữ
này. Những lời trăng trối cuối cùng của ông Huấn như là một lời thú nhận của một kẻ tài hoa,
một đấng anh hùng về nỗi bất lực trước thời cuộc.
Cảnh tượng cho chữ đã thực sự trở thành “nhãn tự” của tác phẩm. Dồn nén trong đoạn
văn ngắn này là những tình huống đầy kịch tính, là phép đảo ngược trái chiều; tất cả đã được
tạo nên bằng những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc như: tương phản,…cùng với ngôn ngữ mang
đậm màu sắc cổ kính, bi tráng.
Tác phẩm khép lại với sự tôn vinh của cái Đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả của con
người. “Chữ người tử tù” đã gieo vào lòng người đọc sự vững tin rằng: cái Đẹp là vĩnh hằng và
bất khả chiến bại. Đằng sau lớp màn sương huyền thoại về những nhân vật lịch sử một thời
vang bóng của “Chữ người tử tù” là bóng dáng của nhà văn. Đó là một tinh thần dân tộc đậm
đà kín đáo, gửi gắm vào những nhã thú văn hóa thẩm mĩ truyền thống của dân tộc, là thái độ bất
19/22
hòa với chế độ xã hội đương thời và sự kính trọng của những con người tài hoa, khí phách,
thiên lương. Đó cũng chính là cái tâm đáng quý trọng của nhà văn tài hoa độc đáo Nguyễn
Tuân.
___HẾT___
20/22
B PHẦN TIẾNG VIỆT. LỊCH SỬ VĂN HỌC
I. TIẾNG VIỆT

1. Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
 Giữa ngôn ngữ chung của cộng đồng xã hội và lời nói của cá nhân có mối quan hệ hai

-
Có đầy đủ cấu trúc
ngữ pháp.
-
Thường sử
dụng biện
pháp tu từ
và cú pháp
Phóng sự
-
Có địa điểm, thời
gian cụ thể.
-
Sự kiện chính xác
bằng hình ảnh
(miêu tả chi
tiết).
-
Từ miêu tả sự
kiện (lớp từ
chung).
-
Hình ảnh địa
phương,
nhân vật
-
Câu dài, có kết cấu
phức hợp.
-
Rõ nghĩa, mạch

Có ba đặc trưng cơ bản:
- Tính thông tin thời sự
- Tính ngắn gọn
- Tính sinh động hấp dẫn.
3. Ngữ cảnh (sgk)
21/22
II. LỊCH SỬ VĂN HỌC

1. Ôn tập văn học trung đại Việt Nam.
2. Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8 năm 1945.
(Các bạn tự ôn trong SGK)
CHÚC CẢ LỚP ĐẠT ĐIỂM CAO! (^_^)
22/22


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status