Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
Sáng kiến kinh nghiệm:
“MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY CÓ HIỆU QUẢ
TIẾT LUYỆN TẬP HÌNH HỌC LỚP 7”
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU.
Trong môn Toán sự thống nhất giữa hoạt động điều khiển của thầy và hoạt
động học tập của học sinh có thể được thực hiện bằng cách quán triệt quan điểm
hoạt động dạy học toán trong hành động và bằng hành động. Dạy học toán theo
phương pháp đổi mới phải làm cho học sinh chủ động nghĩ nhiều hơn, làm nhiều
hơn, tham gia nhiều hơn trong quá trình chiếm lĩnh tri thức toán học. Thực chất
là quá trình tái tạo khái niệm, tính chất, định lí, quy tắc gần giống với quá trình
hình thành chính những kiến thức ấy trong lịch sử.
Đặc điểm của môn toán là người học toán phải nắm chắc và hiểu rõ lí
thuyết thì mới vận dụng được để giải bài tập và có giải nhiều bài tập thì mới
khắc sâu và nhớ kĩ lí thuyết. Do vậy, việc dạy học sinh giải bài tập toán trong
các tiết luyện tập là rất quan trọng.
Trong tiết luyện tập toán học sinh được thực hành vận dụng những kiến
thức đã học vào việc giải quyết các bài toán thực tế, các bài toán có tác dụng rèn
luyện kĩ năng tính toán, kĩ năng suy luận lô gíc, qua đó phát triển tư duy sáng
tạo cho học sinh. Trong thực tế, tiết luyện tập toán không chỉ giải quyết các bài
toán mà học sinh đã làm ở nhà hay như những bài toán thầy giáo đã cho trên lớp,
mà người thầy phải xác định trong tiết luyện tập vai trò của thầy và nhiệm vụ
của trò là như thế nào? Đó là “Thầy luyện, trò tập làm”. Với tiết luyện tập, thầy
giáo được tự do trong việc lựa chọn nội dung dạy học hơn so với tiết lí thuyết Thầy có thể xác định được trọng tâm của bài sao cho cũng cố được lí thuyết đã
học và vận dụng giải bài tập tốt đáp ứng mục đích, yêu cầu của bài. Trong tiết
luyện tập thầy giáo có thể cho học sinh xác định yêu cầu của bài để tìm phương
pháp giải cho phù hợp, thầy chỉ là người hổ trợ, bổ sung để trò tìm ra hướng đi
đúng đắn nhất.
1
nghiệp và thi vào đầu cấp. Thế nhưng hiện nay việc học toán của các em còn rất
nhiều hạn chế đặc biệt là hình học các em còn yếu về kĩ năng vẽ hình, dựng hình
cũng như sự tư duy phán đoán. Mà ở tiết luyện tập học sinh có thể cũng cố, đào
sâu, hệ thống hoá kiến thức và rèn luyện kĩ năng cũng như vận dụng những kiến
thức đã học vào những vấn đề cụ thể.
Về măt lí thuyết, luyện tập là lặp đi lặp lại những hành động nhất định nhằm
hình thành và cũng cố những kĩ năng , kĩ xảo cần thiết được thực hiện một cách
có tổ chức, có kế hoạch. Vì thế qua các tiết luyện tập học sinh được nâng cao
tính độc lập sáng tạo, hiểu bài sâu hơn, chắc hơn, năng lực tư duy và phẩm chất
trí tuệ phát triển tốt hơn. Các bài tập toán trong tiết luyện tập cũng có thể là một
định lí giúp học sinh mở rộng tầm hiểu biết của mình. Luyện tập toán còn có tác
dụng hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, hứng thú học tập và niềm tin,
hình thành phẩm chất người lao động mới. Qua việc giải bài tập toán mà đánh
giá được mức độ, kết quả dạy của giáo viên, kết quả học của học sinh.
Dựa vào tâm lí lứa tuổi học sinh, các em ở lứa tuổi đang “tập làm người lớn”
nên rất tích cực tham gia vào các hình thức học tập sáng tạo, độc lập. Đó là tiền
đề cho sự tự giác, tự khám phá, phát hiện và giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức,
hướng dẫn của giáo viên.
Hình học là môn học có tính trừu tượng cao, hệ thống kiến thức rộng, các
kiến thức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Môn hình học có rất nhiều ứng dụng
3
Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
trong thực tế, việc học tốt môn hình học sẽ giúp hình thành ở học sinh tính cẩn
thận, phán đoán chính xác, suy luận logíc.
Một tiết luyện tập toán cần đạt được 3 yêu cầu chủ yếu đó là:
- Tiết luyện tập giúp học sinh hoàn thiện hoặc nâng cao ở mức độ phổ thông
cho phép đối với phần lý thuyết của những tiết học trước thông qua hệ thống các
bài tập (bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập và các bài tập tự chọn của giáo
- Với sự phát triển của ngành công nghệ thông tin các điểm Internet mọc lên
như nấm đó cuốn hỳt cỏc em học sinh vào những trũ chơi giải trí dẫn đến việc
chán nản lơ là việc học hành.
- Một bộ phận không nhỏ học sinh lười học bài cũ dẫn đến hổng kiến thức
cơ bản, có chăng cũng chỉ học qua loa hời hợt.
- Một số em do sự phát triển tâm sinh lý không bình thường nên khó tập
trung trong học tập, tiếp thu bài chậm, thường nhút nhát, một số em khác do quá
hiếu động, nghịch ngơm, khó bảo, hành động theo bản năng, thiếu suy nghĩ nên
dẫn đến kết quả học tập môn toán nói chung và hình học nói riêng còn thấp.
- Một bộ phận gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn, ít quan tâm đến
việc học tập của con em, không mua đủ dụng cụ học tập cho học sinh như
compa, êke, thước thẳng, thước đo độ...nên các tiết luyện tập hình học các em
ngồi chơi hoặc làm việc riêng dẫn đến không nắm được bài.
* Đối với giáo viên:
Trong quá trình giảng dạy cũng gặp một số khó khăn như bài tập toán hình
đa dạng, phong phú, nếu không có thời gian nghiên cứu và phương pháp lựa
chọn thích hợp thì dể bị phiến diện, chọn bài tập dễ quá hoặc khó quá, không đủ
thời gian làm dễ gây cho học sinh tâm lí “sợ toán hình” hoặc chán nản. Từ đó
chỉ chú ý vào thủ thuật giải mà quên rèn luyện phương thức tư duy.
Trước đây tôi cũng như nhiều giáo viên dạy toán khác nghĩ tiết luyện tập
chẳng qua chỉ là tiết chữa bài tập nờn khi dạy tiết luyện tập cố gắng chữa càng
nhiều bài tập càng tốt, khụng cần chỳ ý đến các dạng toán và cũng không cần
chuẩn bị bảng phụ, đèn chiếu vỡ hầu như hỡnh vẽ và đề bài tập đều có sẵn trong
sách giáo khoa. Giáo viên cũng không quan tâm học sinh nắm được gỡ, rốn
luyện được kỹ năng nào? Dạy theo phương pháp thầy giảng trũ chộp là chớnh.
Vì vậy chất lượng môn toán qua kiểm tra khảo sát thấp...
* Kết quả khảo sát chất lượng:
5
bộ môn. Tôi đã thử áp dụng một số biện pháp để tiết luyện tập Hình học 7 đạt
hiệu quả, đó là:
+ Yêu cầu học sinh nắm chắc phần kiến thức.
+ Trong tiết luyện tập chọn giải tại lớp một số bài tập cần thiết.
+ Mỗi bài tập thường thực hiện qua 4 bước: Tìm hiểu đề bài, tìm tòi lời giải,
trình bày lời giải, nghiên cứu thêm về lời giải.
+ Ra thêm một số bài tập ở ngoài.
Nhờ đó chất lượng kiểm tra cuối năm đạt cao hơn.
Đầu năm học 2008 - 2009, sau khi dạy tiết luyện tập về hai đường thẳng
song song tôi cho học sinh lớp 7A trường THCS Sơn Thuỷ kiểm tra bài 15 phút.
Đề bài là một bài tập vận dụng dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song để
chứng tỏ rằng hai đường thẳng song song. Kết quả cho thấy số học sinh đạt điểm
khá giỏi chưa cao (22,9 %), vẫn còn nhiều học sinh bị điểm yếu, kém (42,9%).
Cụ thể như sau:
Tổng
số HS
35
Điểm 0 - 2
SL
%
3
8,6
Điểm < 2 - < 5
SL
%
12
34,3
Muốn vậy giáo viên cần nắm vững nội dung tiết dạy gồm những kiến thức
mới nào được bổ sung, kĩ năng nào cần rèn luyện, bài tập nào khó, bài tập nào là
trọng tâm, có thể phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh. Giáo viên còn phải
nắm được kiến thức, kĩ năng cụ thể đã có sẵn ở học sinh với mức độ nào, từ đó
xây dựng một hệ thống bài tập từ dễ đến khó, chọn các thể loại bài tập đa dạng
ứng với từng phần lí thuyết cần kiểm tra, loại bài tập cần rèn luyện kĩ năng, loại
bài tập vận dụng toán học vào thực tế, loại bài tập mở với mức độ vừa phải,
thích hợp trình độ học sinh, giúp các em tự tin ở mình, không sao chép lời giải
có sẵn.
* Ví dụ: Đối với tiết luyện tập về Tổng ba góc trong một tam giác, trước tiên
giáo viên chọn một bài tập dễ là tính số đo góc trong hình vẽ có sẵn để Hs được
cũng cố kiến thức lí thuyết cơ bản: Tính số đo x ở các hình sau:
M
1 x
A
x
60
55
7
Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
N
P
40
∠ B = ∠ C = 400(GT). ∠ yAB = ∠ B + ∠ C = 40 0 + 40 0 = 80 0
40
C
(định lí về goực
ngoaứi cuỷa tam giaực )
Ax laứ phaõn giaực cuỷa ∠ yAB => ∠ A1= ∠ A2 = ∠ yAB : 2=400
Vaọy ∠ B = ∠ A2 =400 maứ ∠ B vaứ ∠ A2 ụỷ vũ trớ so le trong => Ax // BC
(ẹũnh lyự 2 đường thẳng song song).
- Bài tập áp dụng thực tế: Bài 9\109 SgkToán 7/1: Hình 59 biễu diễn mặt cắt
ngang của một con đê. Để đo góc nhọn MOP tạo bởi mặt nghiêng của con đê với
phương nằm ngang, người ta dùng thức chữ T và đặt như hình vẽ. (OA ⊥ AB).
Tính góc MOP, biết rằng dây dọi BC tạo với trục BA một góc ∠ ABC = 320
* Biện pháp 2:
Giáo viên cần phải tạo cho học sinh có một động cơ ham muốn khám phá
cách giải mới, một phát hiện mới trong tiết luyện tập hình học. Đây là biện pháp
cần thiết tạo nên tính tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập cho học sinh.
Muốn vậy ta có thể lật ngược vấn đề, xét tính tương tự, giải quyết một mâu
thuẫn của bài toán hoặc xuất phát từ một nhu cầu thực tế của xã hội...
8
Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
9
Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
GV hướng dẫn để học sinh tự nêu ra được sơ đồ chứng minh:
Chứng minh ∆ BIC cân.
A
⇑
∠ IBC = ∠ ICB
⇑
∠ ABH = ∠ ACK
K
⇑
H
I
∆ ABH = ∆ ACK
⇑
B
∠ ABH = ∠ ACH ; AB = AC ; ∠ A : góc chung (Giả thiết).
em.
* Biện pháp 5:
Tiến hành bài giảng theo quy trình của tiết luyện tâp. Phần kiểm tra
miệng nên kết hợp với phần chữa bài tập hoặc làm các bài tập mới để tiết kiệm
thời gian. Với đặc điểm “vừa ôn, vừa luyện” của tiết luyện tập, học sinh phải
nêu được các định lí, quy tắc... đã học được áp dụng trong lời giải. Việc đánh
giá, cho điểm học sinh cần đúng mức, tôn trọng ý kiến nhận xét giữa các học
sinh với nhau.
Phần chữa bài tập về nhà cho một vài học sinh lên bảng trình bày, học sinh
cả lớp nhận xét lời giải của bạn, tự tổng kết ưu khuyết điểm, học sinh tự cho
điểm lẫn nhau, và dựa vào đó để giáo viên cho điểm học sinh. Sau đó giáo viên
chốt lại vấn đề qua bài tập này. Giáo viên đưa ra bài giải mẫu và các bài tập mới
có thể làm lại bài tương tự cho đối tượng học sinh trung bình - yếu, bài tập mở
cho học sinh khá - giỏi, bài tập tổng hợp hệ thống kiến thức cho cả ba đối tượng.
Nhưng phải chú ý đến số lượng bài tập, dự kiến thời gian và những vấn đề cần
chốt lại sau khi giải bài tập này. Hết sức chú trọng kĩ năng tính toán, kĩ năng suy
luận logíc, thuật toán...
Phần cũng cố cần cho học sinh tự nêu ra được kiến thức cơ bản, kĩ năng
cần rèn luyện phương pháp giải bài toán trong tiết dạy. Những bài tập cho về
nhà cần được lựa chọn cẩn thận, hướng dẫn từng bài tập cho học sinh yếu kém,
học sinh giỏi. Số lượng bài tập cần hạn chế sao cho đủ dạy và học sinh đủ thời
gian làm bài. Việc giải bài tập ở nhà là một hoạt động độc lập của học sinh nên
yêu cầu học sinh học kĩ lí thuyết trước khi làm bài tập. Giáo viên nên dành ít
phút hướng dẫn giải bài tập ở nhà cho học sinh.
* Cụ thể tôi lần lượt thực hiện các bước của tiết luyện tập như sau:
11
Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
Bài tập 25 Toỏn 7 tập 1 (bảng phụ hoặc giấy trong): Hỡnh 82, 83, 84/118
SGK
A
G
H
1 2
E
B
C
I
D
K
Hỡnh 82
Hỡnh 83
N
M
2
QP = NP
MP là cạnh chung
Nhưng góc M1 khụng phải là gúc xen giữa hai cạnh MP và NP
Nhưng góc M2 khụng phải là gúc xen giữa hai cạnh MP và PQ
Nờn trong hỡnh 84 khụng cú hai tam giỏc nào bằng nhau.
13
Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
Hoặc bảng phụ (giấy trong) cú thể là một bài chứng minh hỡnh học ỏp
dụng khi giỏo viờn phõn tớch gợi mở học sinh đưa ra hướng chứng minh bằng
miệng. Giáo viên tổng hợp lại thành bài chứng minh hoàn chỉnh ( bằng bảng
phụ) mục đích cho học sinh nắm bài giải mẫu và rèn cho học sinh kĩ năng trỡnh
bày một bài chứng minh hỡnh học.
Vớ dụ: Bài tập nâng cao: Cho tam giác ABC có ba góc nhọn vẽ AD vuông
góc với AB, AD = AB và D khác phía C đối với AB, vẽ AE vuông góc với AC,
AE = AC và E khác phía B đối với AC,
E
Chứng minh rằng: a) DC = BE
b) DC ⊥ BE
D
A
∆ ABC.( có ba góc nhọn)
GT:
Trong tam giác HDB có ∠ HDB + ∠ DBH = 900 nên ∠ DHB = 900
Vậy DC ⊥ BE.
14
Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
* Bảng phụ (Máy chiếu) có thể tìm sai lầm trong lời giải
Vớ dụ: Tam giỏc GHI cú bằng tam giỏc MLK khụng ?
K
H
800
G
800
300
3
I
L
ơ300
3
M
- Phân tích những sai lầm, nguyên nhân dẫn đến sai lầm đó (nếu có).
- Khẳng định những chổ làm đúng, làm tốt của học sinh để kịp thời động viên
các em.
- Đưa ra các cách giải khác ngắn gọn hơn, thông minh hơn hoặc vận dụng lí
thuyết một cách linh hoạt hơn.
Ví dụ: Khi dạy bài luyện tập về trường hợp bằng nhau g.c.g của hai tam
giác. Gv gọi 2 học sinh đồng thời lên bảng thực hiện hai yêu cầu sau:
Học sinh 1: Phát biểu các trường hợp bằng nhau của hai tam giác mà em đã
học. Vẽ hình ghi giả thiết, kết luận trường hợp g.c.g.
Học sinh 2: Chữa bài tập 35.T123 Sgk.....
Sau khi hai học sinh làm xong giáo viên cho học sinh dưới lớp nhận xét lời
giải của bạn sau đó giáo viên nhận xét cho điểm, chốt lại cách làm đúng. Cuối
cùng cho học sinh nêu cách giải khác ∆ AOC = ∆ BOC (c.g.c).
3.2 Chọn giải tại lớp một số bài tập trọng tâm kiến thức trong hệ thống bài
tập của sách giáo theo các yêu cầu sau:
- Bài tập áp dụng kiến thức bài học ở cấp độ nhận biết giúp học sinh nhớ
hoặc nhận ra một khái niệm cơ bản, một định nghĩa hay một định lí hình hoc...
- Bài tập áp dụng kiến thức có sự phát triển, mang tính sáng tạo khác với
cách trình bày của sách giáo khoa, học sinh có thể giải quyết được những vấn đề
mới ở cấp độ vận dụng.
- Kiểm tra ngay được sự hiểu biết của học sinh phần kiến thức mở rộng
hoặc kiến thức sâu hơn mà giáo viên đã đưa ra đầu tiết học (nếu có).
- Rèn luyện các phẩm chất trí tuệ: Chọ phương án giải nhanh, hợp lí, rèn
tính linh hoạt, sáng tạo qua cách giải khác của mỗi bài tập.
- Khắc sâu và hoàn thiện phần lí thuyết qua các bài tập mang tính thực tế.
Đối với tiết luyện tập sau bài trường hợp bằng nhau g.c.g của hai tam giác,
giáo viên chọn các bài như sau:
16
Cho tam giỏc ABC Các tia phân giác của các góc B và C cắt nhau ở I.
Vẽ ID ⊥ AB (D ∈ AB), Vẽ IE ⊥ BC (E ∈ BC), Vẽ IF ⊥ AC (F ∈ AC)
Chứng minh rằng ID = IE = IF.
c. Ra thờm bài tập ở ngoài:
Vớ dụ: Cho tam giỏc ABC cú AB = AC. Tia phõn giỏc của gúc A cắt BC tại M.
Chứng minh rằng:
a, ∆ ADB = ∆ ADC
b, ∠ B = ∠ C.
Quỏ trỡnh giải cỏc bài tập trọng tõm của tiết luyện tập thường qua bốn bước
sau:
17
Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
* Tỡm hiểu đề toán:
* Tỡm tũi lời giải:
* Trỡnh bày lời giải
* Nghiờn cứu thờm về lời giải
Ví dụ: Hình bên cho biết AB//CD; AD//BC
A
B
Chứng minh rằng: AB = CD; AD = BC.
* Tỡm hiểu đề toán:
D
C
18
Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
Bước 3: Suy ra cặp cạnh (cặp góc) tương ứng bằng nhau.
Từ đó học sinh sẽ phán đoán để chứng minh AB = CD; AD = BC.
Bằng cách chứng minh hai tam giác ABD và CDB bằng nhau
* Tỡm tũi lời giải:
Cùng với học sinh phân tích, dự đoán, liên hệ đến các bài toán đó giải….để
tỡm ra cỏch giải quyết bài toỏn, chẳng hạn, ở bài toỏn trờn. Ta phõn tớch bằng
sơ đồ cây như sau:
∠ADB = ∠DBC ( so le trong ) do AD // BC ( gt )
AB = CD
BD canh chung
⇐ ∆ABD = ∆CDB ⇐
AD = BC
∠BDC = ∠ABD ( so le trong ) do AB // DC ( gt )
Với sơ đồ trên, ta bắt đầu từ phải qua bằng cách đặt câu hỏi, giải thích cơ
sở lý luận của cỏc biến đổi, lúc đó ta đó tỡm ra lời giải bài toỏn.
* Trỡnh bày lời giải:
Uốn nắn, sửa chữa để đưa ra cách trỡnh bày hợp lý cho lời giải của bài
toỏn, cú một số học sinh hiểu và nhận dạng được bài toán nhưng lại không có kĩ
năng trỡnh bày bài giải dẫn đến chưa giải quyết được yêu cầu của bài toán. Do
đó giúp học sinh hỡnh thành kĩ năng trỡnh bày chứng minh là điều rất quan
trọng trong việc dạy học môn toán đặc biệt là hỡnh học.
* Nghiờn cứu thờm về lời giải:
- Nhỡn lại toàn bộ cỏc bước giải, rút ra phương pháp giải một loại bài toán
Kết quả kiểm tra chương 3 hình học ở lớp 7A trường THCS Phú Thuỷ
năm học 2007- 2008 như sau:
Tổng
số HS
45
Điểm 0 - 2
SL
%
0
0
Điểm < 2 - < 5
SL
%
10
22,2
Điểm TB
SL
%
35
77,8
Điểm K + G
SL
%
16
35,6
SL
%
0
0
Điểm
- Tạo cho học sinh một động cơ ham muốn khám phá một cách giải mới,
một phát hiện mới... Muốn vậy giáo viên cần hướng dẫn học sinh có thói quen
học lại phần lí thuyết và làm ngay các bài tập ra về nhà, áp dụng kiến thức vừa
học vì khi đó bài giảng của thầy trên lớp phần nào còn động lại trong tâm trí các
em. Do đó đỡ mất thời gian học lại.
- Chọn giải tại lớp một số bài tập cần thiết, ra đúng thời điểm cần thiết, bài
dễ chuẩn bị cho bài khó, bài trước là một cách giải gợi ý cho bài sau. cứ thế học
sinh có thể tự mình giải quyết những vấn đề mới đặt ra, tự mình làm được công
việc của người khám phá kiến thức. Cần tránh quan điểm giải càng nhiều bài
càng tốt, và mỗi bài tập cần có sự chọn lọc, có sự khai thác triệt để kiến thức.
- Cho học sinh thấy tiết luyện tập không phải chỉ là tiết chữa bài tập mà
chính là tiết họcgiúp học sinh suy nghĩ giải toán.
Trong mỗi bài toán học sinh phải thực hiện qua 4 bước:
* Tỡm hiểu đề toán:
* Tỡm tũi lời giải:
* Trỡnh bày lời giải
* Nghiờn cứu thờm về lời giải
Khi đưa ra lời giải mẫu của giáo viên cần đạt các yêu cầu sau:
- Lời giải đúng, không có sai lầm.
- Lời giải có cơ sở lí luận
- Lời giải phải đầy đủ
- Lời giải đơn giản nhất
- Sử dụng phương pháp dạy học tích cực bằng cách dùng phương pháp
phân tích đi lên, bằng phương pháp dạy học nêu vấn đề.
- Tác động đến cả ba đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh yếu kém sao
cho học sinh suy nghĩ nhiều hơn, làm việc nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn
nhưng nội dung phải vừa đủ để tiết học diễn ra nhẹ nhàng, thoải mái.
23
Liên hệ: SĐT 0946.734.736 hoặc Mail: [email protected]
tài liệu khác. Phát huy hơn nữa tỡnh thần tương thân tương trợ giúp đỡ lẫn nhau
trong học tập, học sinh khá giỏi kèm cặp, giúp đỡ học sinh yếu kém.
Việc dạy học là một quá trình phức tạp và đầy cam go đòi hỏi người giáo
viên phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Luôn tìm ra hướng đi đúng đắn cho quá trình dạy học của bản thân, biết kế thừa
và vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm mà các thế hệ đi trước đã truyền lại.
Bên cạnh đó đòi hỏi học sinh phải hợp tác một cách tích cực thì nhiệm vụ mới
thành công được.
II. NGUYÊN NHÂN THÀNH CÔNG VÀ MỘT SỐ TỒN TẠI CẦN KHẮC
PHỤC TRONG THỜI GIAN TỚI (KÌ 2 VÀ CÁC NĂM SAU):
1. Nguyên nhân thành công:
Đạt được những kết quả như trên là nhờ:
- Bản thân giáo viên đã tích cực nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị kĩ bài dạy
trước khi lên lớp, tổ chức tiết học nhẹ nhàng, tạo được hứng thú học tập cho học
sinh.
- Giáo viên đã biết ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học nên tạo
được hứng thú học tập cho học sinh.
- Học sinh đã xây dựng được động cơ học tập đúng đắn, chủ động, tích cực,
sáng tạo trong làm bài, hợp tác tốt với bạn bè và giáo viên.
- Học sinh đã nắm vững các kiến thức cơ bản từ lớp 6 đến lớp 7, nắm được
phương pháp giải nên kết quả bài làm đạt kết quả cao.
2. Một số tồn tại cần khắc phục trong thời gian tới:
Những biện pháp dạy học tiết luyện tập hình học lớp 7 mà tôi đã thực hiện
trong thời gian qua mặc dù đã khắc phục được phần nào những hạn chế, nâng
cao được chất lượng học môn hình học cho học sinh, các em hứng thú hơn trong
học tập, tiết học hình trở nên nhẹ nhàng hơn... Song bên cạnh đó vẫn còn một số
tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới như: