vai trò và tầm quan trọng của địa chính trị và địa chiến lược đối với đất nước ấn độ - Pdf 22

TRY IT – YOU WILL LIKE IT !
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
BÀI TIỂU LUẬN MÔN ĐỊA CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI
VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỊA CHÍNH TRỊ VÀ ĐỊA
CHIẾN LƯỢC ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC ẤN ĐỘ.
Giảng viên hướng dẫn : Trần Nam Tiến
Sinh viên thực hiện : Lê Văn Hậu
Lớp : K12402B
MSSV : K124020312
Page 1
TRY IT – YOU WILL LIKE IT !
Mục lục
I. LỜI MỞ ĐẦU
ộng hoà Ấn Độ xuất hiện trên bản đồ thế giới vào ngày 15 tháng 8 năm
1947. Sự thiết lập nhà nước Ấn Độ là đỉnh cao của cuộc đấu tranh của
những người tại Nam Á để thoát khỏi ách thống trị của Đế quốc Anh. Ấn
Độ có nền văn minh sông Ấn (Indus) phát triển rực rỡ cách đây 5 nghìn
năm.Có lẽ hiếm thấy đất nước nào có một vị thế địa lí đẹp như Ấn Độ - lưng dựa vào
dãy Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ nhất thế giới, mặt nhìn ra Ấn Độ Dương biển cả mênh
mông, lại còn có 2 con sông lớn là Ấn Hà và Hằng Hà như hai dòng sữa tươi nuôi
một bình nguyên bao la và cũng là cái nôi của nền văn minh nông nghiệp định cư vào
thời cổ đại.
C
Page 2
TRY IT – YOU WILL LIKE IT !
II. Khái quát sơ lược về Ấn Độ
1. Điều kiện tự nhiên
Cộng hòa Ấn Độ là một quốc gia ở khu vực Nam Á,có diện tích lớn thứ bảy trên thế giới
(3.287.590 km2). Địa lý Ấn Độ khá đa dạng, bao gồm nhiều miền khí hậu khác biệt từ những
dãy núi phủ tuyết cho đến các sa mạc, đồng bằng, rừng mưa nhiệt đới, đồi, và cao nguyên. Ấn

đến trình độ thượng thừa của nghệ thuật điêu khắc không khỏi khiến người nhìn trầm trồ
thán phục
Kiến trúc điêu khắc độc đáo ở Khajuraho
Hay sự độc đáo từ ý tưởng đến cấu trúc của những ngôi đền trong hang ở Ajanta Ellora. Mỗi
nơi có những nét riêng của mình và hợp lại tất cả chúng tạo thành vẻ đẹp quyến rũ mê hồn
của Ấn Độ
Cấu trúc đền trong hang độc đáo
.Nơi đây hội tụ cả cái mới và cái cũ,hiện đại và cổ kính,vừa sôi động mà trầm mặc.Rõ ràng
đây là một lợi thế rất lớn của Ấn Độ để phát triển ngành công nghiệp không khói này.Và
Page 4
TRY IT – YOU WILL LIKE IT !
thực tế là chính quyền Ấn Độ đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển du lịch,dịch
vụ ,bảo tồn các di tích văn hóa thu hút khách tham quan từ mọi nơi trên thế giới.Tuy nhiên
những tồn tại trong xã hội đã cản trở sự phát triên của nó,nạn hiếp dâm hoành hành không
chỉ là vấn nạn vô cùng nghiêm trọng,nó cản đẩy lùi sự phát triển xã hội và cũng gây không
ít tiếng xấu cho ngành du lịch trong nước.
2. Kinh tế - xã hội
a. Dân cư – xã hội
Ấn Độ là quốc gia có dân số đông hàng thứ hai thế giới với 1.120,26 triệu người và một
mật độ dân số bình quân 328,5 người/km2 (tháng 7/2005). Khoảng 73% dân số Ấn Độ sống
trong vùng nông thôn. Trái với Trung Quốc đang áp dụng những biện pháp chặt chẽ nhất để
hạn chế sự gia tăng dân số, ở Ấn Độ, đà gia tăng dân số vẫn diễn biến nhanh. Chỉ trong 10
năm, từ năm 1981 đến năm 1991, dân số đã tăng gần 24%. Tỉ lệ tăng dân số là 1,4% (2005).
Tính đa dạng về phương diện sắc tộc và văn hóa của Ấn Độ thể hiện ở sự hiện diện trên
tiểu châu lục này nhiều tộc người khác nhau đến từ những vùng đất nay là Pakistan,
Bangladesh, Nepal, Bhutan, Sri Lanka Nhóm người Ind-Aryan chiếm đa số (72%), kế đến
là nhóm Dravidian (25%), nhóm Mogoloid và các nhóm sắc tộc khác chiếm 3% còn lại. Ấn
Độ có rất nhiều ngôn ngữ khác nhau, tựu trung chia thành hai nhóm ngôn ngữ chính, đó là
nhóm Indo-Aryan được sử dụng phần lớn ở phía Bắc và nhóm Dravidian, hầu hết ở miền
Nam. Ngoài ra, còn có nhóm ngôn ngữ Trung Quốc-Tây Tạng của những người sống dọc

vafoquas trình sản xuất… đã thu được những kết quả thần kỳ.Từ một nước thiếu đói quanh
năm,sản lượng lương thực không quá nổi 20 triệu tấn,đầu thập niên 1970,
Cơ khí hóa trong nông nghiệp
Ấn Độ đã hoàn tất mục tiêu tự túc về lương thực, mặc dù số thực phẩm không được phân
phối đồng đều trong dân và thường thiếu hụt khi sắp đến mùa thu hoạch. Đến cuối thập niên
1970, chính phủ bắt đầu giảm bớt sự kiểm soát đối với nền kinh tế; tuy nhiên đến năm 1991,
nhà nuớc vẫn còn điều tiết hay tự điều hành nhiều ngành công nghiệp, trong đó có khoáng
sản và mỏ đá, ngân hàng và bảo hiểm; vận chuyển và lưu thông; sản xuất và xây dựng.
Trong năm này, một cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra buộc chính phủ phải đề ra những
biện pháp cải cách kinh tế quan trọng. Sau chiến tranh vùng vịnh (1990-1991), giá dầu hỏa
gia tăng, Ấn Độ đứng trước tình trạng mất thăng bằng của cán cân chi phó, phải trông nhờ
Page 7
TRY IT – YOU WILL LIKE IT !
vào tiền vay của những tổ chức kinh tế quốc tế và chấp nhận những cải tổ sâu rộng nhằm tự
do hóa nền kinh tế của mình. Những cải tổ này nhắm vào hai mục tiêu chính là điều chỉnh
chính sách đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài, đồng thời loại bỏ các hệ thống thuế khóa
và hạn ngạch là nguyên nhân của những trì trệ trong thương mại. Năm 1993, Ấn Độ bắt đầu
chấp nhận một hệ thống ngân hàng tư nhân do người Ấn làm chủ song song với một số ít
ngân hàng nước ngoài.
Những cải cách kinh tế đem lại hiệu quả rõ rệt. Những năm 1996-1997, đầu tư nước
ngoài lên gần 6 tỉ USD, tăng rất nhanh so với con số 165 triệu USD trong hai năm 1990-
1991. Cũng trong thời kỳ này, lượng hàng xuất nhập khẩu tăng lên, đời sống kinh tế khá
hơn, thành phần trung lưu cũng nhờ thế mà đông hơn, chiếm khoảng 20 đến 25% tổng dân
số vào giữa thập niên 1990. Tỉ lệ tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ trong hơn một thập kỷ
khoảng trên 6%/năm. Năm 2004, GDP của Ấn Độ tăng 6,2%, tỉ lệ lạm phát ở mức 4,2%.
Hiện nay, Ấn Độ được xếp thứ 6 thế giới về sức hấp dẫn FDI (sau Mỹ, Trung Quốc, Anh,
Braxin và Mêhicô); xếp thứ 25 về tổng FDI. Thu nhập đầu người trên 500 USD/năm. Chính
phủ mới ra mục tiêu tăng trưởng trung bình 7-8%. Mục tiêu của Ấn Độ là trở thành một
nước phát triển vào năm 2020.
c. Khoa học công nghệ

khoa học, thông tin liên lạc, giáo dục, y tế, môi trường, quân sự, quản lý tài nguyên, dự báo
thời tiết và trở thành công cụ chủ đạo đưa quốc gia Nam Á này phát triển và hội nhập.
• Năng lượng hạt nhân
Là quốc gia châu Á đầu tiên có điện nguyên tử và trở thành thành viên thứ sáu trong Câu lạc
bộ hạt nhân thế giới, Ấn Độ đang vững tin thực hiện tầm nhìn chiến lược của mình. Mục
tiêu cốt yếu của chương trình năng lượng hạt nhân của quốc gia này là phát triển và sử dụng
nguồn năng lượng này vì mục đích hòa bình. Ấn Độ đã thực hiện tốt chương trình chiến
lược sản xuất điện hạt nhân và coi nguồn năng lượng này đóng một vai trò chủ đạo trong
vấn đề an ninh năng lượng lâu dài.
Page
10
TRY IT – YOU WILL LIKE IT !
Hạt nhân ứng dụng cho quân sự và dân sự
III. Địa chính trị - Địa chiến lược và vai trò của nó
trong việc hoạch định chính sách phát triển của
Ấn Độ
Địa-chính trị (Geo-politics) là thuật ngữ chỉ nghệ thuật, cách thức sử dụng quyền lực hay
ảnh hưởng chính trị trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.Hay địa chính trị là mối quan hệ
nhân quả giữa quyền lực chính trị và không gian địa lý mà ở đó không gian địa lí sẽ ảnh
hưởng đến quyền lực chính trị của một quốc gia. Tuy nhiên theo cá nhân tôi thì quyền lực
chính trị cũng có thể tác động ngược trở lại không gian địa lí. Cụ thể,khi một đất nước giáp
ranh với nhiều nước thì cần phải chú ý đến an ninh biên giới quốc gia,đảm bảo cho một sự
hòa bình ổn định ở khu vực này; tuy nhiên theo ý kiến chủ quan của óc nhân thì một khi
quốc gia nào đã có quyền lực chính trính trị thì có thể sử dụng nó để mở rộng biên giới
quốc gia hay tăng tính phụ thuộc của các nước khác vào quốc gia mình.Là một mô nkhoa
học trẻ ,mới chỉ ra đời cách đây hơn 100 năm (trước đó hai bộ môn địa lý và chính trị đã tồn
tại độc lập với nhau ). Bộ môn Địa - Chính trị là một môn khoa học liên ngành,nó tập trung
nghiên cứu các sự kiện chính trị, diễn biến chính trị theo các khu vực từ không gian hẹp của
một vùng,một địa phương,một quốc gia,một khu vực đến châu lục và trên phạm vi toàn
cầu.Mặc dù các diễn biến chính trị trong các khu vực này có ảnh hưởng đến nhau nhưng

Makêdonia-Hy Lạp của Alexander Đại đế thế kỷ 4 trước Công nguyên,các đế quốc Hồi giáo
ở Trung Á – trong đó có Đế quốc Hồi giáo Sultan,đặc biệt là Đế quốc Hồi giáo Mogul – trị vì
Ấn Độ từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 18;và cuối cùng là Đế quốc Anh thế kỷ 19-20.Do bị mái nhà
Himalaya che chắn ở phía Bắc nên những cuộc chinh phục của các Đế quốc trên đều đi theo
con đường khác vào Ấn Độ.
Nhìn vào bản đồ ta cũng có thể thấy Ấn Độ là một đất nước có địa hình mở ra đại
dương,ngoại trừ phần đất kẹt phía sau Bangladesh thì Ấn Độ có tới 2/3 chiều dài tiếp giáp với
biển.Ở phía Bắc, Ấn Độ có một loạt dãy núi,trong đó có dãy Himalaya cao nhất thế giới,áng
ngữ như một mái nhà che chắn.Với bối cảnh như vậy,người ta còn xem xét phải nghiên cứu
Ấn Độ trong bối cảnh địa lí như một tiểu lục địa Ấn Độ,tức là một tiểu lục địa có thể tự cung
Page
13
TRY IT – YOU WILL LIKE IT !
tự cấp,không phụ thuộc vào bên ngoài.Tiểu lục địa này bao gồm các nước : Ấn Độ,
Pakistan,Bangladesh và Butan.Xét về mặt vị trí địa lí,với phía Tây-Bắc,Bắc và Đông-Bắc
được che chắn bởi núi non hiểm trở,phía Đông-Nam,Nam và Tây-Nam tiếp giáp với đại
dương bao là,khu vực tiểu lục địa Ấn Độ này được người ta ví như một hòn đảo.
Về mặt địa lí tự nhiên,George Friedman đã chia tiểu lục địa Ấn Độ thành bốn khu vực sau :
o Vòng cung núi non trải dài từ bờ biển Arabia đến vịnh Bengal.
o Đồng bằng Bắc Ấn,trải rộng từ miền Đông Nam Delhi qua vùng châu thổ sông
Hằng đến biên giới Myanmar và từ chân núi Hymalaya đến chân vùng đồi phía
Nam.
o Khu vực bán đảo Ấn Độ,chạy nhô ra Ấn Độ Dương ở phía Nam,với địa hình đất
đai đa dạng nhưng chủ yếu là đồi núi.
o Khu vực sa mạc phía Tây,nằm giữa đồng bằng Bắc Ấn và vùng châu thổ sông
Indus của Pakistan.
Người ta cũng thường so sánh tiểu lục địa Ấn Độ với phần châu Âu,không kể nước Nga,bởi
vì cả hai đều có thể được coi là bán đảo nhô ra khỏi lục địa Á-Âu.Tuy nhiên diễn biến chính
trị ở hai kkhu vực lại hoàn toàn khác nhau.
Ở châu Âu,nhiều quốc gia được hình thành nương theo các đường biên giới dựa trên các dãy

mới chỉ dừng lại ở việc tạo ra các vùng đệm ở khu vực Trung Nguyên cho người Hán,chứ
chưa có các chiến dịch trinh phục mang tầm cỡ khu vực và quốc tế.
Theo G.Friedman,để trở thành một quốc gia độc lập,ổn định và vững chắc thì Ấn Độ cần phải
đáp ứng được những yêu cầu sau đây :
• Thực hiện được quyền bá chủ tại khu vực sông Hằng.Những đồng bằng bao la ở đây
thuộc loại phì nhiêu nhất trên thế giới và có khả năng đảm bảo cuộc sống cho một
lượng lớn dân cư.Ấn Độ cần phải trở thành một cường quốc hàng đầu tại khu vực
trung tâm này
• Mở rộng quyền kiểm soát khu vự trung tâm cho đến khi chạm đến mọi hàng rào tự
nhiên.Ngoài rừng cây,đồi núi,sông ngòi,ít có cái gì khác trong tiểu khu vực này có thể
hạn chế được đòi hỏi của Ấn Độ.
• Vượt qua mảnh đất nhỏ ngăn cách lưu vực sông Hằng với sông Indus và áp đảo khu
vực Indus(pakistan).Đồng bằng sông Indus là bất động sản khác duy nhất trong tầm
với của Ấn Độ và cái hành lang dẫn đến nó là con đường xâm nhập trên đất liền dành
cho Ấn Độ.
• Sau khi đặt được toàn bộ tiểu khu vực này dưới tầm kiểm soát (hoặc ít nhất là ảnh
hưởng ) của một quyền lực trung ương,Ấn Độ phải xây dựng hải quân.Do vị trí cách
biệt của tiểu lục địa Ấn Độ,bất cứ một sự bành trướng nào của Ấn Độ về phía Ấn Độ
Dương đều phụ thuộc vào hải quân.Mặt khác một lực lượng hải quân hùng mạnh sẽ
đóng vai trò vật cản đối với bất cứ thế lực bên ngoài nào muốn thâm nhập vào bên
trong tiểu lục địa này từ phía biển.
Những yêu cầu nói trên sẽ định hình thái độ ứng xử của bất cứ chính quyền nào của Ấn Độ
,chúng ta sẽ xác định Ấn Độ với tư cách là một quốc gia – một quốc gia được định hình bởi điều
kiện địa lí độc đáo của nó.Và đó cũng là ý nghĩa của Cộng hòa Ấn Độ.
Page
15
TRY IT – YOU WILL LIKE IT !
2. Ấn Độ và những mối quan hệ chính trị hiện đại
Giai đoạn hiện nay của Ấn Độ được tính từ khi đất nước giành lại được độc lập từ tay Đế
quốc Anh năm 1947.Để cho thấy tầm quan trọng của Ấn Độ trong hệ thống thuộc địa của

phải là mối nguy hiểm của nước này.
Page
16
TRY IT – YOU WILL LIKE IT !
Thế nhưng giữa Ấn Độ và Trung Quốc đã xảy ra chiến tranh biên giới.Đó là cuộc xung đột
không có hồi kết xảy ra vào năm 1962 ở hai khu vực biên giới nói trên.Hiện tại,Ấn Độ vẫn đang
đòi chủ quyền đối với vùng đất ở phía Bắc giáp với bang Kashmir do Trung Quốc đang kiểm
soát.Nhưng cuộc xung đột này không phải là cuộc đụng độ của hai đế quốc,mà là sự chanh chấp
đất đai của hai nước láng giềng.Cũng chính vì thế,mặc dù chưa có lý do nào để Ấn Độ phải lo
ngại về một cuộc chiến tranh tổng lực giữa hai nước,nhưng họ vẫn coi Trung Quốc là một đối thủ
cần phải cảnh giác.
Thậm chí ngày nay,khi Trung Quốc đang có tham vọng mở rộng lợi ích ra toàn thế giới thì
nhiều học giả,sỹ quan quân đội và quan chức Ấn Độ cho rằng Trung Quốc là vấn đề an ninh số
một của Ấn Độ.Chính vì thế mà một học giả Ấn Độ cho rằng,việc hải quân của họ năm 2002 đã
có lần thâm nhập đến tận khu vực Biển Nam Trung Hoa (tức là biển đông của Việt Nam ) “là một
điều tốt nếu Trung Quốc cảm thấy bị đe dọa bởi hành động này của chúng tôi.Chúng tôi có ý định
gửi đi một thông điệp và họ đã nhận được thông điệp này của chúng tôi ”.Có thể nói là Ấn Độ
đang rất muốn lìm chân Trung Quốc ở bên kia Eo biển Malacca.
b. Quan hệ giữa Ấn Độ với nước Nga, Mỹ, Pakistan
Theo quan điểm của G.Friedman,sau khi giành được độc lập từ tay Đế quốc Anh,thì mối quan
hệ chiến lược nhất của Ấn Độ là mối quan hệ vơi Liên Xô,bởi vì giữa hai nước có một sự gần gũi
nhất định về hệ tư tưởng.Tuy nhiên lợi ích quốc gia cơ bản nhất của Ấn Độ không phải là chủ
nghĩa Mác,mà việc tạo ra một nhà nước có khả năng chống lại một thứ chủ nghĩa đế quốc
mới.Khi đó đang là thời kỳ chiến tranh lạnh,Liên Xô và Mỹ đang tham gia vào một cuộc cạnh
tranh tổng lực toàn cầu,và trong cuộc cạnh tranh của hai siêu cường ấy,Ấn Độ trở thành một
chiến lợi phẩm rất đáng giá.Để tránh nguy cơ rơi vào tình trạng bị thống trị một lần nữa,Ấn Độ
buộc phải trọn một trong hai siêu cường làm đối tác chiến lược cho mình để kiềm chế đối thủ
kia.Và sau khi cân nhắc các điều kiện địa chính trị,Ấn Độ quyết định chọn Liên Xô.Đó là vì lúc
bấy giờ Liên Xô không có đường bộ dẫn đến Ấn Độ,cũng không có lực lượng hải quân đủ mạnh
để có khả năng vươn tới nước này.Trong khi ấy Hoa Kỳ lại có một lực lượng hải quân mạnh đủ

hệ này sẽ cản trở sự hoạt động của hải quân Mỹ ở Ấn Độ Dương.Thế là,để chống lại Ấn Độ,Mỹ
ủng hộ Pakistan-đối thủ truyền kỳ của Ấn Độ.
Ngày nay,kể từ khi Liên Xô tan rã vào cuối năm 1991,nước Nga kế thừa vị trí quốc tế của Liên
Xô,tuy nhiên cuộc khủng hoảng trầm trọng trong nước không cho phép nước này mở rộng tầm
ảnh hưởng ra bên ngoài như Liên Xô thời trước mà phải lo củng cố nội bộ trong nước.Hoa Kỳ
không còn đối thủ cạnh tranh mà trở thành siêu cường duy nhất.Vì thế,Ấn Độ giờ đây không còn
là con bài quan trọng để tranh giành giữa Hoa Kỳ và những siêu cường khác nữa.Trong tình hình
đó,Ấn Độ quay sang tập trung giải quyết vấn đề tranh chấp với Pakistan.Tuy nhiên việc giải
quyết vấn đề nafycos vẻ như không còn đơn giản như trước nữa khi mà Ấn Độ không còn nhận
được sự ủng hộ từ phía Nga cũng như là Liên Xô,trong khi đó Hoa Kỳ vẫn tiếp tục ủng hộ
Pakistan.
Tuy nhiên,sau vụ khủng bố ngày 11-9-2001,tình hình đã chuyển hướng một cách căn
bản.Chính quyền Taliban ở Afganistan trước đây được Hoa Kỳ ủng hộ hết mình thì giờ đây lại là
kẻ thù số một của Mỹ.Nhưng sự kiện có ý nghĩa quan trọng nhất với Ấn Độ là mối quan hệ giữa
Hoa Kỳ và Pakistan – nước vốn có mối quan hệ rất thân thiết với Taliban – trở nên xấn đi hơn
bao giờ hết,thậm chí nó còn dẫn đến mức gần như tan vỡ.Vậy là đột nhiên quyền lợi của Hoa Kỳ
và Ấn Độ đi đến chỗ gặp gỡ.Cả hai đề muốn Pakistan có hành động chấn áp mạnh tay hơn đố với
các nhóm Hồi giáo cực đoan,cả hai cũng đều không muốn Pakistan phát triển vũ khí hạt nhân.Các
cuộc tiếp xúc giữa phái đoàn,các nhà lãnh đạo cấp cao giữa hai bên có tần suất ngày càng
Page
18
TRY IT – YOU WILL LIKE IT !
nhiều;những bản ghi nhớ hợp tác,cam kết hợp tác phát triển trên nhiều lĩnh vực giữa hai cường
quốc này.
Mỹ-Ấn ngày càng xích lại gần nhau hơn
Tuy nhiên theo G.Friedman,việc lập lại mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ không phải là một
trong những sự thay đổi căn bản trong chiến lược địa chính trị của Ấn Độ.Ấn Độ vẫn là một hòn
đảo bị kiềm tỏa bởi những dãy núi bao quanh gần hết trên đất liền.Mối quan tâm hàng đầu của nó
vẫn là sự thống nhất đất nước của riêng nó.Nó có mộ đối thủ là Pakistan,tuy nhiên đây không đến
mức là đối thủ không thể chinh phục,hiện tại chỉ có Hoa Kỳ là có thể xâm chiếm Ấn Độ,nhưng

thể từ 13% lên 25% mỗi năm.Mặc dù chưa phải là nước phát triển cao,nhưng xét về nhiều mặt,Ấn
Độ đã được các cường quốc khác phải tính đến trong ván bài khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên quan điểm hướng ngoại của Ấn Độ không giống với quan điểm của các nước khác
như Hoa Kỳ,Nga,Trung Quốc hay thậm chia là cả Nhật Bản.Quan điểm hướng ngoại này chủ yếu
vẫn chỉ giới hạn chủ yếu ở khu vực Ấn Độ Dương.Có lẽ vì thế mà Friedman cho rằng mối quan
tâm của Ấn Độ chỉ gói gọn trong tiểu lục đại Ấn Độ.Nhưng chỉ tính riêng trong khu vực Ấn Độ
Dương,Ấn Độ cũng đã gặp không ít thách thức.Tại đây,Ấn Độ không chỉ phải cạnh tranh với các
thế lực bên ngoài như Trung Quốc,Mỹ,Nga … mà còn phải cạnh tranh với các quốc gia bao
quanh Ấn Độ Dương,trong đó có các quốc gia đáng phải chú ý như Pakistan,Myanmar – cả hai
đều có mối quan hệ rất thân thiết với Trung Quốc ( hiện nay xu thế ngoại giao của Myanmar đã
thay đổi theo hướng đa phương hóa hợp tác ) .Ngoài ra còn có một số nước ở bờ Tây và Tây-Bắc
Ấn Độ Dương như Iran và một số nước ở châu Phi;các nước ở bờ Đông Ấn Độ Dương như Thai
Lan hay Malaysia cũng đang muốn có vai trò điều tiết trên Ấn Độ Dương.Trong tình hình đó,với
truyền thống là một quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo,luôn phải giải quyết các vấn đề nội bộ chứ
không phải là một đế quốc có thành tích bành trướng vượt ra khỏi tiểu lục địa Ấn Độ,thì nhiệm
vụ khẳng định được vị trí trên toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương đã là một nhiệm vụ dường như đã
đủ lớn đối với Ấn Độ.
Hiện tại,Ấn Độ đang hy vọng rằng bằng việc lập lại quan hệ với Hoa Kỳ,Ấn Độ sẽ đóng một
vai trò quan trọng trong việc cân bằng lại lược lượng trong mối tương quan giữa Nga,Hoa
Kỳ,Trung Quốc và Ấn Độ.Tuy nhiên,để có thể chủ động,Ấn Độ đang tăng cường tiềm lực quân
sự,trong đó có tiềm lực quân sự hạt nhân.Đồng thời Ấn Độ cũng chú ý phát triển lực lượng hải
quân để có thể đối trọng với lực lượng hải quân Trung Quốc hiện đang nổi lên.Ấn Đooh hiểu rĩ
rằng việc gia tăng lực lượng hải quân sẽ giúp họ đảm bảo việc ngăn ngừa được các nguy cở xâm
nhập từ bên ngoài vào bằng đường biển Ấn Độ,đồng thời có khả năng tham gia cùng các nước
lớn trong việc kiểm soát các con đường giao thông quan trọng giữa Đông và Tây qua Ấn Độ
Dương.Đặc biệt chúng ta biết rằng việc chuyên trở dầu mỏ từ Trung Đông cho khu vực Đông Á –
nhất là Nhật Bản,quốc gia phụ thuộc rất lớn vào lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông – đều
phải đi qua Ấn Độ Dương.Đây là công việc mà trong quá khứ Ấn Độ không có khả năng tham
gia.
Page


Page
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status