Tìm hiểu tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sự dụng đất và đề ra một số giải pháp nhằm đẩy nhanh và hoàn thiện công tác cấp gcn qsdđ trên địa bàn tp.hà tĩnh - tỉnh hà tĩnh. - Pdf 22

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mác đã từng nói: "Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải
vật chất" mà "Lao động là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ". Như vậy có
thể nói đất đai là tặng vật mà thiên nhiên ban tặng cho con người, là tài sản quý
báu của quốc gia, là nguồn nội lực và là nguồn vốn to lớn của mỗi quốc gia, là tư
liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu của mọi thành phần kinh tế, là điều kiện chung
của lao động, là nền tảng cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh - quốc
phòng. Trong giai đoạn hiện nay thì đất đai được coi là nguồn lực phát triển hết
sức quan trọng của đất nước, đặc biệt do sự phát triển của khoa học kỹ thuật,
kinh tế và sự gia tăng dân số ngày càng nhanh, nhất là ở các nước đang phát
triển, nhưng đất đai lại có giới hạn và hầu như bất biến về diện tích. Những điều
đó đang tạo ra một sức ép rất lớn đến việc sử dụng đất cho tất cả các quốc gia.
Nước ta cũng không nằm ngoài quy luật phát triển đó, với diện tích tự nhiên vào
loại nhỏ tuy nhiên dân số nước ta lại thuộc vào loại cao trên thế giới nên diện
tích tính trên đầu người là rất thấp. Ở nước ta, đất đai được xem là tài sản chung
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý thông qua việc sử dụng
các phương pháp và công cụ quản lý khác nhau. Do vậy yêu cầu đặt ra là phải
đưa ra những giải pháp, kế hoạch sử dụng và quản lý đất một cách hợp lý, tiết
kiệm, hiệu quả nhất. Để đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển và thỏa mản nhu cầu
sử dụng cho các mục đích là một vấn đề hết sức quan trọng, cần thiết và luôn là
bài toán khó đặt ra đối với nhà quản lý.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) là một vấn đề
hết sức quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, là một trong 13
nội dung quản lý nhà nước về đất đai, là hồ sơ để Nhà nước quản lý chặt chẽ
toàn bộ quỹ đất trong phạm vi cả nước, đảm bảo đất được sử dụng đầy đủ, hợp lý
và có hiệu quả nhất, là cơ sở để xác định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người sử dụng đất, thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản, góp phần
vào sự phát triển kinh tế của đất nước.
1

2
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận.
2.1.1. Những vấn đề về đất đai
* Khái niệm về đất
- Theo VV.Docutraiep (1846 - 1903): Đất trên bề mặt lục địa là một vật
thể thiên nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp cực kỳ phức tạp của 5
yếu tố: Sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và tuổi thọ địa phương.[1]
- Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu
thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt,
thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với khoáng
sản và nước ngầm trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của
con người và các kết quả của con người trong qúa khứ và hiện tại để lại.[2]
* Phân loại đất đai
Theo sự thống nhất về quản lý và sử dụng đất của Luật đất đai 2003, đất
đai nước ta được phân loại theo các nhóm sau:
- Nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây
lâu năm, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp
khác.
- Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm: Đất ở (gồm đất ở tại nông thôn và
đất ở tại đô thị), đất chuyên dùng (gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng
công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, đất sản
xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng), đất tôn
giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông ngòi, kênh rạch, suối và mặt
nước, đất phi nông nghiệp khác.
- Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm: Đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi
chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây.[6]
3
2.1.2. Quản lý Nhà nước về đất đai

xã hội của cả nước và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Thông qua việc kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất, Nhà nước nắm
chắc tình hình sử dụng đất đai, phát hiện những vi phạm và giải quyết những vi
phạm pháp luật về đất đai.[4]
2.1.3. Những vấn đề về quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất
2.1.3.1. Khái niệm về quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất là quyền của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được
nhà nước giao đất, cho thuê đất, đấu giá quyền sử dụng đất để sử dụng vào các
mục đích theo quy định của pháp luật.[5]
2.1.3.2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
* Khái niệm về GCN QSDĐ
Theo quy định tại điều 4 Luật đất đai 2003:
GCN QSDĐ là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử
dụng đất.
GCN QSDĐ do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành theo một mẫu
thống nhất và được áp dụng thống nhất trong cả nước cho mọi loại đất. GCN
QSDĐ là một (01) tờ gồm bốn (04) trang, mỗi trang có kích thước 190mm x
265mm, bao gồm các đặc điểm và nội dung sau:
- Trang một là trang bìa; đối với bản cấp cho người sử dụng đất thì trang
bìa màu đỏ gồm Quốc huy và dòng chữ "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
màu vàng, số phát hành của giấy chứng nhận màu đen, dấu nổi của Bộ Tài
nguyên và Môi trường; đối với bản lưu thì trang bìa màu trắng gồm Quốc huy và
dòng chữ "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" màu đen, số phát hành giấy
chứng nhận màu đen, dấu nổi của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Trang 2 và trang 3 có đặc điểm và nội dung sau:
+ Nền được in hoa văn trống đồng màu vàng tơ ram 35%
5
+ Trang 2 được in chữ màu đen gồm Quốc hiệu, tên Ủy ban nhân dân cấp

GCN QSDĐ được cấp cho cộng đồng dân cư và trao cho người đại diện hợp
pháp của cộng đồng dân cư đó.
Trường hợp thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của cơ sơ tôn giáo thì
GCN QSDĐ được cấp cho cơ sở tôn giáo và trao cho người có trách nhiệm cao
nhất của cơ sở tôn giáo đó. Chính phủ quy định cụ thể về việc cấp GCN QSDĐ
đối với nhà chung cư và nhà tập thể.
4. Trường hợp người sử dụng đất đã được cấp GCN QSDĐ, giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị thì không phải đổi
giấy chứng nhận đó sang GCN QSDĐ theo quy định của luật này. Khi chuyển
quyền sử dụng đất thì người nhận quyền sử dụng đất đó được cấp GCN QSDĐ
theo quy định của luật này. [5]
* Các trường hợp được và không được cấp giấy GCN QSDĐ
Theo quy định tại điều 49 Luật đất đai 2003 Nhà nước cấp giấy chứng
nhận cho những trường hợp sau đây:
- Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trừ trường hợp thuê đất
nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.
- Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm
1993 đến trước ngày luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp GCN QSDĐ.

- Người đang sử dụng đất theo quy định tại điều 50 và điều 51 của luật này
mà chưa được cấp GCN QSDĐ.
- Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng
cho quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế
chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ, tổ chức sử dụng đất là
pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
- Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của tòa án nhân
dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết
tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.
- Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất.
7

8
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ
củ cấp cho người sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1 trên đây mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ
về chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến
trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác
nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp GCN QSDĐ và không phải nộp
tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa
phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiêp, nuôi trồng thủy sản, làm
muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay
được UBND xã nơi có đất xác nhận là người đang sử dụng đất ổn định và không
có tranh chấp thì được cấp GCN QSDĐ và không phải nộp tiền sử dụng đất.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1 trên đây nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng
10 năm 1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận là đất
không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì được cấp GCN
QSDĐ và không phải nộp tiền sử dụng đất.
5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của
tòa án nhân dân, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp GCN QSDĐ sau thực hiện nghĩa
vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1 trên đây nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm
1993 đến trước ngày Luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành, nay được UBND
xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp
với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử
dụng đất thì được cấp GCN QSDĐ và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định

kiện sau đây:
a) Cơ sở tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động.
10
b) Có đề nghị bằng văn bản của tổ chức tôn giáo có cơ sở tôn giáo đó.
c) Có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất về nhu cầu sử
dụng đất của cơ sở tôn giáo đó. [5]
2.1.4. Bộ máy quản lý Nhà nước về đất và trách nhiệm cơ quan quản lý Nhà
nước về cấp GCN QSDĐ
2.1.4.1. Cơ quan quản lý đất đai
Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý đất đai được thành lập thống nhất từ
trung ương đến cơ sở gắn với quản lý Tài nguyên và Môi trường, có bộ máy tổ
chức cụ thể như sau:
- Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai ở Trung ương là Bộ Tài nguyên và
Môi trường.
- Cơ quan quản lý đất đai ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Sở
Tài nguyên và Môi Ttrường.
- Cơ quan quản lý đất đai ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là
Phòng Tài nguyên và Môi trường.
- Xã, phường, thị trấn có cán bộ địa chính.[6]
2.1.4.2. Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo quy định tại điều 52 Luật đất đai 2003, thẩm quyền cấp GCN QSDĐ
cụ thể như sau:
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp GCN QSDĐ
cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá
nhân nước ngoài.
- Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp GCN
QSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.
- Cơ quan có thẩm quyền cấp GCN QSDĐ quy định tại khoản 1 Điều này
được uỷ quyển cho cơ quan cùng cấp.[3]

liên quan. Ngoài ra, để cụ thể hóa và tạo thuận tiện việc thực hiện Luật và các
văn bản dưới Luật đất đai trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh đã ban hành quyết định
12
số 22/QĐ-UBND ngày 10/4/2006 quy định về hạn mức giao đất ở cho hộ gia
đình, cá nhân và xử lý một số tồn tại vướng mắc khi cấp GCN QSDĐ.
- Từ 2003 đến nay toàn tỉnh đã có 94 dự án quy hoạch được xét duỵêt,
trong đó có 53 dự án đã được triển khai thực hiện còn 41 dự án vẫn chưa được
triển khai thực hiện.
- Thẩm quyền cấp GCN QSDĐ được tổ chức thực hiện đúng theo quy
định tại Điều 52 Luật đất đai 2003.
- Đã thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất vào năm 2006.
- Trình tự, thủ tục cấp GCN QSDĐ được thực hiện thống nhất theo quy
định tại Nghị định số 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ và Nghị định
84/2007/CP của Chính Phủ bổ sung một số điều trong cấp GCN QSDĐ và thu
hồi đất.
- Công tác cấp GCN QSDĐ cho các đối tượng sử dụng đất trên địa bàn
tỉnh đang được thực hiện theo cơ chế "một cửa" đảm bảo đúng theo tinh thần cải
cách hành chính. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 262 phường, xã, thị trấn; 12
huyện, thị xã và các cơ sở cấp tỉnh đều có bộ phận giao dịch một cửa để tiếp
nhận hồ sơ và trả kết quả. Các quy trình, thủ tục hồ sơ, thời gian thực hiện, thẩm
quyền giải quyết đều được niêm yết công khai, tạo điều kiện thuận lợi cho người
sử dụng đất khi làm các thủ tục xin cấp GCN QSDĐ.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực và những kết quả đã đạt được thì
công tác này ở tỉnh vẫn còn một số hạn chế sau:
- Hồ sơ, tài liệu, bản đồ vừa thiếu, vừa biến động nhiều không kịp chỉnh lý
nên việc thực hiện công tác cấp GCN QSDĐ còn gặp nhiều khó khăn.
- Mức độ am hiểu pháp luật về đất đai của người dân còn hạn chế.
- Nguồn nhân lực có chuyên môn để tổ chức thực hiện còn thiếu và chưa
đồng đều, nhiều cơ sở chưa thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nên
cán bộ địa chính phường, xã phải lập hồ sơ cấp GCN QSDĐ. Vì vậy, đã ảnh

- Tổ chức chính trị - xã hội đã cấp được 5 giấy với diện tích 1,034 ha đạt
22,73% số điểm sử dụng đất và 24,39% diện tích do các tổ chức chính trị - xã
hội đang quản lý sử dụng.
14
Bảng 1: Kết quả cấp GCN QSDĐ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
trong những năm qua
T
T
Loại đất Số hộ
Diện tích
(ha)
Số GCN
QSDĐ
đã cấp
Diện tích
đã cấp
giấy
(ha)
Tỷ lệ
cấp
giấy(%)
1 Đất nông
nghiệp
4.556 79.986,47 31.420 10.222,48 14,55
2 Đất lâm nghiệp 2.282 288.205,52 4.318 12.960,21 52.85
3 Đất ở và đất
vườn ao liền kề
đất ở tại đô thị
31.810 6.970,02 191.920 4.451,49 16,57
4 Đất ở và đất

GCN QSDĐ
* Văn bản trước Luật đất đai 2003 có hiệu lực:
- Luật đất đai 1993
- Nghị Định 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính Phủ quy định về
giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định lâu dài.
- Nghị định 60/CP ngày 5 tháng 7 năm 1994 của Chính Phủ về quyền sở
hữu nhà ở và quyền sử dụng đất đô thị.
- Nghị định 176/1999/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 1999 của Chính Phủ
về lệ phí trước bạ.
- Nghị định 38/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2000 của Chính Phủ về thu
tiền sử dụng đất.
- Chỉ thị 18/1999/CT-TTg ngày 01 tháng 7 năm 1999 của Chính Phủ về
một số biện pháp đẩy mạnh việc hoàn thiện công tác cấp GCN QSDĐ nông
nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở nông thôn vào năm 2000.
* Văn bản sau Luật đất đai 2003 có hiệu lực:
- Luật đất đai 2003
- Nghị định 181/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính Phủ về thi
hành Luật đất đai năm 2003.
- Thông tư 29/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ tài
nguyên và Môi trường hướng dẫn về việc lập, chỉnh lý hồ sơ địa chính.
16
- Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 ban hành
về quy định sử dụng đất.
- Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính Phủ
về thu tiền sử dụng đất.
- Thông tư 117/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Chính Phủ
về hướng dẫn thực hiện Nghị định 198/2004/NĐ-CP.
- Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 ban
hành quy định về GCN QSDĐ.
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính Phủ quy định bổ sung về việc cấp

Phương pháp này được sử dụng để thống kê, tổng hợp các số liệu thu thập
được dưới dạng các bảng biểu để từ đó phân tích, tổng hợp đưa ra các nhận xét,
đánh giá về vấn đề cần nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn.
Đây là phương pháp phỏng vấn trực tiếp để tham khảo ý kiến của các cán
bộ chuyên môn về vấn đề cần nghiên cứu.
18
- Phương pháp so sánh.
Đây là phương pháp dùng để so sánh giữa lý luận và thực tiễn, lấy các quy
định của pháp luật về đất đai làm cơ sở để đánh giá thực tế công tác cấp GCN
QSDĐ.
- Phương pháp kế thừa.
Đây là phương pháp kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây về vấn
đề cần nghiên cứu.
19
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
4.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
4.1.1.1.Vị trí địa lý và ranh giới hành chính
Thành phố Hà Tĩnh là đô thị tỉnh lỵ, giữ vai trò trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hóa, trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học của tỉnh, hầu hết cơ quan
đầu ngành của tỉnh đều đóng trên điạ bàn thành phố.
Thành phố Hà Tĩnh, có tọa độ địa lý từ 18
o
18
'
48
''
đến 18

4.1.1.2. Địa hình, địa mạo
Thành phố Hà Tĩnh có địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông với độ
nghiêng không đáng kể, địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc bố trí
mạng lưới giao thông và hệ thống cơ sở hạ tầng.
4.1.1.3. Khí hậu - thủy văn
* Khí hậu
Thành phố Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với
đặc trưng của khí hậu miền Bắc Trung Bộ, có mùa đông lạnh và chia làm hai
mùa rỏ rệt là mùa mưa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau và mùa khô nóng từ
20
tháng 5 đến tháng 10. Nhìn chung TP. Hà Tĩnh có nền nhiệt độ trung bình cao,
nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,8
0
C, nhiệt độ cao nhất là vào tháng 6 khoảng
39
o
C, nhiệt độ thấp nhất là vào tháng 12 khoảng 8
o
C
Thành phố Hà Tĩnh có lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2000 mm,
nhưng phân bố không đều trong năm.
* Thủy văn
Nhìn chung, ở TP. Hà Tĩnh có hệ thống sông Cụt, sông Cầu Phủ, sông
Đồng Môn, sông Cày và sông Hộ Độ bao quanh, lưu vực khá lớn, sông chủ yếu
phục vụ việc thoát lũ về mùa mưa. Tuy nhiên việc tiêu thoát nước lại phụ thuộc
vào chế độ thuỷ văn của sông Rào Cái.
4.1.1.4. Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn thành phố có một số loại khoáng sản như: Thạch anh, Man
gan, quặng Bixit nhưng trữ lượng nhỏ và năm rải rác nên không có giá trị

Thành phố Hà Tĩnh trong những năm gần đây đã được đầu tư nhiều mặt
trong công cuộc xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng và chỉnh trang đô thị nên bộ mặt
của thành phố ngày càng khang trang, cảnh quan môi trường được cải thiện đáng
kể. Tuy nhiên do chưa có một chiến lược đầu tư, quy hoạch hợp lý nên đường
phố ở đây còn chật hẹp, chất lượng chưa cao, tỷ lệ cây xanh che phủ còn ít. Đặc
biệt do thành phố đang ở trong dai đoạn phát triển,việc xây dựng các loại công
trình diễn ra mạnh nên ô nhiễm khói bụi do các loại xe chở vật liệu xây dựng và
các phương tiện cơ giới thải ra là khá lớn.
Hoạt động sản xuất chủ yếu trên địa bàn là dịch vụ và sản xuất nông
nghiệp ở các phường xã ngoại thành nên mức độ ô nhiễm đất, nước do tác động
của con người là chưa nghiêm trọng. Tuy nhiên việc sử dụng các loại phân bón
hóa học, thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu một cách tùy tiện trong sản xuất nông
nghiệp cũng gây ra những tác động xấu nhất định đối với môi trường đất nước.
22
4.1.1.6. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
* Thuận lợi:
- Thành phố Hà Tĩnh là giao điểm giữa các vùng trong tỉnh, nằm trên trục
đường quốc lộ IA có chiều dài khoảng 9km, cách Hà Nội 350km và thành phố
Vinh 50 km về phía Bắc, là điểm xuất phát của các đường tỉnh lộ quan trọng như
Tỉnh lộ 3, Tỉnh lộ 9, Tỉnh lộ 26 và Tỉnh lộ 17 với tổng chiều dài khoảng 17km
nên rất thuận lợi trong việc đi lại, giao lưu buôn bán trao đổi hàng hóa với các
vùng trong tỉnh và cả nước.
- Thành phố Hà Tĩnh là đô thị tỉnh lỵ, giữ vai trò trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hóa, trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học của tỉnh, đây là điều kiện
rất thuận lợi cho sự phát triển ngành dịch vụ, có điều kiện đào tạo nguồn nhân
lực với trình độ cao, thuận tiện trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
hiện đại vào sản xuất, phát triển kinh tế.
* Khó khăn:
- Thành phố Hà Tĩnh nằm trong vùng khí hậu khắc nghiệt, gây khó khăn
cho đời sống và sản xuất của nhân dân.

với kế hoạch và giảm 4,2% so với năm 2007.
Diện tích trồng lúa đạt 2.680 ha, bằng 99,2% kế hoạch, sản lượng lương
thực có hạt là 13.000 tấn, bằng 98,6% kế hoạch, năng suất lúa đạt 48,5 tạ/ha; sản
lượng lạc đạt 1.380 tấn, bằng 95,8% kế hoạch. Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt
313 ha, bằng 88,4% kế hoạch, sản lượng ước đạt 378 tấn, bằng 96,4%. Công tác
phòng dịch, dập dịch trên gia súc, gia cầm được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả.
Tổng đàn trâu bò ước đạt 6.640 con, bằng 86% kế hoạch, đàn lợn ước đạt 30.000
con, bằng 100% kế hoạch, đàn gia cầm ước đạt 180.000 con bằng 100% kế
hoạch.
* Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
Trong những năm qua ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng
cơ bản đã có sự phát triển khá mạnh mẽ, các doanh nghiệp phát triển cả về quy
mô và chất lượng. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư theo chiều sâu, đổi
mới thiết bị, công nghệ, bám sát thị trường, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu
24
quả sản xuất, kinh doanh. Mặc dù bị ảnh hưởng của lạm phát nhưng vẫn đạt mức
tăng trưởng khá, một số mặt hàng như cơ khí, chăn ga gối nệm tiếp tục duy trì
phát triển. Giá trị sản xuất ước thực hiện đạt 249 tỷ đồng, bằng 105,1% kế hoạch
và tăng 15,8% so với năm 2007.
Công tác xây dựng cơ bản năm 2008 gặp nhiều khó khăn do chịu ảnh
hưởng lớn của biến động giá cả và thay đổi chính sách về đầu tư xây dựng cơ
bản của nhà nước nên một số công trình thực hiện không đạt kế hoạch giao, tiến
độ chậm. Tổng số công trình đã triển khai thực hiện là 115 công trình, hoàn
thành đưa vào sử dụng 82 công trình. Gía trị sản xuất ngành xây dựng ước thực
hiện đạt 270 tỷ đồng, bằng 97,8% kế hoạch và tăng 20,5% so với năm 2007.
* Ngành thương mại - dịch vụ và du lịch
Hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng khá, cơ bản đáp ứng
nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân. Giá trị sản xuất ngành Thương mại -
Dịch vụ ước thực hiện đạt 255 tỷ đồng, bằng 101,2% kế hoạch và tăng 20,9% so
với năm 2007. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và dịch vụ xã hội năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status