tìm hiểu về lịch sử mỹ thuật ứng dụng việt nam - Pdf 22

LỜI MỞ ĐẦU
Tìm hiểu lịch sử mĩ thuật là một việc làm rất cần thiết cho một họa sĩ
một giảng viên mí thuật, nó góp phần làm phong phú những kinh nghiẹm
trong sáng tác vào giảng dạy làm them hiểu tiến trình lịch sử phát triển của
mĩ thuật để từ đó nhận ra được vị trtí của mĩ thuật đương đại, góp phần định
hướng sáng tác và giảng dạy phương pháp sáng tác.
Tìm hiểu về mĩ thuật việt nam lại càng cần thiết qua kinh nghiệm của
ông cha chúng ta càng khẳng định được định hướng sáng tác của mình để
không lạc hướng trong những phong trào sáng tác ồ ạt hiện nay tự chọn cho
mình con đường đúng đắn trong hoạt động sáng tạo. Tìm hiểu được di sản
nghệ thuật tạo hình của quê hương đất nước, ta càng tự hào với truyền thống
tài hoa của những người đi trước, càng vững tin vào phương châm phát triển
nền nghẹ thuật việt nam đậm đà bản sắc dân tộc từ đó tiếp thu chọn lọc tinh
hoa nghệ thuật thế giới. Tiếp tục góp phần của mỗi người chúng ta hiện nay
vào kho tang nghệ thuật tạo hình việt nam.
CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
Hội hoạ là một loại hình nghệ thuật sử dụng đường nét và màu sắc để
khắc hoạ hình ảnh của một sự vật, sự việc hay đôi khi chỉ đơn giản là để tác
giả tự bộc lộ bản thân. Hội hoạ thiên về cảm nhận, đôi khi hơi trừu tượng và
phóng túng.
Kiến trúc đòi hỏi sự chính xác trong từng chi tiết. Một bản thiết kế của
kiến trúc sư trước khi được sử dụng phải trải qua một quá trình tính toán tỉ
mỉ và lao động nghiêm túc.
Điêu khắc cũng là một bộ môn nghệ thuật lý thú. Vật liệu sử dụng
trong điêu khắc thường là đá, đất sét, gỗ Điêu khắc không đòi hỏi sự
chính xác nhiều như kiến trúc nhưng cũng không thể bay bổng như hội hoạ.
"Lột tả được hình dáng chung nhất và giữ được cái hồn của tác phẩm" - đó là
những gì mà một điêu khắc gia phải nhớ.
Đồ hoạ là ngành nghề thu hút sự quan tâm của các bạn trẻ nhiều nhất
hiện nay. Thiết kế đồ hoạ yêu cầu người học phải có hiểu biết về đồ hoạ, sử
dụng đc các chương trình chỉnh sửa và thiết kế. Nó đc ứng dụng trong nhiều

“địa chỉ nghệ thuật, địa chỉ của tác phẩm” chính là cá tính, cái riêng, cái độc
đáo mà bản thân người nghệ sĩ tạo ra trong tác phẩm của chính mình làm
cho nó không bị nhòa lẫn vào trong các tác phẩm của người khác và qua đó
bộc lộ cái hồn cao nhất là tính dân tộc. Tính dân tộc hoàn toàn không phải
hình thức, mà nó là trừu tượng, là cái có thể “cảm thấy” chứ không phải nhìn
thấy như những yếu tố vật lý. Nó tồn tại trong “kẽ hở” của những yếu tố hữu
hình. Giờ đây, chúng ta đang lo lắng vì sợ mất nó trong nền kinh tế thị
trường.
Trước đây hơn mười lăm năm, giới mỹ thuật cả nước đã có nhiều
cuộc hội thảo để bàn về tính dân tộc hiện đại và hồi ấy đã có định nghĩa khá
thuyết phục. Đại ý của nó như sau: “… Tính dân tộc có thể được coi là mùi
hương của chất mật ong mà “con ong – nghệ sĩ” đã lặn lội, miệt mài để hút
nhụy của muôn loài hoa, tích lũy để truyền vào trong tác phẩm của chính
mình thứ tinh hoa dường như chất mật ong và mùi hương tuyệt vời ấy…”
Chính tính dân tộc là tinh hoa tuyệt vời mà mỗi nghệ sĩ đều suy tư, miệt mài
tìm kiếm trong kho tàng văn hóa dân tộc, vốn sống và mong muốn thể hiện
được nó bằng ngôn ngữ thị giác trên tác phẩm của mình.
Tuy nhiên, cho dù thời đại nào, nếu một nghệ sĩ là người Việt Nam,
đã và đang thật sự sống như là người Việt Nam, biết yêu thương, cảm xúc,
rung động, suy nghĩ cái suy nghĩ; giận cái giận; thương cái thương của người
Việt Nam và anh ta luôn trăn trở tư duy về nó thì ắt hẳn trong tác phẩm có
khi anh ta không vẽ, tạo những hình thức đơn thuần về những điều nói trên.
Ngày nay, chúng ta đang sống ở ngưỡng cửa thế kỷ 21, trong thời đại
bùng nổ thông tin, thời kỳ hội nhập, trong xu thế toàn cầu hóa và
chúng ta cũng đang có chung nỗi băn khoăn về hiểm họa bị mất gốc,
lai căng trong nhiều lĩnh vực mà trong đó có đạo đức, văn hóa và nghệ
thuật…
Hiện nay chúng ta chẳng những lo rằng liệu tất cả mọi thứ rồi sẽ bị “thương
mại hóa” mà còn phải lo là làm sao để kinh doanh thương mại cho có hiệu
quả. Thoạt nhìn thì “thương mại hóa” có vẻ là phạm trù xấu; nhưng thật ra

mức độ, điều kiện, bộc lộ cái riêng, cá tính hay tính dân tộc trong tác phẩm
cũng khác nhau.
Phải thực sự mà nói rằng, nghệ thuật tạo hình và Thủ công Mỹ nghệ là
hai mảnh đất dễ làm bật dậy cái riêng, cá tính của nghệ sĩ. Từ đó có thể hàm
chứa được tính dân tộc rõ nét hơn trong nghệ thuật trang trí và nghệ thuật
thiết kế.
Khi sáng tác loại hình này, ngoài băn khoăn về nội dung tư tưởng, khả
năng hình tượng hóa thì người nghệ sĩ có được sự tự do gần như tuyệt đối.
Anh ta không phải lo lắng là tác phẩm của mình được ai mua, ai sử dụng và
nó được treo, đặt nơi đâu môi trường nơi đó ra sao? Người sáng tác chỉ
quan tâm bộc lộ thật trọn vẹn tấm lòng, tài năng, sự rung cảm chân thành,
nét độc đáo của mình trong tác phẩm và làm cho nó trở thành độc bản, có
khả năng đánh động đến tình cảm, trái tim, lương tri của người thưởng
ngoạn.
Chính điều này đã làm cho tâm lý sáng tạo của nghệ sĩ tạo hình được
thanh thản hơn. Họ có thể bay bổng trong sáng tạo, từ đó dễ thể hiện cái
riêng, cá tính, cái hồn riêng của dân tộc mình.
Và khi người nghệ sĩ đem hết tâm huyết, tấm lòng để sáng tác và thực
sự thấy hạnh phúc trong sáng tạo thì chắc chắn trong tác phẩm sẽ phảng phất
hình dáng của anh ta, qua đó tạo điều kiện bộc lộ cái hồn dân tộc.
Trong lĩnh vực mỹ thuật thì Thủ công Mỹ nghệ vốn là hình thái nghệ thuật
thị giác luôn luôn gắn liền với nghệ thuật truyền thống, nghệ thuật thủ công
mỹ nghệ (Handicraft) của một quốc gia, vùng, khu vực, dân tộc, sắc tộc,
chủng tộc, tôn giáo cụ thể của từng địa phương.
Người nghệ sĩ của nghệ thuật thủ công mỹ nghệ vốn xuất thân là nghệ
nhân hay thợ thủ công (Craftman), chuyên sử dụng ngôn ngữ, chất liệu cùng
với thị hiếu, văn hóa bản địa của dân tộc mình, đồng thời sử dụng những tài
năng, vốn sống, kinh nghiệm cha truyền con nối để sáng tác làm đẹp cho xã
hội, qua đó làm sống dậy cái hồn riêng của cha ông mình. Chính điều này đã
làm cho nghệ thuật thủ công vừa mang hình thức độc đáo riêng của từng địa

1876, Toàn tập tác phẩm, t62, M 1953).
Có thể nói, lây lan là quá trình chuyển toả trạng thái cảm xúc từ cá thể
này sang cá thể khác ở cấp độ tâm sinh lý, xảy ra một cách nhanh chóng,
mạnh mẽ, nằm ngoài những tác động qua lại ở cấp ý thức – tư tưởng. Khi
con người rung động, họ trải qua nhiều cung bậc của cảm xúc. Các cung bậc
cảm xúc ấy lại dễ lây lan từ người này sang người khác.Chính vì có sự lây
lan cảm xúc thông qua nghệ thuật mà con người cảm thấy gần gũi nhau hơn.
Điều đó được thể hiện rõ qua việc thưởng thức âm nhạc. Âm nhạc có thể
đem đến cho mọi người những phản ứng tình cảm dễ chịu, thoải mái và bình
tĩnh, hay kích thích sự sáng tạo và hứng khởi. Sức mạnh của âm nhạc còn
giúp ta loại bớt cảm giác tiêu cực từ những việc đã qua, có thể lọc ra những
thông điệp lành mạnh và tích cực nhất. Vì thế, âm nhạc là một trong những
nhu cầu không thể thiếu trong đời sống mỗi người. Có âm nhạc, con người
cảm thấy yêu đời hơn, gần gũi nhau thêm và mang lại sự cân bằng về tâm -
sinh lý.
2. Nghệ thuật giúp trút xả tinh thần.
Trong nghệ thuật, một mặt nào đó của tâm hồn chúng ta được trút xả, thể
hiện kể cả những góc khuất, sâu kín.Vì lẽ đó, con người có thể bộc lộ cảm
xúc, khống chế và giảm căng thẳng thông qua các hình thức nghệ thuật.
Âm nhạc có thể gây ảnh hưởng mạnh tới tâm trạng của chúng ta, giúp
bồi dưỡng những trạng thái tích cực như sự hăng hái, phấn khởi và lạc quan
yêu đời. Đồng thời âm nhạc cũng giúp con người giảm những trạng thái tiêu
cực như lo âu, buồn rầu, chán nản, căng thẳng, tức giận…
Sự căng thẳng là nguyên nhân phá hoại hệ thống miễn dịch của chúng
ta. Âm nhạc có thể hạn chế hoặc ngăn ngừa những âm thanh và cảm xúc gây
căng thẳng. Nhạc nhẹ là thể loại êm dịu giúp chúng ta có cảm giác an toàn,
tin tưởng và tạo sự hưng phấn cao.
Nghệ thuật giúp thư giãn tâm hồn và các cơ bắp ở người đang có căng
thẳng, lo âu. Âm nhạc, hội họa giúp tâm hồn ta cởi mở và giải thoát những
cảm xúc tiêu cực. Khi bị bệnh, bệnh nhân thường rơi vào tình trạng lo âu, sợ

tức mắt.
Đối với loài người mê tín cổ xưa, còn cái gì có ích hơn là nhịp điệu.
Nhờ nó mà mọi chuyện đều có thể làm được: Nó giúp cho công việc một
cách thần kỳ; Nó buộc thần linh phải xuất hiện, phải đến gần và lắng nghe;
Nó có thể uốn nắn được tương lai theo ý muốn của mình, giải thoát tâm hồn
khỏi những điều tai ương và không chỉ riêng tâm hồn mình mà cả tâm hồn
của quỷ sứ độc ác nhất.
Như vậy, toàn bộ hành vi ứng xử của con người là quá trình làm cân
bằng cơ thể với môi trường. Trong quá trình đó, nghệ thuật đã thực sự đưa
lại sự cân đối và trật tự cho những cảm xúc của chúng ta.
4. Giáo dục nghệ thuật hỗ trợ, thúc đẩy sự hình thành và xuất hiện hành
vi sáng tạo.
Việc thưởng thức nghệ thuật đòi hỏi sự sáng tạo, bởi để cảm thụ nghệ
thuật thì đơn thuần việc trải nghiệm thành thật các cảm xúc đã chiếm lĩnh
tác giả vẫn chưa đủ, còn nhất thiết phải khắc phục một cách sáng tạo cảm
xúc của bản thân. Chỉ khi đó tác động của nghệ thuật mới được thể hiện đầy
đủ. Do đó, không phải ngẫu nhiên ngay từ thời cổ xưa nhất, nghệ thuật đã
được nhìn nhận như một bộ phận và một phương tiện giáo dục. Ý nghĩa ứng
dụng của nghệ thuật xét đến cùng đều được quy vào tác động giáo dục của
nó.
Khi một tác phẩm nghệ thuật xuất hiện, con người sẽ đứng dưới nhiều
góc độ khác nhau để đánh giá, phê bình nó. Tuy nhiên, cơ chế phê bình tác
phẩm nghệ thuật - với tư cách như một sức mạnh xã hội mở đường cho nghệ
thuật - đánh giá nó với chức trách cơ bản là chuyên đóng vai như là một bộ
phận truyền lực giữa nghệ thuật và xã hội.
Xét theo quan điểm của tâm lý học, vai trò của phê bình nghệ thuật
được quy vào việc tổ chức các hậu quả của nghệ thuật. Nó vạch ra một
phương hướng giáo dục nhất định cho sự tác động của nghệ thuật. Làm sao
giữ cho được tác động của nghệ thuật như là của nghệ thuật, chứ không để
cho độc giả vung vãi sức mạnh do nghệ thuật dấy lên và đánh tráo các xung

người, huy động sức mạnh tồn tại trong cơ thể ta. Không có nghệ thuật thì sẽ
không có con người mới sáng tạo trong học tập, trong lao động, vì “Nghệ
thuật là tiếng nói của tâm hồn”.
Ý NGHỈA CỦA MĨ THUẬT ỨNG DỤNG
Một cây mọc tuyệt đẹp trong thiên nhiên và cũng cây ấy được vẽ tuyệt
đẹp trong tranh sẽ gây ấn tượng thẩm mỹ tương đồng và cũng sẽ phải được
mỹ học đánh giá là như thế: không phải ngẫu nhiên mà cùng một từ được sử
dụng trong cả hai trường hợp để thể hiện sự đánh giá ấy. Nhưng nếu mọi sự
đều chỉ giới hạn bằng tính tương đồng thấy được, nằm trên bề nổi ấy, thì có
thể đặt câu hỏi và quả thật người ta đã từng hỏi: nhân đôi cái đẹp ấy để làm
gì?
Phải chăng chỉ là trò chơi con trẻ lặp lại trên bức tranh cái mà đã có sự
tồn tại tuyệt đẹp trong tự nhiên? Thông thường, người ta trả lời (thí dụ,
Taine trong Triết học nghệ thuật của mình) là nghệ thuật tái tạo không phải
bản thân những vật thể và hiện tượng của thực tại, mà chỉ cái mà người nghệ
sĩ nhìn thấy ở chúng, mà người nghệ sĩ chân chính chỉ nhìn thấy ở chúng
những nét điển hình, tiêu biểu; yếu tố thẩm mỹ của các hiện tượng tự nhiên,
đi qua ý thức và trí tưởng tượng của người nghệ sĩ, được tẩy lọc khỏi mọi sự
ngẫu nhiên vật chất và do đó mà trở nên mạnh mẽ hơn, rực rỡ hơn.
Cái đẹp lan tỏa trong giới tự nhiên, trong các hình thể và sắc mầu của
nó, hiện lên trên bức tranh một cách tập trung, được tô đậm và nhấn mạnh.
Cách kiến giải này không thể làm ta thỏa mãn đến cùng vì một lẽ đơn thuần
là hoàn toàn không thể áp dụng nó vào một loạt ngành nghệ thuật. Những
hiện tượng tự nhiên nào được nhấn mạnh, thí dụ, trong các xônat của
Beethoven? - Xem ra, quan hệ thẩm mỹ giữa nghệ thuật và giới tự nhiên sâu
xa hơn và hệ trọng hơn nhiều. Rõ ràng đây không phải là sự lặp lại, mà là sự
tiếp tục cái sự nghiệp nghệ thuật đã được thiên nhiên khởi thủy - sự thực
hiện nối tiếp và đầy đủ hơn cũng cái nhiệm vụ thẩm mỹ ấy.
Kết quả của tiến trình tự nhiên là con người theo hai nghĩa: thứ nhất,
như là một sinh linh tự nhiên đẹp nhất*, và thứ hai, như một sinh linh tự giác

cùng vẫn ưu thắng, nếu yếu tố thiện không khắc phục được nó, thì phải
chăng chân lý đích thực của toàn bộ cái hiện hữu là ở nó, còn cái mà ta gọi
là cái thiện, phải chăng chỉ là ảo ảnh chủ quan? Và quả thật, lẽ nào có thể
nói về sự toàn thắng của cái thiện, khi mà một xã hội được tổ chức trên
những nguyên tắc đạo đức lý tưởng nhất cũng có thể tử vong ngay lập tức do
hệ quả một biến cố địa chất hay thiên văn học nào đó? Sự xa lạ tuyệt đối của
yếu tố đạo đức đối với tồn tại vật chất là nguy hại rõ ràng không phải cho cái
tồn tại ấy, mà cho chính yếu tố đạo đức.
Chính sự tồn tại của trật tự đạo đức trong thế giới quy định trước quan
hệ của nó với trật tự vật chất, một kiểu phối hợp nào đó giữa hai trật tự ấy.
Nhưng nếu là thế, thì phải chăng cần tìm kiếm quan hệ ấy bên ngoài mọi thứ
thẩm mỹ, ở sự thống trị trực tiếp những sức mạnh mù quáng của thiên nhiên
bởi trí tuệ con người, ở sự thống ngự tuyệt đối của tinh thần đối với vật chất?
Xem ra một số bước quan trọng đã được thực hiện hướng về mục đích ấy;
khi nó đã đạt, khi mà, như các nhà lạc quan chủ nghĩa hiện nay nghĩ, nhờ
thành tựu của các khoa học ứng dụng chúng ta sẽ chiến thắng không chỉ
không gian và thời gian, mà ngay cả cái chết; khi ấy sự tồn tại của cuộc sống
hữu luân trong thế giới (trên cơ sở sự sống vật chất) sẽ được bảo đảm vĩnh
viễn, song ở ngoài mọi quan hệ gì với lợi ích thẩm mỹ, cho nên ngay khi ấy
vẫn sẽ có hiệu lực tuyên bố rằng cái thiện không cần đến cái đẹp.
Nhưng trong trường hợp ấy bản thân cái thiện có viên mãn hay
không? Bởi lẽ nó không phải là sự toàn thắng của cái này đối với cái khác,
mà là sự kết đoàn của tất cả mọi cái. Thế nhưng có thể loại trừ ra khỏi tất cả
mọi cái ấy những sinh thể và những tác nhân của thế giới tự nhiên? Như vậy
có nghĩa là cũng không thể xem xét chúng chỉ như là những phương tiện hay
công cụ của sinh tồn con người, có nghĩa là cả chúng cũng phải gia nhập,
với tư cách một yếu tố chính diện, cái cấu trúc lý tưởng của cuộc sống chúng
ta.
Nếu trật tự đạo đức, vì sự bền vững của mình, phải dựa vào cái tự
nhiên vật chất như là môi trường và phương tiện tồn tại của mình, thì vì sự

vực khác có liên quan đến mỹ thuật… Sự giao thoa mạnh mẽ giữa các loại
hình nghệ thuật là điều tất yếu trong kỷ nguyên của thông tin – khoa học kỹ
thuật, và cuả xu hướng toàn cầu hoá như hiện nay. Để góp phần xây dựng
Việt Nam với nền kinh tế phát triển và một nền văn hoá mang đậm bản sắc
dân tộc. Lĩnh vực Đồ họa vi tính (Mỹ thuật đa phương tiện) cũng bắt đầu
được xã hội chú ý đặc biệt đối với đội ngũ họa sĩ thiết kế trẻ Việt Nam hiện
nay. Bởi lẽ: ngoài tính chất năng động, thu nhập hấp dẫn, Mỹ thuật đa
phương tiện còn được lựa chọn nhiều vì nó có thể giúp phát huy khả năng
sáng tạo cùng các ý tưởng trẻ trung, táo bạo của họa sĩ trẻ. Đối với xã hội, họ
nhìn nhận Mỹ thuật đa phương tiện dưới một góc nhìn tích cực, thiện chí và
cởi mở hơn: Mỹ thuật đa phương tiện “là 1 trong 5 nghề nóng nhất khi Việt
Nam gia nhập WTO”; Mỹ thuật đa phương tiện là “Công việc mang tính
sáng tạo và thú vị” [Error: Reference source not found]. Tuy nhiên, đội ngũ
họa sĩ Mỹ thuật đa phương tiện ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa đủ để đáp
ứng cho nhu cầu của thị trường nghệ thuật kỹ thuật số vốn trở nên rất năng
động sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
“… Mỹ thuật đa phương tiện là một trong những ngành có sức hút nhất ở
Việt Nam và thế giới nhưng đến tám mươi phần trăm là gia công cho nước
ngoài, do sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Năm 2010, Việt Nam
sẽ cần khoảng 1 triệu họa sĩ làm việc trong lĩnh vực quảng cáo trên báo in,
truyền hình, internet cũng như sản xuất games, website, sản xuất phim,
truyền thông ” .
Hiện nay, nhiều khan hiếm về nhân lực cho ngành Mỹ thuật đa
phương tiện là do trước đây ngành giáo dục của Việt Nam đã chưa dự đoán
được nhu cầu phát triển nguồn nhân lực họa sĩ Mỹ thuật đa phương tiện,
thiếu cơ sở đào tạo và chương trình đào tạo cũng như đội ngũ giảng viên
giảng dạy Mỹ thuật đa phương tiện.
Chỉ vài năm trước đây ảnh hưởng Mỹ thuật đa phương tiện trong nghệ
thuật và xã hội vẫn chưa được quan tâm chú ý và đánh giá một cách đúng
mức. Mặc dù đồ họa vi tính đã được áp dụng nhiều trong những lĩnh vực

và truyền hình.
Các phương tiện truyền thông mới ra đời đã sáng tạo ra một thế giới
nữa cho loài người: đó là một thế giới ảo mà con người có thể sống và tương
tác, hành xử như một thế giới thật. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lối tư
duy, đến sự lựa chọn chủ đề, đến thủ pháp kỹ thuật trong sáng tạo và tiếp
nhận nghệ thuật. Đó chính là một khác biệt lớn khi so nghệ thuật hậu hiện
đại với tất cả những trường phái nghệ thuật trước đó. Thực tiễn nghệ thuật
cũng đã thay đổi và điều đó đòi hỏi phải có một sự thay đổi nhận định về
mặt lý luận sao cho phù hợp với tình hình mới. Mặc dù vậy, hiện nay còn
khá nhiều người trong giới mỹ thuật ở Việt Nam còn bảo thủ với ý niệm về
nghệ thuật truyền thống. Họ say sưa với việc đồng nhất nghệ thuật với tác
phẩm nghệ thuật. Hạn chế của ý niệm này chính là ở chỗ: nó chưa phản ánh
được tính quá trình của sự sáng tạo – truyền tải nghệ thuật, chưa phản ánh
được tính đa nghĩa và đa chức năng của nghệ thuật, chưa phản ánh được đối
tượng thẩm mỹ đa dạng (không chỉ là cái đẹp) của nghệ thuật cũng như chưa
phản ánh được những quan hệ trong cấu trúc tổng thể của nghệ thuật.
Thông qua Mỹ thuật đa phương tiện người họa sĩ thoả mãn sự thể
nghiệm của mình trên nhiều chất liệu: kể từ khi xuất hiện ở Việt Nam với tư
cách là những công cụ hỗ trợ vẽ, thiết kế và thể hiện tác phẩm, những phần
mềm ứng dụng mỹ thuật đã trở thành công cụ đắc lực hỗ trợ cho họa sĩ sáng
tác. Trước kia, họa sĩ phải mất rất nhiều thời gian để làm phác thảo. Từ phác
thảo ý tưởng, phác thảo thô cho đến những bản phác thảo chi tiết, phác thảo
màu… để có hiệu quả rất gần với tác phẩm sẽ hoàn thành. Mỹ thuật đa
phương tiện là giải pháp tốt nhất cho sự thể nghiệm và tìm tòi đó. Về một
mặt nào đó, Mỹ thuật đa phương tiện cũng đã và đang thực sự trở thành một
“trò giải trí tiêu khiển” của họa sĩ. Mỹ thuật đa phương tiện chính là món
“khoái khẩu” của hầu hết sinh viên học ngành Mỹ thuật nói chung và Mỹ
thuật đa phương tiện nói riêng. Bởi lẽ từ lĩnh vực thiết kế mỹ thuật chuyển
sang vẽ tranh là một hình thức giải trí lành mạnh. Mỹ thuật đa phương tiện
đã và đang trở thành người bạn thân thiết, là phương tiện thoả mãn khát

ý tưởng tầm thường, lai căng thậm chí đôi lúc lại phản văn hóa.
Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, mạng máy tính toàn cầu cũng đã và
đang phát triển rất nhanh, thậm chí cả công nghệ mạng không dây cũng đã
xuất hiện. Một lần nữa khái niệm không gian truyền thống đã được mở rộng
không chỉ là ba chiều (chiều dài, chiều rộng, chiều sâu) mà đã được khai
thác tối đa, chiều thứ tư - chiều thời gian thông qua hoạt hình (animation),
thậm chí cả chiều thứ năm - chiều tương tác (interactive). Nhằm tác động
mạnh mẽ đến người xem. Lĩnh vực này hoàn toàn mới mẻ so với nghệ thuật
truyền thống. Ở một số nước tiên tiến, việc họa sĩ thể hiện tác phẩm của
mình thông qua Mỹ thuật đa phương tiện đã có từ lâu, trong khi đó ở Việt
Nam thì nó lại là lĩnh vực tương đối mới mẻ và xa lạ. Một số họa sĩ trẻ có
điều kiện tiếp xúc với đồ họa vi tính, có khả năng tiếp cận và làm chủ lĩnh
vực Mỹ thuật đa phương tiện một cách nhanh chóng. Họ trở thành những
người tiên phong trong lĩnh vực Mỹ thuật đa phương tiện ở Việt Nam. Bên
cạnh đó, còn một số những họa sĩ trung niên - cao tuổi, có vốn ngoại ngữ và
đồ họa vi tính hạn chế, họ vẫn trung thành với phương tiện truyền thống
Tuy nhiên bù lại, họ có kinh nghiệm, tay nghề, ý tưởng, phương pháp quản
lý nghệ thuật là những cứu cánh giúp họ khẳng định được giá trị của
mình… Đa số họ trở thành những nhà quản lý dự án và giám đốc ý tưởng
(arts directors).
Hai là, trong lĩnh vực Mỹ thuật ứng dụng. Mỹ thuật đa phương tiện là
sự kết hợp của óc sáng tạo với các công cụ xử lý đồ hoạ vi tính. Mỹ thuật đa
phương tiện tiến vào cuộc sống hiện đại, nó làm thay đổi cách nghĩ, cách
hành động và cách sống của nhiều người dân Việt Nam. Ở Việt Nam, doanh
thu quảng cáo do ứng dụng Mỹ thuật đa phương tiện tăng từ 300 tỷ đồng
năm 1994 lên 7000 tỷ đồng năm 2004 và dự kiến doanh thu sẽ tăng lên
24.000 tỷ đồng vào năm 2020 [Error: Reference source not found]. Các lĩnh
vực như thiết kế website, trò chơi trực tuyến (Games Online), sản xuất
truyền hình, xuất bản truyền thông cũng phát triển một cách chóng mặt Mỹ
thuật đa phương tiện và những ứng dụng của nó đóng vai trò then chốt trong

đường nét, màu sắc khi ứng dụng trên sản phẩm có độ chính xác không cao
khi chúng được đem vào sản xuất công nghiệp. Trái lại, quá trình thiết kế đồ
hoạ công nghiệp hiện đại chủ yếu chú trọng đến yếu tố sản xuất hàng loạt,
chính xác, nhanh chóng nhằm tiết kiệm thời gian và giảm giá thành sản
phẩm… Do đó, các tín hiệu thị giác trong vẽ thiết kế truyền thống nay đã
dần được số hoá nhằm đảm bảo sự chính xác, và chuẩn công nghiệp trên
toàn thế giới: để đảm bảo độ chính xác và tính thống nhất trong các sản
phẩm sản xuất, tất cả các đối tượng, điểm chấm, đường nét, màu sắc đều
phải được qui định cụ thể rõ ràng, có thể đo lường được một cách chính xác
thông qua các thông số. Ngay cả những đường cong trước đây được họa sĩ
vẽ một cách tự do nhất thì nay cũng vẫn có thể được biểu diễn bằng những
hàm toán học nhất định nào đó mà khi chúng được kết xuất ra sản phẩm đều
cho sự chính xác và thống nhất cao trên mọi sản phẩm. Đây là một ưu điểm
lớn trong sản xuất công nghiệp hiện đại, tuy nhiên nó cũng là một nhược
điểm của việc thiết kế Mỹ thuật đa phương tiện. Nhiều họa sĩ đã không khỏi
hoài nghi, cân nhắc về những lợi ích mà đồ họa vi tính đem lại cho quá trình
sáng tạo và những cảm xúc mang đầy chất ngẫu hứng của người nghệ sĩ mà
nó lấy đi trong quá trình thể hiện tác phẩm… Điều này có nguy cơ hình
thành nên một thế hệ họa sĩ thiết kế bị số hoá, với những tác phẩm khô khan,
vô cảm, lấy phần mềm lập trình và logic toán học thay cho những cảm xúc
sáng tạo… Gây ra một tâm lý dè dặt khi phải tiếp xúc và ứng dụng khoa học
kỹ thuật hiện đại vào trong quá trình thiết kế sáng tạo.
Đồ họa vi tính đã được ứng dụng vào thiết kế mẫu, xử lý ảnh, và được
áp dụng rộng rãi trong công nghệ in offset bốn màu. Báo chí, ảnh quảng cáo,
dàn trang đều được thực hiện nhờ sự trợ giúp của máy vi tính. Thông qua
đó, đồ họa vi tính đã khẳng định vị trí của mình trong lĩnh vực in ấn và dàn
trang. Với công nghệ in ấn tiên tiến, mọi công đoạn trước đây phải làm thủ
công nay đã được tự động hóa hoàn toàn. Ngay cả với công nghệ còn lạc hậu
ở Việt Nam, máy tính cũng đã thay thế con người trong một số giai đoạn,
nhất là giai đoạn thiết kế, xử lý và tách màu… Tranh ảnh, ấn bản đồ họa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status