skkn cách soạn giảng để dạy có hiệu quả tiết trả bài làm văn ở lớp 11 tại trường thpt trần phú - Pdf 25

MỤC LỤC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2
2.1 Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài 2
2.2 Cơ sở thực tiễn 3
2.2.1 Thuận lợi 3
2.2.2 Khó khăn 4
2.2.3 Thực trạng dạy và học 4
2.2.4 Số liệu thống kê 5
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 6
3.1 Khâu chuẩn bị 6
3.2 Phần nội dung của một bài soạn tiết trả bài làm văn 6
3.3 Nhận xét ưu, khuyết điểm trong bài làm của học sinh 8
3.4 Chữa lỗi 8
3.5 Thống kê chất lượng 10
3.6 Đọc bài văn, đoạn văn hay hoặc giới thiệu bài làm đạt điểm cao 10
3.7 Giải đáp thắc mắc, động viên, nhắc nhỡ học sinh các bài làm sau 11
IV. HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 11
4.1 Những kết quả đạt được 11
4.2 Bài học kinh nghiệm 12
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 12
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
VII. PHỤ LỤC 15
THPT Trần Phú – SKKN năm học 2013-2014 GV: Dương Thị Tiến
CÁCH SOẠN GIẢNG ĐỂ DẠY CÓ HIỆU QUẢ TIẾT TRẢ BÀI LÀM
VĂN Ở LỚP 11 TẠI TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chất lượng môn Ngữ văn ở trường THPT Trần Phú so với các trường bạn ở
khu vực Long Khánh thấp. Bởi tập làm văn là một môn học khó. Môn học này yêu
cầu học sinh vận dụng kiến thức đã học ở môn đọc văn và Tiếng Việt vào làm văn.
Mặt khác, ý thức học môn văn của học sinh chưa cao. Không hiếm tình trạng giáo

khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng.
2. Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành,
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà
trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Như vậy nguyên lí của giáo dục trong dạy và học Ngữ văn là người giáo viên
không chỉ giúp cho học sinh nắm được những kiến thức cơ bản của môn học mà còn
giúp học sinh khám phá đời sống, nhận thức được các phạm trù thẩm mĩ, cái đẹp, cái
cao thượng, cái hài hoà, cái xót thương,… giúp các em hoàn thiện nhân cách bởi “văn
học là nhân học”.
Chỉ thị số 40/2008/CT-GDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 22/07/2008
về mục tiêu phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và
các hoạt động xã hội một cách phù hợp hiệu quả là cơ sở cho các giáo viên mạnh dạn
trong việc đổi mới các phương pháp dạy học của mình.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thuận lợi
a. Về giáo viên
Đại đa số giáo viên đều cố gắng thay đổi phương pháp dạy của mình theo
hướng phát huy tính tích cực của học sinh như phương pháp giải quyết vấn đề,
phương pháp vấn đáp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh,…
Giáo viên đã tích cực hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm, hướng dẫn học sinh
cách khai thác nội dung trong phần lập dàn ý, chú ý sữa các lỗi sai cho học sinh trong
các bài viết…
Trong quá trình dạy đã có sự kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết
dạy trả bài làm văn, vì vậy giờ dạy tiết trả bài làm văn không còn là một giờ học khô
khan mà đã trở nên sinh động và hứng thú đối với học sinh.
b. Về phía học sinh
Đối với học sinh đều tập trung chú ý và suy nghĩ để trả lời các câu hỏi mà giáo
viên đặt ra trong tiết trả bài làm văn.
Đặc biệt học sinh rất thích thú khi được nhìn lại bài viết của mình, điểm số

Ở trường THPT Trần Phú, đa số học sinh còn thiếu ý thức và hứng thú trong
việc học môn Ngữ văn đặc biệt là trong các tiết trả bài tập làm văn, vẫn còn một số
học sinh thiếu tập trung trong giờ học vì vậy sau tiết trả bài làm văn việc nắm bắt các
kiến thức cơ bản của bài học ở những học sinh này chưa cao. Bởi vậy nên giờ học trở
nên đơn điệu các em dễ nảy sinh tâm lí nhàm chán với bài học.
Mặt khác, giáo viên dạỵ môn Ngữ văn ở trường, trong giờ dạy tiết trả bài làm
văn, việc đầu tư cho soạn giảng tiết học này chưa phù hợp. Các bước lên lớp và các
hoạt động của thầy và trò còn thiên về hình thức, quá đơn điệu nên tiết học trở nên tẻ
nhạt. Kết quả điểm số qua các bài kiểm tra ở phân môn bài viết làm văn 11 ở một số
lớp vẫn còn thấp và tỉ lệ học sinh yếu vẫn nhiều. Nhằm giảm bớt số lượng học sinh
yếu kém và nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường khơi gợi và giúp các em yêu
Trang 4/17
THPT Trần Phú – SKKN năm học 2013-2014 GV: Dương Thị Tiến
thích và hứng thú hơn trong môn Ngữ văn. Đặc biệt nhằm giúp giáo viên có thêm một
số kinh nghiệm trong soạn giảng tiết trả bài làm văn lớp 11.
2.2.4 Số liệu thống kê
Bản thân tôi đảm nhận việc giảng dạy môn Ngữ văn lớp 11 và 12. Trong quá
trình giảng dạy với ý thức vừa nghiên cứu đặc điểm tình hình học tập bộ môn của học
sinh và vừa tiến hành rút kinh nghiệm qua các tiết dạy. Việc điều tra được thể hiện
thông qua hỏi đáp, câu hỏi phát triển tư duy ở lớp, kiểm tra 45 phút. Các kết quả
thống kê cụ thể như sau:
Bảng 1 Số liệu thống kê về mức độ hứng thú và hiểu bài của học sinh
Lớp Số học sinh hứng thú/ Số
học sinh của lớp
Số học sinh hiểu bài/ Số
học sinh của lớp
11a5 30/39 37/39
11a6 32/41 40/41
12a4 34/39 41/41
Trang 5/17

Tìm hiểu đề là công việc mà người viết phải xác định đúng trọng tâm, chính
xác. Nếu xác định sai yêu cầu đề sẽ dẫn đến bài viết bị lạc đề hoặc lệch đề. Khi ấy
chẳng khác gì người đi giữa đại dương mà không có la bàn.
b. Tìm ý và lập dàn ý
Trang 6/17
THPT Trần Phú – SKKN năm học 2013-2014 GV: Dương Thị Tiến
Giáo viên giúp học sinh biết cách tìm ý, lập dàn ý cho bài viết và có thói quen
phân tích để tìm ý và lập dàn ý trước khi làm bài.
Giáo viên yêu cầu học sinh của lớp chia làm hai nhóm, mỗi nhóm chịu trách
nhiệm phân tích một đề văn sau đó cử người lên trình bày, các thành viên còn lại của
nhóm có thể bổ sung các ý kiến đánh giá.
Giáo viên nhận xét, chỉnh lại và chốt vấn đề, từ đó yêu cầu học sinh tập làm
dàn ý ở bảng phụ.
Đây chính là quá trình xây dựng dàn bài mẩu để cả lớp rút kinh nghiệm về nội
dung và phương pháp làm bài. Từng học sinh qua đó có thể tự mình rút kinh nghiệm
chỗ được, chỗ chưa được của bản thân qua bài viết.
Giáo viên nên dành 7 đến 10 phút cho học sinh trao đổi thắc mắc về dàn bài
mẩu. Học sinh chép dàn bài mẩu vào vở để về nhà rút kinh nghiệm thêm và tự chữa
bài văn của mình.
Ví dụ 1
Em hiểu như thế nào về hạnh phúc gia đình?
- Giới thiệu vấn đề bàn luận và nêu nhận xét khái quá về vấn đề đó.
- Giải thích.
+ Gia đình là gì?
+ Hiểu như thế nào là hạnh phúc gia đình?
+ Hạnh phúc gia đình phải được thể hiện ở cả vật chất và tinh thần.
+ Làm thế nào để có được hạnh phúc gia đình.
- Những suy nghĩ của bản thân về hạnh phúc gia đình.
Ví dụ 2
Viết một bài văn nghị luận ngắn nêu suy nghĩ của anh/ chị về lòng yêu thương

Lời nhận xét của giáo viên trong bài làm văn và trong tiết trả bài làm văn có
tính thúc đẩy trong quá trình học tập của học sinh, giúp học sinh nhận ra được mặt ưu
điểm và mặt còn hạn chế trong bài làm của chính mình. Bởi kết quả bài làm của học
sinh phản ánh tư duy tái tạo và sáng tạo của người học. Chính qua các tiết làm văn
viết bài ở lớp hoặc ở nhà, học sinh được rèn luyện cá tính, năng khiêu riêng của mỗi
người. Các bài viết đã giúp học sinh bộc lộ, giãi bày ngôn từ trên mặt giấy mọi suy tư,
cảm xúc, kinh nghiệm, nhận xét của con người về thiên nhiên, xã hội, cuộc sống,…
Xem lời phê ở bài làm văn của học sinh, lời nhận xét trong tiết trả bài có thể
đoán nhận được người dạy văn đó như thế nào, nói vậy cũng không quá lời.
3.4 Chữa lỗi
Thiếu sót lớn nhất trong giảng dạy tiết trả bài làm văn hiện nay là việc chấm
bài. Bên cạnh phần đông các giáo viên tận tuỵ, vẫn còn một số giáo viên chưa có đầy
đủ tinh thần trách nhiệm trong việc chấm trả bài cho học sinh. Nhiều giáo viên chấm
bài qua loa, nhận xét chung chung bỏ mặc nhiều lỗi của học sinh trong bài làm. Bởi
hiện nay có quá nhiều học sinh văn kém.Tình trạng đó chính là hậu quả của việc
chấm bài chưa đầy đủ tinh thần trách nhiệm của giáo viên.
Trang 8/17
THPT Trần Phú – SKKN năm học 2013-2014 GV: Dương Thị Tiến
Trong tiết trả bài làm văn chỉ diễn ra trong 45 phút mà phải dạy tuân thủ tiến
trình của phương pháp làm văn nên giáo viên chưa yêu cầu học sinh tự chữa lấy
những lỗi của mình trong bài làm văn, chưa chú ý cân đối đến việc khích lệ những cố
gắng và chỉ rõ sai sót, đến nội dung và hình thức diễn đạt trong bài của học sinh. Giáo
viên cần có quy định các bài làm văn viết rời cần đính lại thành tập để giáo viên có
thể theo dõi sự diễn biến của học sinh qua từng bài làm. Nhưng trên thực tế vẫn còn
tình trạng một số học sinh sau khi nhận được bài làm, biết được kết quả của bài làm
văn đã vượt qua mức điểm trung bình đã là an phận không cần quan tâm đến việc sửa
lỗi nữa.
Trong mỗi bài làm văn, người giáo viên phải xây dựng thang điểm chuẩn
chính xác dựa trên những tiêu chí để đánh giá bài làm của học sinh. Để tránh tình
trạng chấm từng bài văn sai đâu sữa đó và không có một trọng tâm, có yêu cầu riêng

- Luận cứ không phù hợp với luận điểm.
- Lập luận mâu thuẫn, thiếu lôgíc.
Trong tiết dạy trả bài, giáo viên nên để dành thời giờ cho học sinh hỏi trực tiếp
giáo viên về bài làm của mình. Giáo viên có thể đến với một vài em mà giáo viên dự
đoán có những vấn đề thắc mắc hay thất vọng sau khi đã hướng dẫn học sinh tự chữa
lỗi theo lời ghi. Giáo viên có thể kiểm tra một vài trường hợp tự chữa bài ở nhà. Nếu
có thể, chấm bài sữa bài “tay đôi” với một vài học sinh còn yếu cần phải giúp đỡ
thêm.
Mục đích cuối cùng của việc sửa lỗi trong bài làm văn là giúp học sinh phát
hiện, phân tích và sữa chữa được các lỗi về ngữ pháp, dùng từ, chính tả, về lập luận,
… Nên trân trọng từng tìm tòi, cảm thông từng sai sót vừa nghiêm khắc vừa độ lượng
trước từng khuyết điểm của học sinh.
3.5 Thống kê chất lượng
Năm học 2013-2014, tôi được nhà trường phân công trực tiếp giảng dạy hai
lớp 11 (gồm 11A5 và 11A6) cụ thể kết quả điểm số qua các bài kiểm tra hai lớp như
sau:
Lớp
% điểm trên trung bình của các bài viết số
1 2 3 4 5 6 7
11A5 76,9 82,0 89,7 92,3 94,8 94,8 89,7
11A6 82,9 82,9 95,1 81,3 97,6 95,1 95.1
Kết quả kiểm tra điểm số qua bảng thống kê trên cho thấy khi có sự đầu tư
soạn giảng tiết trả bài làm văn, chất lượng bài làm văn qua cac bài viết của học sinh
đã có sự tiến triển khá khả quan. Chính việc thống kê tỉ lệ trên điểm trung bình của
từng học sinh qua các bài kiểm tra giúp các em nhìn thấy rõ hơn sự tiến bộ và nỗ lực
cố gắng của bản thân qua từng bài viết. Học sinh sẽ cảm thấy hứng thú hơn trong tiết
trả bài làm văn.
3.6 Đọc bài văn, đoạn văn hay hoặc giới thiệu bài làm đạt điểm cao.
Kinh nghiệm của bản thân tôi trong tiết soạn giảng trả bài làm văn, tôi thường
cẩn thận sưu tầm những bài văn, đoạn văn hay, photo thành tài liệu phát vào thời

sinh là những phút giây căng thẳng chờ đợi kết quả điểm số bời vì trước tiết trả bài 2
đến 3 ngày giáo viên đã chủ động phát trước bài đã chấm cho các em xem trước. Vì
vậy không khí phân tán ồn ào trong lớp đã được hạn chế ở mức tối thiểu.
- Học sinh thu hoạch được bao nhiêu điều bổ ích thiết thực cho những bài văn
tiếp theo.
- Áp dụng để làm các dạng đề mở nhằm phát huy khả năng sáng tạo và phát
huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong phân môn làm văn nói riêng và Ngữ
văn nói chung.
Trang 11/17
THPT Trần Phú – SKKN năm học 2013-2014 GV: Dương Thị Tiến
- Kết quả kiểm tra viết trung bình của hai lớp 11A5 và 11A6 qua bảy bài viết
trong năm như sau:
+ Giỏi: 8%
+ Khá: 42%
+ Trung bình: 46%
+ Yếu: 4%
4.2 Bài học kinh nghiệm
- Trong khi soạn giảng tiết dạy trả bài làm văn lớp 11, trong mỗi tiết dạy giáo
viên cần nêu mục tiêu yêu cầu của tiết, chọn phương pháp phù hợp và phân chia thời
gian hợp lý.
- Giáo viên cần kết hợp tốt các phương tiện dạy học khác nhau để góp phần
phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong tiết dạy trả bài làm văn.
- Trong quá trình dạy, ngôn ngữ nói phải truyền cảm, trình bày phải có điểm
nhấn, tránh đều đều.
- Cần chú ý đến mối quan hệ trực cảm và cảm thụ lý tính, giữa phân tích và
tổng hợp.
- Tuỳ theo các bước trong tiết trả bài để chọn nội dung và phân chia thời gian
phù hợp.
- Trong quá trình chuẩn bị bài soạn ở tiết trả bài phải được chuẩn bị công phu
để khi lên lớp để tiết dạy trở nên sinh động và có tác dụng nhiều mặt đối với học sinh.

học tích cực. Dẫu sáng kiến kinh nghiệm này với đề tài không mới nhưng bằng chính
suy nghĩ của bản thân tôi đã mạnh dạn cải tiến một vài bước nhỏ trong trình tự của
tíêt trả bài làm văn, tôi cũng đã từng dự giờ của nhiều giáo viên ở tổ bộ môn khi dạy
tiết trả bài làm văn và kết quả cũng rất khả quan.
Tuy nhiên tính hiệu quả của tiết dạy còn phụ thuộc nhiều yếu tố (giáo viên,
học sinh) và không phải bất kì tiết dạy trả bài làm văn nào cũng đạt được kết quả
hoàn hảo. Tiết dạy trả bài làm văn đòi hỏi sự sáng tạo trong lao động nghệ thuật, cần
có tinh thần trách nhiệm cao của người giáo viên, cần đòi hỏi năng lực tư duy và hành
động của mình trước giáo dục học sinh, cho nên cần phải nắm vững lý luận, rèn luyện
nghiệp vụ thường xuyên.
Trên đây là một số kết luận nhỏ của tôi khi áp dụng cách soạn giảng để dạy có
hiệu quả tiết dạy trả bài làm văn lớp 11 có hiệu quả. Do hiểu biết và kinh nghiệm
chưa nhiều nên bản thân tôi chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, rất mong được sự
góp ý của quý đồng nghiệp để góp phần hoàn thiện đề tài hơn nữa.
Long Khánh, ngày 29 tháng 4 năm 2014
Người viết
Dương Thị Tiến
Trang 13/17
THPT Trần Phú – SKKN năm học 2013-2014 GV: Dương Thị Tiến
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phương pháp dạy học văn, Phạm Trọng Luận cùng các tác giả khác, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998.
2. Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 11, Nhà xuất bản giáo dục, 2007.
3. Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 12, Nhà xuất bản giáo dục, 2008.
4. Những vấn đề cơ bản về đổi mới gíáo dục trung học phổ thông hiện nay, Phùng
Đình Mẫn cùng nhiều tác giả, Nhà xuất bản Sở văn hoá thông tin Thừa Thiên Huế.
Trang 14/17
THPT Trần Phú – SKKN năm học 2013-2014 GV: Dương Thị Tiến
VII. PHỤ LỤC
1. Giáo án áp dụng

HĐ2: hướng dẫn học sinh tìm ý và lập
dàn ý bài văn mẩu.
GV: Chia lớp thành 2 nhóm nhỏ, giao
việc cho mỗi nhóm:
- Nhóm 1: xác lập ý cho bài viết.
TRẢ BÀI SỐ 5
Đề ra: Nêu suy nghĩ của anh (chị) về cái
tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam.
1. Tìm hiểu đề
- Thể loại: văn NLXH.
- Phạm vi đề bài: tết cổ truyền của
dân tộc Việt Nam
- Tư liệu để làm bài: kiến thức
thực tế từ cuộc sống và sách vỡ.
2. Tìm ý và lập dàn ý.
2.1. Tìm ý.
Trang 15/17
THPT Trần Phú – SKKN năm học 2013-2014 GV: Dương Thị Tiến
Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt
- Nhóm 2: Lập dàn ý khái quát cho
bài viết.
Yêu cầu hai nhóm thảo luận, tổng hợp ý
kiến và cử đại diện lên trình bày ở bảng
phụ, các thành viên khác có thể bổ
sung, thống nhất kết quả của 2 nhóm.
GV: Nên dành 5 đến 10 phút cho học
sinh trao đổi thắc mắc về dàn bài mẩu.
GV dánh giá: Lập dàn ý là quá trình xây
dựng dàn bài mẩu để cả lớp rút kinh
nghiệm về nội dung và phương pháp

+ Con người nhớ về quê hương,
nguồn cội.
+ Nhìn laị những việc đã làm và
chưa làm được trong một năm để
phấn đấu hơn trong năm mới.
- Cần phải có thái độ và hành động
phù hợp khi nghĩ về tết cổ truyền
của dân tộc để không làm cho nét
đẹp cổ truyền bị mai một.
c. Kết luận: Nêu suy nghĩ và hành động
của cá nhân.
2.3. Nhận xét.
2.3.1 Ưu điểm: đa số học sinh hiểu đề,
biết cách làm bài văn nghị luận xã hội,
nhiều bài viết suy nghĩ và đánh giá kha
sâu sắc về tết cổ truyền của dân tộc, kết
quả bài làm khá tốt, cách trình bày bài
viết khoa học, hành văn mạch lạc, khúc
chiết, văn viết có sự sáng tạo và giàu
Trang 16/17
THPT Trần Phú – SKKN năm học 2013-2014 GV: Dương Thị Tiến
Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt
- Lỗi dùng từ:
VD1: Hằng năm, mỗi khi tết về ai ai
cũng náo nức buồn.
-> Chữa:
Thay bằng cụm từ: náo nức niềm vui
VD2: Tết là dịp để mọi gia đình ăn chơi
phè phỡn
 Chữa: thay bằng cụm từ sum họp

gợi ý giáo viên đã sửa minh hoạ.
cảm xúc.
2.3.2. Hạn chế: còn 2 bài viết suy nghĩ
còn chung chung, chưa làm nỗi bật
được các ý chính.
3 bài viết còn mắc các lỗi phổ biến như
Lỗi dùng từ chưa phù hợp, viết chưa
đúng cấu trúc ngữ pháp, tính liên kết
trong câu văn yếu, sai lôgíc
5. Thống kê chất lượng chung của bài
Trang 17/17
THPT Trần Phú – SKKN năm học 2013-2014 GV: Dương Thị Tiến
Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt
GV: Thống kê chất lượng của bài viết
số 5.
GV: Yêu cầu học sinh đọc 1 bài văn
mẩu cho học sinh cả lớp nghe và tham
khảo.
GV: Giải đáp các thắc mắc của học
sinh, rút kinh nghiệm, nhắc nhở học
sinh chuẩn bị bài viết số 6 (ở nhà).
Đề ra: Cảm nhận vẻ đẹp của bức tranh
thiên nhiên xứ Huế qua bài thơ “Đây
thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử.
viết số 5:
+ 12% điểm loại giỏi
+ 30% loại khá
+ 52% loại trung bình.
+ 6% loại yếu.
6. Đọc bài văn mẫu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status