BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC – THỰC PHẨM
TIỂU LUẬN
CNSX ĐƯỜNG BÁNH KẸO
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU VỀ LỊCH SỬ NGÀNH
CNSX ĐƯỜNG
GVHD: ThS. HỒ XUÂN HƯƠNG
Lớp : ĐHTP5LT
Danh sách nhóm:
1. Hoàng Thị Bắc 09244431
2. Đặng Thị Thùy Linh 09247861
3. Phan Thị Hương Trà 09271181
4. Nguyễn Vân Trúc 09255351
5. Lê Thị Như Ý 09257291
TPHCM, ngày 10 tháng 03 Năm 2011
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi mở cửa với bên ngoài và chuyển mình sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế
Việt Nam đang dần dần khởi sắc và ngày càng khẳng định được vị thế của mình. Các hoạt động
kinh tế, các ngành sản xuất trở nên đa dạng và sôi động hơn. Tuy nhiên, không vì thế mà những
ngành sản xuất cơ bản bị lãng quên. Muốn nền kinh tế đất nước nhanh chóng đi lên ngang bằng
với các nước trong khu vực và trên thế giới thì bên cạnh việc tiếp thu những tiến bộ khoa học
kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài chúng ta cũng không được rời xa cái gốc, cái cội nguồn của
dân tộc - đó là nền văn minh lúa nước.
Trong số các loại cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp chủ yếu thì mía cũng là
một loài cây vô cùng quan trọng. Từ xa xưa, đất nước Việt Nam chúng ta đã là một trong những
cái nôi sản sinh ra cây mía, ông cha ta đã biết sử dụng cây mía làm thực phẩm và chế biến mía
ăn gia súc và trong công nghiệp dược.
Giá trị kinh tế của đường mía :
Sản phẩm chính của cây mía là đường được lấy ra từ thân cây. Bản chất của đường mía là
một loại disacaride, có vị ngọt, nồng độ ổn định, có khả năng tồn trữ lâu, không độc như các
loại đường hóa học.
Về giá trị dinh dưỡng, đường mía là nguồn năng lượng quan trọng, 1 kg đường cung cấp
năng lượng tương đương 0.5 kg mỡ, 50-60 kg rau quả. Đường cung cấp trên 10% nhu cầu năng
lượng của cộng đồng.
Ngoài đường là sản phẩm chính của công nghiệp đường ra, còn có các sản phẩm phụ quan
trọng như: bã mía, mật rỉ, bùn lọc có thể sử dụng, chế biến các sản phẩm có giá trị cao hơn 2-3
lần so với sản phẩm chính như mì chính, nấm men, …
Bã mía: chiếm 20-30% trọng lượng cây mía. Bã mía chứa trung bình 49% nước, 48.5%
xơ, 2.5% chất hòa tan ( đường ). Bã mía có thể dùng là nhiên liệu đốt lò, cứ 3 tấn bã mía khô
cung cấp nhiệt lượng tương đương 1 tấn dầu. những nhà máy đường có công suất cỡ 1000-1500
tấn/ ngày nếu dùng bã mía để đốt lò có thể cân đối gần đủ nhiên liệu, không tốn thêm dầu. bã
mía có thể dùng làm ván ép cách âm, cách nhiệt, hoặc làm mặt bàn, đóng thùng làm bột giấy,
than hoạt tính hoặc là nguyên liệu của công nghiệp chất dẻo, sợi tổng hợp…Nhà máy đường
Hiệp Hòa đã sản xuất ván ép từ bã mía đạt chất lượng cao.
Mật rỉ: chiếm 3-5% trọng lượng mía đem đi ép, mật rỉ là một dung dịch chứa 10% nước,
35% saccaroza, 20% các loại đường khử, các chất hữu cơ khác…có tỉ trọng 1.4-1.5. Từ mật rỉ
sau khi lên men và chưng cất có thể làm rượu Rhum, các loại rượu mùi hay cồn công nghiệp
hoặc sử dụng làm nấm men bánh mì và các loại men thực phẩm khác, làm nguyên liệu sản xuất
axit acetic, acid citric, làm môi trường lên men để sản xuất bọt ngọt…
Bùn lọc: là phần cặn bã còn lại sau khi lọc trong nước mía, chiếm 3- 3.5 % trọng lượng
mía đem ép. Trong bùn lọc có chứa 0.5% N, 1.6%P
2
O
5
, 0.4% K
2
mía cho các nhà máy, trong đó 70% số hộ hang năm đã được các nhà máy ký hợp đồng đầu tư
và bao tiêu sản phẩm ổn định sản xuất. Nhiều nhà máy đường như nhà máy đường Lam Sơn,
Bourbon Tây Ninh, Phụng Hiệp… đã đầu tư ứng trước giống mía, phân bón và cử cán bộ nông
vụ hướng dẫn tập huấn chuyển giao kỹ thuật trồng mía, tăng năng suất sản lượng bán cho nhà
máy, tăng thêm thu nhập, ổn định sản xuất và cuộc sống cho nông dân.
Trong hơn 10 năm qua, cùng với các hỗ trợ của Nhà nước, sản xuất và đời sống đã được
cải thiện hơn, đường xá giao thông, đường điện trường học đã được mở mang thêm nhiều. nông
dân trồng mía trong vùng không còn nghèo đói, số hộ nghèo ngày một giảm, số hộ khá giả ngày
càng tăng. Bộ mặt nông thôn vùng trồng mía đã có nhiều đổi mới, làng xã đạt tiểu chuẩn văn
hóa ngày càng tăng.
Tóm lại, hơn một thập kỷ qua (1995- 2006) tuy thời gian chưa nhiều được sự hỗ trợ và
bằng sự tác động có hiệu quả bởi các chính sách của chính phủ, ngành mía đường non trẻ của
Việt Nam đã đóng góp một phần vào sự tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế tạo nên các vùng sản xuất hàng hóa lớn.
Lớp ĐHTP5LT Trang 4
Nhóm 8
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
CHƯƠNG II - LỊCH SỬ NGÀNH ĐƯỜNG
II.1- Lịch sử ngành đường trên Thế Giới:
II.1.1 – Lịch sử ra đời:
Phát hiện ra cây mía
Các loài mía khác nhau có thể có nguồn gốc khác nhau. Theo một só tài liệu, S. barberi có
nguồn gốc ở Ấn Độ và S. edule, S. officinarum đến từ New Guinea.
Cây mía lần đầu tiên được thuần hóa ở New Guinea khoảng 10.000 năm trước. Các tuyến
đường thương mại từ châu Á đã mang cây mía đến Ai Cập vào khoảng 3.000 trước Công
nguyên. Người Ai Cập từ đó đã phát triển nhiều kỹ thuật nấu đường, chẳng hạn như lọc và bốc
hơi đến ngày nay vẫn còn được sử dụng.
Ấn Độ và Ba Tư
Năm 510 trước Công nguyên, những chiến binh đang đói vì thiếu thức ăn của hoàng
đế Darius đến gần sông Indus, và họ đã phát hiện ra một số "đám lau sậy sản xuất mật ong mà
Sau này, người Bồ Đào Nha đã
mang đường đến Brazil. Đến năm
1540, đảo Santa Catalina đã có
800 nhà máy đường mía và phía bắc
bờ biển của Brazil, Demarara
và Surinam có 2.000 nhà
máy. Hispaniola đã thu hoạch đường
đầu tiên của mình vào năm 1501. Các
nhà máy đường đã được xây dựng tại
Cuba và Jamaica vào thập niên 1520.
Thống kê, có khoảng 3.000 nhà máy
đường nhỏ được xây dựng trước năm
1550 ở Tân Thế Giới.
Sau năm 1625, những người Hà Lan mang mía từ Nam Mỹ đến quần đảo Caribbean, ở đó
nó được trồng từ Barbados đến đảo Virgin. Người thời đó thường so sánh giá trị của đường với
các mặt hàng có giá trị như xạ hương, ngọc trai, và gia vị. Giá giảm chậm vì sản xuất trở nên
rộng rãi, đặc biệt là thông qua chính
sách thuộc địa của Anh. Trước đây,
đường là độc quyền của người giàu,
sau này đường ngày càng trở nên phổ
biến với những người nghèo. Cũng bởi
như vậy, sản xuất đường gia tăng ở
Cuba và Brazil. Trong đó, những nô lệ
Châu Phi đã trở nên ưu thế hơn so với
các công nhân trồng mía, khi họ chứng tỏ
khả năng chống các bệnh sốt rét và sốt
vàng da. Tuy nhiên, thay thế người Mỹ
bản địa với các nô lệ châu Phi cũng đã xảy
ra vì tỷ lệ tử vong cao trên các đồn điền
đường. Người đã nhập khẩu gần 4 triệu người nô lệ, nhưng chỉ có 400.000 người Mỹ gốc Phi
họ bắt đầu sử dụng phân bón khi trồng. Họ cũng phát triển thêm các nhà máy tiên tiến và bắt
đầu sử dụng các loại mía tốt hơn. Mặc dù đã có những cải tiến, nhưng giá đường vẫn đạt tới
đỉnh cao, đặc biệt là trong các sự kiện như cuộc nổi dậy chống lại người Hà Lan và các cuộc
chiến của Napoleon . Khi người châu Âu thành lập các đồn điền đường lớn hơn trên đảo
Caribê, giá đã giảm, đặc biệt là ở Anh. Đến thế kỷ 18 tất cả các hạng người trong xã hội dù giàu
hay nghèo đều có thể tiêu thụ đường, là sản phẩm cao cấp trước đây.
Đất trồng mía trở nên cạn kiệt nhanh chóng, và những người trồng đã đến các đảo lớn hơn
với đất tươi hơn để sản xuất vào thế kỷ XIX vì nhu cầu tiêu thụ ở châu Âu tiếp tục tăng: "trung
bình tiêu thụ ở Anh đã tăng từ 4 pound/ người vào năm 1700 đến 18pound năm 1800, 36pound
vào năm 1850 và hơn 100 pound vào thế kỷ XX ". Trong thế kỷ 19, Cuba đã trở thành vùng đất
giàu có nhất vùng Caribbean (với đường là cây trồng chủ đạo của nó) bởi vì nó là một hòn đảo
lớn, rộng mà không có đồi núi. Cuba cũng vượt trội hơn các đảo khác vì người dân Cuba sử
dụng các phương pháp tốt hơn khi thu hoạch: họ thông qua các phương pháp hiện đại như lò
luyện, động cơ hơi nước, chảo chân không… Các công nghệ này làm tăng năng suất sản xuất
đường. Cuba cũng duy trì chế độ nô lệ dài hơn so với hầu hết các nước còn lại của quần đảo
Caribbean.
Sau Cách mạng Haiti, thành lập nhà nước độc lập của Haiti, đường sản xuất trong nước
này giảm xuống và Cuba đã thay thế Saint-Domingue như là nhà sản xuất lớn nhất thế giới.
Đã hình thành lâu ở Brazil, sản xuất đường từ đó được mở rộng sang các phần khác
của Nam Mỹ, cũng như các thuộc địa mới của châu Âu ở châu Phi và Thái Bình Dương
như Fiji, Mauritius, Natal. Queensland ở Úc cũng đã bắt đầu phát triển đường. Các khu vực sản
Lớp ĐHTP5LT Trang 7
Nhóm 8
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
xuất đường cũ và mới hơn lúc này có xu hướng sử dụng lao động giao kèo chứ không phải là nô
lệ.
Tại Colombia, việc trồng đường bắt đầu rất sớm, và các doanh nghiệp nhập khẩu rất nhiều
nô lệ châu Phi để chăm sóc các cánh đồng mía. Sự công nghiệp hóa của ngành công nghiệp
Colombia bắt đầu vào năm 1901 với việc thành lập Manuelita, nhà máy đường sử dụng năng
lượng hơi nước đầu tiên ở Nam Mỹ.
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
Lợi ích về nhiên liệu còn nhiều hơn khi
thiết bị bốc hơi nhiều nồi ra đời, nó được
thiết kế bởi kỹ sư người Mỹ Norbert
Rillieux (có lẽ là vào đầu những năm 1820,
nhưng đến năm 1845 nó mới chính thức
được đưa vào làm việc). Hệ thống này bao
gồm một loạt các chảo chân không, mỗi cái
lại được giữ ở áp suất thấp hơn so với nồi
trước. Hơi nước từ mỗi nồi lại được dùng để
gia nhiệt cho các nồi tiếp theo, với sự tổn
thất nhiệt là thấp nhất.
Quá trình tách đường từ mật mía cũng
nhận được sự quan tâm cơ khí: David Weston là người đầu tiên đã áp dụng máy ly tâm cho việc
tách đường ở Hawaii vào năm 1852.
Các chất ngọt khác
Tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, syrub từ bắp có chứa hàm lương fructose cao (HFCs) đã thay thế
đường trong một số sản phẩm, đặc biệt là trong nước giải khát và thực phẩm chế biến.
Quá trình mà HFCs được sản xuất đầu tiên được phát triển bởi Richard O. Marshall và Earl
P. Kooi năm 1957. Quá trình sản xuất công nghiệp đã được phát triển bởi Tiến sĩ Y.Takasaki
vào những năm 1965-1970. HFCs đã nhanh chóng được đưa vào chế biến nhiều loại thực phẩm
và nước giải khát tại Hoa Kỳ từ khoảng những năm từ 1975 đến 1985.
Một hệ thống hạn ngạch thuế quan đường được đặt ra vào năm 1977 tại Hoa Kỳ làm tăng
đáng kể chi phí của đường nhập khẩu và những nhà sản xuất Mỹ đã tìm nguồn rẻ hơn. Syrub từ
bắp có chứa hàm lương fructose cao (HFCs), có nguồn gốc từ bắp, kinh tế hơn nhiều vì giá
đường trong nước của Mỹ và Canada cao gấp hai lần giá toàn cầu và giá bắp được giữ ở mức
Lớp ĐHTP5LT Trang 9
Nhóm 8
Nhà máy đường sử dụng năng lượng
bằng guồng nước, năm 1839
Sản xuất đường trên Thế Giới giữa những năm 1990
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
• Năm 641 sau Công Nguyên - Người Ả Rập học cách trồng mía sau khi chinh phục Ba
Tư, và mở rộng nó sang Đông Phi và Đông Nam Địa Trung Hải. Sử dụng tưới tiêu, mía
đường sau đó được trồng ở Cyprus, Ai Cập, Morocco, Sicily và Tây Ban Nha, trở thành
nguồn đường lớn đầu tiên ở châu Âu.
• Năm 1493 - Columbus mang mía đường đến Tân Thế Giới trong chuyến đi thứ hai của
ông.
• Năm 1747 - Nhà hóa học Andreas Sigismund Marggraf sử dụng rượu để chiết xuất
đường từ củ cải đường, nhưng phương pháp của ông đã không được hỗ trợ kinh phí để
sản xuất quy mô công nghiệp.
• Năm 1751 - Mía đường được giới thiệu đến Hoa Kỳ khi linh mục dòng Jesuit đi truyền
giáo đã mang đến New Orleans, Louisiana.
• Năm 1812 – Phản ứng lại sự phong tỏa của Anh, Pháp đã ngăn nhập khẩu mía đường từ
vùng biển Caribbean, Benjamin Delessert phát minh ra một quá trình chiết xuất đường
từ củ cải đường phù hợp cho công nghiệp tại Pháp.
• Năm 1878 - Saccharin (benzoic sulfinide) là phát minh vô tình bởi Constantin Fahlberg,
một nhà hóa học làm việc với các dẫn xuất từ than đá trong một phòng thí nghiệm tại
Đại học Johns Hopkins.
• Năm 1879 - E.H. Dyer mở nhà máy sản xuất củ cải đường thành công đầu tiên tại Hoa
Kỳ.
• Năm 1957 - Richard O. Marshall và Earl R. Kooi phát minh ra syrub từ bắp có chứa
hàm lương fructose cao (HFCs)
• Năm 1965 - Aspartame đã vô tình phát minh bởi James M. Schlatter, một nhà hóa học
làm việc cho GD Searle & Company.
• Năm 1975 - HFCs bắt đầu được nhanh chóng đưa vào nhiều loại thực phẩm chế biến và
nước ngọt ở Mỹ
II.1.2 – Các nhà máy đường lớn trên thế giới
Tốp 10 quốc gia sản xuất đường nhiều nhất thế giới hiện nay:
Lớp ĐHTP5LT Trang 11
• 27,603,000
o World
• 1,743,092,995
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
Cosan là nhà máy sản đầu tiên phát triển đường VHP (very high polarization - phân cực rất
cao) và thiết lập một tiêu chuẩn toàn cầu mới cho việc xuất khẩu sản phẩm này.
Đường tinh thể VHP: phát triển vào năm 1993, VHP hướng vào thị trường xuất khẩu. Đó
là một loại đường thô cho phép khách hàng để biến nó thành các loại đường khác nhau để tiêu
thụ.
Đường Demerara
Đường Demerara là kết quả của một quá trình lắng gạn tự nhiên đối với nước mía. Nó có
dạng tinh thể thông thường và đặc biệt được sử dụng trong chế biến các loại thực phẩm yêu cầu
có hương vị, màu sắc và kết cấu đặc trưng.
Đường tinh thể hữu cơ
Đường tinh thể hữu cơ không có bất kỳ hóa chất nào được thêm vào nó, từ khâu trồng trọt
đến đóng gói. Đường này không được tinh chế và được sử dụng trong thực phẩm tự nhiên hoặc
làm chất ngọt.
Liquid Sugar
Cosan là một nhà tiên phong tại Braxin trong sản xuất đường sucrose dạng syrup và đường
nghịch chuyển bằng cách sử dụng một quy trình công nghệ cao.
(www.cosan.com.br )
(www.Braziliansugargroup.com)
ẤN ĐỘ:
Sản lượng đường của Ấn Độ sản xuất đứng thứ nhì thế giới, chỉ sau Brazil.
Các nhà máy đường lớn của nước này:
1/ Bajaj Hindusthan Ltd (thuộc Bajaj Group).
Lớp ĐHTP5LT Trang 13
Nhóm 8
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
Đây là tập đoàn nhà máy đường có năng suất cao nhất Ấn Độ, bao gồm 14 nhà máy con
Maharashtra
India
Daily Capacity: 8000 tcd. Annual Production: 148210 ton/yr
Lớp ĐHTP5LT Trang 14
Nhóm 8
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
o Ugar Khurd: Năng suất 1.500.000 tấn/ năm.
Ugar Sugar Works Limited
Daily Capacity: 10000 tcd. Annual Production: 1500000 ton/yr
( Nguồn: />TRUNG QUỐC
Ở Trung Quốc đường mía chiếm khoảng 80% trong tổng sản lượng đường. Khoảng 80%
mía của Trung Quốc được trồng ở khu vực Nam và Tây Nam, bao gồm tỉnh Quảng Tây, Quảng
Đông, và Vân Nam. Vì vậy các nhà máy đường lớn ở Trung Quốc cũng tập trung khu vực này.
Guangxi Nanning East Asia Sugar Group ( EASG ): được thành lập vào tháng 10 năm
1993, là chi nhánh của Mitr Phol Sugar Group ở Thái Lan với mục tiêu để sản xuất đường phục
vụ nhu cầu trong nước của Trung Quốc. Công suất ban đầu nghiền 13.500 tấn mía / ngày, từ
07/2006 nâng cao được hơn 55.000 tấn mía / ngày với công suất tổng nghiền 6.800.000 tấn /
năm, năng suất sản lượng đường khoảng 850.000 tấn / năm. Trong những năm qua, EASG đã
trở thành một trong những nhà sản xuất đường hàng đầu tại Trung Quốc.
THÁI LAN
1/ Mitr Phol Sugar Group (1957) (www.mitrphol.com).
Là tập đoàn sản xuất đường mía lớn nhất Thái Lan với năng suất đạt 2 triệu tấn đường
trong năm 2010, chiếm 18.3% tổng sản lượng đường Thái Lan.
( Mitr Phol Group is a group of companies operating business in sugar industry for more
than 53 years. With the envisioning in sugar industry and its strong commitment to develop the
business to the best of their experience, Mitr Phol has become the leader in sugar industry with
world-class standard operation today.
Mitr Phol Sugar Group
2/Thai Roong Ruang Group.
Là tập đoàn sản xuất đường mía đứng thứ nhì Thái Lan, có 7 nhà máy, chiếm 17% tổng sản
lượng đường của nước này.
( BANGKOK, Sept 10 (Reuters) - Thai Roong Ruang Group, Thailand's second-biggest
sugar miller. Thai Roong Ruang Group, which runs seven sugar mills, is one of five big Thai
millers to have expanded capacity to meet rising global demand.)
(Nguồn:www.reuters.com)
3/ Thai Ekkalak Group.
Có năng suất bằng 60% của Mitr Phol Sugar Group, chiếm 12.8% tổng sản lượng đường
Thái Lan.
4/ Khon Kaen Sugar Industry PLC ( KSL ).
Thành lập từ 1945, công suất đạt 78000 tấn mía/ ngày.
AUSTRALIA
Cây mía xuất hiện ở Úc vào năm 1788.
Các nhà máy đường của Úc đầu tiên được xây dựng ở miền Bắc New South Wales vào
những năm 1870, sau đó mở rộng hoạt động ở Queensland và Fiji vào những năm 1800. Năm
1868, có chín nhà máy ở New South Wales đã sản xuất được 60 tấn đường. Nhưng sau đó nhiều
nhà máy ở Fiji đã đóng cửa vào năm 1972 và New South Wales vào năm 1978, còn lại các nhà
máy ở Queensland hoạt động hiệu quả đến ngày nay.
( The History of Sugar Cane Factories | eHow.com
)
Đường thô được sản xuất từ mía chủ yếu tập trung trong ba của các tiểu bang của Úc:
Queensland 94,2%, New South Wales 5.1% và Tây Úc 0,7%. Hiện đang có 26 nhà máy đường
Lớp ĐHTP5LT Trang 16
Nhóm 8
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
thô tại Queensland (bao gồm cả một nhà máy có qui trình mía đường để chỉ giai đoạn xi-rô), 3
ở New South Wales và 1 ở Tây Úc.
Australia hiện là một trong những nước xuất khẩu đường thô lớn nhất thế giới, trong đó
Queensland chiếm khoảng 80-85%. Úc cũng xuất khẩu đường tinh luyện. Hiện nay có bốn nhà
đường đầu tiên trên thế giới, được thành lập năm 1799 bởi một người Đức nhập cư tên là
William Havemeyer, đã thành công trong gần 150 năm. Hiện nay, công ty này được biết đến
với tên Domino Food, Inc.
Lớp ĐHTP5LT Trang 17
Nhóm 8
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
o American Crytal Sugar Company (Hoa Kỳ ): sản xuất đường từ củ cải đường, năng
suất 225.000 tấn/ năm.
(www.crystalsugar.com)
o Glades Sugar House: ( Florida - Hoa Kỳ )Năng suất 330.000 tấn/ năm.
o Ledesma (Argentina):
Công suất: 10000 tấn mía/ ngày. Năng suất: 300.000 tấn/ năm.
(Daily Capacity: 10000 tcd. Annual Production: 300000 ton/yr)
o Azucarera Concepcion( Argentina)
Công suất: 10000 tấn mía/ ngày. Năng suất: 340.000 tấn/ năm.
(Daily Capacity: 10000 tcd. Annual Production: 340000 ton/yr)
o Providencia (Colombia)
Công suất: 8500 tấn mía/ ngày. Năng suất: 300.000 tấn/ năm.
(Daily Capacity: 8500 tcd. Annual Production: 300000 ton/yr)
( Nguồn: />o Boiry( Pháp):Công suất: 19.500 tấn mía/ ngày; năng suất: 220.000 tấn/ năm
o Sainte-Émilie ( Pháp):Công suất: 16.500 tấn mía/ ngày; năng suất: 190.000 tấn/ năm.
o Nakskov ( Đan Mạch):Công suất: 13.000 tấn mía/ ngày; năng suất: 184.500 tấn/ năm.
o Werk Uelzen ( Đức): Công suất: 20.000 tấn mía/ ngày; năng suất: 295.000 tấn/ năm
o Werk Wierthe ( Đức ): Năng suất: 165.000 tấn/ năm
o Südzucker AG ( Đức ): Năng suất: 240.000 tấn/ năm
II.2 – Lịch sử ngành đường ở Việt Nam
II.2.1 – Lịch sử ra đời
Lớp ĐHTP5LT Trang 18
và Sông Lam (350 tấn/ngày) và nhà máy đường Vạn Điểm (1000 tấn/ngày)
Khi đất nước thống nhất, chúng ta tiếp tục xây dựng thêm một số nhà máy hiện đại ở miền
nam như: nhà máy đường Quãng Ngãi (1500 tấn/ngày), Hiệp Hòa (1500 tấn/ngày) và hai nhà
máy lớn là Biên Hòa (200 tấn/ ngày), khánh hội (150 tấn/ngày), sau đó tiếp tục xây dựng một số
nhà máy mới:nhà máy đường Lam Sơn (1500 tấn/ngày), La Ngà (2000 tấn/ngày), Tây Ninh
(Bourbon (công suất thiết kế 16000 tấn mía/ngày). Đến năm 1994, cả nước mới có 9 nhà máy
đương mía, với tổng công suất gần 11 000 tấn mía ngày và 2 nhà máy đường tinh luyện công
suất nhỏ, thiết bị và công nghệ lạc hậu. hằng năm phải nhập khẩu từ 300 000 đến 500 000 tấn
đường. Nguồn nhập khẩu đường chủ yếu của chúng ta là Cuba, Úc, Hồng Kông. Đường nhập
khẩu có nhiều chủng loại: đường trắng, vàng, đỏ. Hai loại sau là đường thô chủ yếu nhập để
tinh luyện đường trắng song cũng được bán lẻ trên thị trường để phục vụ người tiêu dùng có thu
nhập thấp không đòi hỏi cao về chất lượng.
Bảng: Lượng đường nhập khẩu vào Việt Nam 1995 – 2001 (Đơn vị: 1000 tấn)
Lớp ĐHTP5LT Trang 19
Nhóm 8
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2001
Nhập khẩu 145,5 15,9 70 123 42,8 81,3
Tốc độ phát triển (%) 89,07 340 75,71 65,20 89,95
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
Nguồ
n: Niên giám thống kê 2001
Năm 1995, với chủ trương “ Đầu tư chiều sâu, mở rộng các nhà máy đường hiện có, xây
dựng một nhà máy có quy mô vừa và nhỏ ở những vùng nguyên liệu nhỏ, ở những vùng nguyên
liệu tập trung, xây dựng các nhà máy có thiết bị công nghệ tiên tiến hiện đại, kể cả liên doanh
với nước ngoài, sản lượng đường năm 2000 đạt khoảng 1 triệu tấn ( nghị quyết đại hội đảng
toàn quốc lần thứ 8)”.
Thực hiện “ chương trình quốc gia 1 triệu tấn đường” ngành mía đường Việt Nam tuy còn
non trẻ, chỉ sau 5 năm (1995 -2000) đã có bước tiến đột phá. Đó là đã hoàn thành mở rộng các
nhà máy Trung ương và địa phương gồm:
- Các nhà máy đường Hiệp Hoà, Bình Dương, Quảng Ngãi, Lam Sơn từ 1500 tấn lên 2000
Bảng 21: Số liệu sản xuất của các nhà máy phía Bắc từ vụ 1985-1986 đến 1994-1995
Lam Sơn Sông Lam Vạn Điểm Việt Trì
Lớp ĐHTP5LT Trang 20
Nhóm 8
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
Lượng mía ép (tấn) 722.424 221.504 583.015 193.267
Đường sản xuất (tấn) 65.647 14.853 36.814 10.493
Bình quân mía/đường 11,00 14,91 15,84 18,42
Tổng thu hồi 66,24 61,94 61,52
Bình quân mía ép 1 vụ 72.242 22.150 58.302 19.327
% đạt công suất thiết kế 32,10 42,19 38,86 36,81
Nguồn: Lịch sử công nghệ sản xuất mía-đường Việt Nam - NXB Nông nghiệp
TPHCM 2000.
Các nhà máy có công nghệ, thiết bị hiện đại chiếm 67% tổng công suất (bao gồm các nhà
máy liên doanh và 100% vốn nước ngoài, các nhà máy sử dụng thiết bị của Anh, Pháp, Úc, ).
Các nhà máy có công nghệ, thiết bị vào loại trung bình tiên tiến chiếm 33% tổng công suất
(gồm các nhà máy quy mô vừa và nhỏ, sử dụng thiết bị của Trung Quốc, Ấn Độ…), phù hợp
với trình độ quản lý và quy mô vùng nguyên liệu. Hơn 4 năm thực hiện chương trình mía
đường, hầu hết các địa phương có sẵn vùng mía tập trung hoặc có tiềm năng phát triển mía đều
đã xây dựng các nhà máy đường. Đến năm 2000, đã xây dựng được một hệ thống các cơ sở chế
biến đường công nghiệp trên cả nước với 44 nhà máy, tổng công suất là 78.200 tấn (tăng gần 8
lần so với năm 1994). Đã hình thành 3 vùng trọng điểm mía đường là Thanh Hoá-Nghệ An,
Quảng Ngãi, Tây Ninh, công suất các nhà máy chiếm 54% tổng công suất cả nước.
Phân theo địa phương:
+ Miền Bắc và Khu 4 cũ có 15 nhà máy, tổng công suất là 30.700.
+ Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên có 15 nhà máy, tổng công suất là 19.350 tấn.
+ Miền Nam có 14 nhà máy, tổng công suất là 28.150 tấn.
Phân theo cấp quản lý:
+ Trung ương có 15 nhà máy, tổng công suất là 28.750 tấn.
+ Địa phương có 23 nhà máy, tổng công suất là 22.450 tấn
Nhóm 8
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
Sông Con
Bình Định
Tuy Hoà
Bourbon-Gia Lai
Đồng Xuân
Hiệp Hoà
Nước Trong
333-ĐakLak
Bình Dương
Ninh Hoà
Hoà Bình
Phan Rang
Lam Sơn
Sóc Trăng
156,0
151,1
149,3
133,3
133,3
126,7
123,0
121,7
120,0
117,3
116,2
116,2
116,1
114,0
Quảng Ngãi
Sơn Dương
Cao Bằng
Việt-Đài
68,7
65,2
64,8
63,8
61,6
Sơn La
Bourbon-Tây Ninh
Việt Trì
Nông Cống
60,3
60,3
55,9
53,3
Có 7 nhà máy đạt dưới 50% công suất (vụ trước 16/41 nhà máy), gồm: Linh Cảm, Quảng
Nam, Kiên Giang, Quảng Bình, Liên doanh Nghệ An-Anh, KCP (100% vốn nước ngoài), Thới
Bình (mới chạy thử).
Bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn rất nhiều khó khăn mà các nhà máy đang phải
đối mặt.
- Huy động công suất thấp và không ổn định: Tỉ lệ huy động công suất bình quân vụ 98-
99 là 64%; 99-00: 78%; 00-01: 68%.
- Gía thành rất cao: Gía thành toàn bộ đường kính trắng loại I bình quân 7.180 đ/kg, xấp
xỉ 472 USD/tấn, cao gấp 1,65 lần so với Ấn Độ, 1,88 lần so với Thái Lan. Một số nhà máy
Lớp ĐHTP5LT Trang 23
Nhóm 8
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
- Sản xuất phân vi sinh.
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN:
1968: Công ty được thành lập với tên gọi là nhà máy đường Biên Hòa với sản phẩm là
đường ngà công suất 400 tấn/ ngày và chưng cất rượu Rhum.
1969-1971: Lắp đặt và đưa vào hoạt động nhà máy luyện đường năng suất 200 tấn/ngày,
sản xuất từ nguyên liệu chính là đường thô nhập khẩu. Đến năm 1995 đã được đầu tư nâng công
suất lên 300 tấn/ ngày.
1971-1983: Sản xuất đường luyện, rượu mùi, bao đay.
Lớp ĐHTP5LT Trang 24
Nhóm 8
CNSX Đường Bánh Kẹo GVHD: ThS. Hồ Xuân Hương
1983-1989: Giai đoạn này không sản xuất đường luyện do gặp khó khăn về nhập khẩu
đường nguyên liệu.
1990: Khôi phục phân xưởng luyện đường và bắt đầu sản xuất đường luyện năng suất 200
tấn thành phẩm/ngày. Nghiên cứu và áp dụng thành công công nghệ sản xuất đường luyện từ
nguyên liệu đường kết tinh thủ công sản xuất trong nước để thay thế một phần đường thô nhập
khẩu. Đầu tư mới phân xưởng sản xuất kẹo năng suất 5 tấn thành phẩm/ngày.
1994: Nhà máy Đường Biên Hòa đổi tên thành Công ty Đường Biên hòa, là doanh nghiệp
hạch toán độc lập có chức năng xuất nhập khẩu trực tiếp
1995: Đầu tư mới thiết bị, mở rộng phân xưởng đường luyện nâng năng suất lên 300 tấn
thành phẩm/ngày. Đầu tư mới thiết bị, mở rộng phân xưởng kẹo nâng năng suất sản xuất kẹo
mềm và kẹo cứng các loại lên 30 tấn thành phẩm/ngày. Đầu tư mới dây chuyền sản xuất nha
năng suất 18 tấn thành phẩm/ngày.
1995-1996: Đầu tư mới dây chuyền sản xuất bánh cookies năng suất 8 tấn thành
phẩm/ngày.
1996-1997: Đầu tư Nhà Máy Đường Biên Hòa – Tây Ninh công suất 2.500 tấn mía/ngày.
Từ 2001 – 2003 : Công ty đầu tư thêm một số thiết bị, nâng cấp nhà máy Đường Biên
Hòa-Tây Ninh lên năng suất 3.500 tấn mía/ngày. Đầu tư vùng nguyên liệu mía có diện tích
6.000 ha tại Tây Ninh.
1997: Đầu tư mới dây chuyền sản xuất kẹo dẻo Jelly năng suất 8 tấn thành phẩm/ngày.