290 Một số giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM đến năm 2010 - Pdf 25


1
LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, cùng với việc thực hiện chuyển dòch cơ cấu kinh tế, Đảng
và nhà nước vẫn luôn coi trọng vấn đề thúc đẩy sự phát triển của hệ thống các doanh
nghiệp mà cụ thể là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu lao động
của các doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay Việt Nam chúng ta gia nhập
vào tổ chức thương mại thế giới ( WTO ) thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết hơn.
Mặc dù số lượng lao động tại TP.HCM ngày càng tăng nhưng chất lượng nguồn nhân
lực vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp trong các thành phần kinh
tế.
Xuất phát từ tầm quan trọng tính bức xúc của vấn đề đáp ứng nhu cầu lao động cho
các doanh nghiệp và thông qua đó cũng là giải quyết việc làm cho người lao động
trên đòa bàn thành phố đã thôi thúc tác giả luận văn chọn đề tài “ Một số giải pháp
nhằm đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp trên đòa bàn TP.HCM đến
năm 2010” với mong muốn tìm ra những vấn đề cốt lõi của vấn đề lao động việc làm,
và đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải
pháp nhằm đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp phù hợp với điều kiện
kinh tế – chính trò xã hội của TP.HCM.
Như vậy đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác đònh là vấn đề lao
động và nhu cầu lao động trên đòa bàn TP.HCM.
Luận văn cũng đặt ra mục tiêu nghiên cứu là :
 Đánh giá thực trạng về nhu cầu lao động của các doanh nghiệp và các hoạt
động hỗ trợ đáp ứng nhu cầu này nhằm tìm ra những vấn đề tồn tại, nguyên
nhân đưa đến những khó khăn và hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu lao động
của các doanh nghiệp trên đòa bàn thành phố trong thời gian qua.

2
 Đề xuất một số phương hướng, giải pháp đáp ứng nhu cầu lao động cho các
doanh nghiệp cho đến năm 2010 phục vụ cho sự phát triển của hệ thống các

hình thành trên đại thể song còn thiếu đồng bộ, vận hành chưa thông suốt, công cuộc
đổi mới đi vào chiều sâu gắn với hội nhập quốc tế sẽ vấp phải những trở lực do nhận
thức chưa chuyển kòp bởi thói quen và cách làm ăn cũ còn in sâu vào tư duy của mỗi
người. Tình hình và điều kiện thực tế của đất nước cùng với bối cảnh quốc tế tạo khả
năng, đồng thời đòi hỏi trong 10 năm đầu của thế kỷ 21 trên con đường công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập vào nền kinh tế quốc tế chúng ta phải phát triển nhanh
và bền những chủ động hội nhập quốc tế và đổi mới sâu rộng hơn nữa.
Trong thời kỳ kế hoạch 10 năm ( 2001 – 2010 ) tư tưởng lớn nhất, cái gốc của
tư duy đổi mới trong lónh vực lao động và việc làm là phải đặt con người vào vò trí
trung tâm khơi dậy tiềm năng của mỗi cá nhân và cả cộng đồng dân tộc, kết hợp hài
hoà giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống
tinh thần của nhân dân, coi phát triển kinh tế là cơ sở, là phương tiện và tiền đề để
thưc hiện các chính sách xã hội vừa là động lực, vừa tạo sự ổn đònh về chính trò xã hội,
làm cơ sở cho tăng trưởng kinh tế bền vững.
Điều 13 chương II Bộ luật lao động của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghóa
Việt Nam đã ghi rõ “ Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bò pháp luật
cấm đều được gọi là việc làm”. Tư tưởng này là cơ sở đònh hướng cho cuộc cách
mạng trong lónh vực lao động và việc làm, đã làm thay đổi căn bản tư tưởng bao cấp
và cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây để chuyển sang nhận thức quan niệm mới
về lao động và việc làm. Từ chỗ quan điểm giải quyết việc làm là trách nhiệm của
nhà nước và chỉ làm việc trong 2 thành phần kinh tế cơ bản : quốc doanh và hợp tác

4
xã mới được coi là có việc làm thì nay cùng với nhà nước mỗi công dân, gia đình, mỗi
tổ chức đều có thể và được phép tạo mở việc làm trong các thành phần kinh tế ( nhà
nước, tập thể, tư bản nhà nước, tư nhân, cá thể, liên doanh nước ngoài ) bao hàm mọi
hình thức tổ chức kinh doanh, từ các doanh nghiệp lớn đến các loại quy mô vừa và
nhỏ, kinh tế hộ gia đình, các hoạt động trong khu vực kinh tế phi kết cấu.
Người lao động đã năng động và chủ động tự tạo việc làm cho mình và cho xã
hội, không thụ động chờ sự bố trí của nhà nước. Người sử dụng lao động được khuyến

tạp hơn, một số nghề mới xuất hiện, một số nghề cũ mất đi. Và như thế, nhu cầu về
lao động có sự thay đổi, các doanh nghiệp thường thiếu những công nhân có tay nghề
cao và có nghề mới.
Cuối cùng là sự cạnh tranh của các đối thủ cũng như sự cạnh tranh có tính chất
toàn cầu tăng lên làm cho các doanh nghiệp, một mặt, phải không ngừng nâng cao
trình độ nghề nghiệp của nhân viên của mình, và mặt kia, phải giảm bớt chi phí lao
động, phải tiết kiệm chi phí tiền lương để giảm giá thành sản phẩm và tăng sức cạnh
tranh. Điều đó làm cho các doanh nghiệp có chiến lược sử dụng lao động theo hướng
chọn lọc hơn và tinh nhuệ hơn…
Các quyết đònh về chiến lược của doanh nghiệp :
Các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu lao động
tương lai của nó. Khi dự báo có sự tăng trưởng, có sự đầu tư mới mở rộng sản xuất
hoặc tiến hành một công việc mới, một sản phẩm mới… thì nhu cầu về nguồn lao động
sẽ tăng lên và ngược lại, khi có sự suy giảm, hay thu hẹp sản xuất – kinh doanh thì tất
yếu dẫn đến nhu cầu về nhân lực sẽ giảm đi.
Một sự đầu tư mới về công nghệ hay một sự thu hẹp về tài chính cũng làm cho
doanh nghiệp xem xét lại nhân lực của mình.

6
Hơn nữa, việc dự báo về bán hàng và sản xuất sản phẩm cũng quyết đònh đến
nhu cầu lao động của doanh nghiệp ( ví dụ như nhu cầu về lao động tương lai của
doanh nghiệp sẽ phát triển lên hay thu hẹp đi sẽ tương ứng với giai đoạn phát triển
hay suy tàn của chu kỳ sống của sản phẩm doanh nghiệp )…
Sự thay đổi tự nhiên lực lượng lao động của doanh nghiệp :
Theo thời gian, lực lượng lao động của doanh nghiệp sẽ tất yếu thay đổi như có
sự nghỉ hưu, có sự ra đi, thay đổi, thuyên chuyển và kết thúc hợp đồng lao động… các
nhà quản lý nhân lực có thể dự báo trước được những thay đổi này. Còn những thay
đổi do sự vắng mặt, sự thiếu năng lực và tai nạn hoặc chết thì khó có thể biết trước
được.
1.2.3 Phương pháp dự báo về nhu cầu lao động

rộng – tăng lao động hay tăng chiều sâu – tăng năng suất lao động ).
9 p dụng công thức thể hiện mối quan hệ ràng buộc giữa tốc độ tăng năng suất lao
động và tăng GDP ( độ co giãn lao động hoặc co giãn về đầu tư ) để ước tính số
cầu về lao động trong tương lai đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, một vùng,
một tỉnh và các khu vực kinh tế.
9 Tính toán số việc làm mới có thể tạo ra từ các chương trình phát triển kinh tế,
trong các ngành kinh tế, trong từng thời kỳ cũng như số người thất nghiệp, thiếu
việc làm hoặc nhu cầu việc làm bổ sung từ các chương trình khác để đạt tỷ lệ thất
nghiệp như mong muốn.
1.3 Phân loại lao động trong doanh nghiệp
Lao động là yếu tố cơ bản trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Không có lao
động của con người thì hoạt động sản xuất kinh doanh không thể tiến hành được. Cho
nên dù trình độ khoa học kỹ thuật phát triển đến đâu, dù sản xuất hoàn toàn tự động

8
hoá đi nữa, vai trò lao động của con người trong hoạt động sản xuất kinh doanh không
thể thiếu được.
Toàn bộ lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất và kinh doanh của
doanh nghiệp, tuỳ theo chế độ tổ chức và quản lý sử dụng lao động của doanh nghiệp
đối với họ có thể được phân thành các loại lao động như sau :
Lao động lãnh đạo : là những người làm công tác lãnh đạo, tổ chức quản lý
sản xuất, kinh doanh, công tác hành chính quản trò, bao gồm : giám đốc, các phó giám
đốc, các trưởng phòng, quản đốc, các phó quản đốc phân xưởng.
Lao động nghiệp vụ : bao gồm các cán bộ nhân viên công tác ở các phòng,
ban, bộ phận kế hoạch, thống kê, kế toán, tài vụ, lao động tiền lương, cung tiêu của
doanh nghiệp, công tác tổ chức nhân sự, hành chính, văn thư, đánh máy, điện thoại,
phát thanh, phiên dòch, lái xe con,…
Lao động kỹ thuật : là những người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công
tác kỹ thuật trong doanh nghiệp. Được gọi là nhân viên kỹ thuật, phải là những người
có đủ hai điều kiện :

 Những người bảo quản thiết bò máy móc; điều khiển máy điều hoà nhiệt độ;
đốt lò; dọn vệ sinh ở các gian máy sản xuất, nơi làm việc của công nhân…
 Những người phục vụ xây dựng cơ bản, nhân viên vận tải nhằm phục vụ
vận chuyển vật tư hàng hoá ngoài phạm vi doanh nghiệp, nhân viên thu
mua…
1.4 Nhận dạng thò trường lao động TP.HCM trong giai đoạn hiện nay
Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thò trường, ở Việt Nam đã hình
thành các loại thò trường trong đó có thò trường lao động. Tuy nhiên, đối với Việt Nam

10

thò trường lao động vẫn còn là một khái niệm còn mới mẻ và có nhiều tranh luận. Có
thể hiểu khái niệm “ thò trường lao động” là toàn bộ các quan hệ kinh tế hình
thành trong lónh vực thuê mướn lao động. Đối tượng bao gồm những người đang
tham gia và đang cố gắng tham gia vào quá trình thuê mướn lao động. Như vậy không
phải toàn bộ lực lượng lao động nằm trong thò trường lao động mà chỉ có những người
thuê và những người đi làm thuê mới tham gia vào thò trường lao động.
Thò trường lao động chính là nơi thể hiện quan hệ xã hội giữa người lao
động làm thuê và người thuê mướn lao động thông qua sự điều chỉnh giá cả tiền
công.
TP.HCM không chỉ là đòa phương có số lượng lớn về dân số và lao động mà
còn là nơi đi đầu trong cả nước về phát triển quan hệ thò trường, đặc biệt là các quan
hệ trong thò trường lao động. Việc tìm hiểu thò trường lao động TP.HCM sẽ giúp cho
việc tìm ra giải pháp nào là cần thiết để có thể điều tiết được quan hệ cung cầu sức
lao động, nghóa là góp phần đáp ứng được nhu cầu lao động của các doanh nghiệp
trên gốc độ quản lý.
Thò trường lao động TP.HCM có một số đặc trưng chủ yếu sau :
Thứ nhất : Thò trường lao động thành phố vận hành và phát triển trên một nền
kinh tế hàng hoá và cơ chế thò trường hình thành khá sớm, cho nên mối quan hệ
cung cầu ở đây khá phong phú đa dạng, phong phú cả nguồn cung ứng lao động và

9 Lực lượng lao động nhiều nhưng chất lượng lao động thấp, chưa đáp ứng được yêu
cầu phát triển của thành phố hiện tại và tương lai nói chung và nhu cầu lao động
của các doanh nghiệp nói riêng.
9 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động còn thấp và cơ cấu các loại

12

trình độ, cơ cấu ngành nghề phân bổ chưa hợp lý, có ngành đào tạo nhiều nhưng
không sử dụng hết, ngành lại quá thiếu, đặc biệt là đội ngũ công nhân kỹ thuật
thiếu hầu hết ở các ngành, các khu vực kinh tế.
9 Hệ số ổn đònh của các nguồn việc làm còn thấp, nhiều người tuy có việc làm
nhưng ở dạng thất nghiệp trá hình, làm việc năng suất thấp. Số người trong biên
chế nhà nước còn quá nhiều so với yêu cầu công việc, việc phát triển các thành
phần kinh tế chưa ổn đònh, tạo tình trạng thất nghiệp thường xuyên.
Thứ tư : Thò trường lao động thành phố đã bước đầu thể hiện tính cạnh tranh của
các loại hàng hoá lao động.
Cạnh tranh giữa nguồn cung ứng lao động tại chỗ với nguồn lao động nhập cư, nhập
khẩu.
Cạnh tranh lao động thông qua đòi hỏi tiêu chuẩn tình độ chuyên môn giữa các dòng
lao động và ngay trong một bộ phận lực lượng lao động.
Cạnh tranh giữa hàng hoá sức lao động và hàng hoá dưới dạng tư liệu sản xuất. Cạnh
tranh này diễn ra trong xu hướng chuyển giao công nghệ ngày càng cao, sử dụng lao
động ngày càng ít, sử dụng chất xám tay nghề ngày một cao.
Tóm lại, việc tìm hiểu các khái niệm về nhu cầu lao động, phân loại lao động, và
nắm vững một số đặc trưng của thò trường lao động TP.HCM chính là những điều kiện
và tiền đề hết sức căn bản cho việc khai thác và sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã
hội nhằm đáp ứng nhu cầu lao động hết sức cấp thiết của các doanh nghiệp hiện nay.
Cung – cầu lao động TP.HCM vẫn có nhiều nghòch lý, diễn biến phức tạp nhưng nếu
có những chủ trương chính sách phù hợp sẽ đưa thò trường lao động vào phát triển ổn
đònh. Thực tế cho thấy, thò trường lao động ổn đònh thì kinh tế mới phát triển bền vững.

(Trích báo cáo chính trò của Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII)
Cơ cấu lao động có sự chuyển dòch khá nhanh sang các ngành công nghiệp và
dòch vụ, lao động trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp hiện chỉ còn 6,3% tổng số lao
động đang làm việc trên đòa bàn thành phố và chỉ chiếm 25% số lao động đang sinh

14

sống ở nông thôn. Năng suất lao động chung của các ngành kinh tế của thành phố
tăng bình quân 8,5%/năm.
Để đánh giá thực trạng nguồn lao động của thành phố cần phải xét giữa sự phát triển
nguồn lao động và tăng trưởng kinh tế tạo nguồn nhu cầu trong thò trường lao động.
2.1.1 Sự biến động dân số thành phố:
- Tốc độ tăng bình quân dân số thành phố từ năm 1999 đến 2004 cao hơn hẳn
tốc độ tăng dân số các thời kỳ trước.
Đến ngày 1/10/2004 dân số thường trú trên đòa bàn thành phố là 6.117.251
người, bao gồm 5.140.417 người ở nội thành và 976.839 người ở ngoại thành. Mật độ
dân số thành phố là 2.920 người/km
2
, tăng 21,4% so với mật độ dân số thành phố vào
năm 1999 (2.404,4 người/ km
2
). So với tổng điều tra dân số thời điểm 1/4/1999 thì sau
5,5 năm dân số thường trú thành phố tăng trên 1.080.096 người. Mức tăng dân số từ
1999 - 2004 bằng mức tăng trong 10 năm 1989 - 1999 và bằng xấp xỉ 2 lần mức tăng
dân số trong 10 năm 1979 - 1989.
- Tốc độ tăng dân số của thành phố chủ yếu là tăng cơ học 2,33%/năm. Điều này
hoàn toàn phù hợp với sự tăng trưởng kinh tế trong những năm qua, đó là tốc độ tăng
cơ học của dân số tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của thành phố
GDP tăng liên tục, bình quân 11,2%/năm.
Năm 2001 có 960.018 dân từ các tỉnh, thành phố khác đến TP.HCM chiếm 17,62%

1.000
người
5.449,20 5.659,00 5.867,50 6.109,49 6.153,94
Lực lượng lao động
1.000
người
3.604,19 3.723,13 3.816,03 3.953,41 4.164,16
Tỷ lệ lao động so với dân số % 66,14 65,79 65,04 64,71 67,67
Tổng số lao động có việc
làm
1.000
người
2.260,91 2.335,70 2.503,21 2.561,10 2.821,22
- Trong đó Nữ " 1.184,26 1.234,18 1.303,92 1.333,05 1.467,88

16

Lao động cần giải quyết
việc làm
1.000
người
244,36 250,19 251,10 242,34 245,69
Tỷ lệ lao động cần giải
quyết việc làm so với người
trong tuổi lao động
% 6,78 6,72 6,58 6,13 5,90
Nguồn : Sở LĐ – TBXH TP.HCM
2.1.2 Chất lượng lao động Thành phố:
Lực lượng lao động Thành phố tăng dần qua các năm, năm 2001 lao động trong
độ tuổi là 3.604 triệu người, chiếm tỉ trọng 66,14%, đến năm 2005 lao động trong độ

Biểu 4 : Tỷ lệ thất nghiệp TP. HCM giai đoạn 2001-2005
Nguồn : Sở LĐ – TBXH TP.HCM
Qua số liệu về tỷ lệ thất nghiệp trên đòa bàn thành phố chúng ta có thể rút ra
những nhận xét sau :
- Bức tranh về thò trường lao động TP. HCM có vẻ sáng sủa hơn khi tình hình về
tỷ lệ thất nghiệp liên tục giảm.
- Số lao động thất nghiệp đã qua đào tạo vẫn còn khá cao , ngay cả đối với
những người được gọi là có trình độ cao, những sinh viên tốt nghiệp trung cấp,
cao đẳng, đại học. Theo số liệu điều tra tính toán từ số liệu sinh viên học sinh
đăng ký tìm việc tại Trung tâm dòch vụ việc làm SV – HS, số sinh viên, học
sinh ra trường tìm việc làm sau 3 tháng mà vẫn chưa tìm được việc làm đối
với trình độ cao đẳng, đại học lên tới 42%; đối với trình độ trung cấp là 28%
trong tổng số sinh viên ra trường có đi tìm việc.

18

Phân bố thất nghiệp theo đòa bàn quận huyện ( xem phụ lục 1)
Số lao động thất nghiệp cao nhất là ở Quận Bình Thạnh ( 24.166 người ) kế đến là
quận Gò Vấp.
Nơi có số lao động thất nghiệp thấp nhất là : Quận 11 ( 1.904 người ), kế đến là Quận
10.
Nhìn chung tình hình thất nghiệp năm 2005 của thành phố có những đặc điểm cơ bản
sau :
9 Tỷ lệ thất nghiệp ở ngoại thành còn tương đối cao. Điều này cũng phù hợp với
thực tế do quá trình đô thò hoá cùng với sự hình thành của các chế xuất, khu công
nghiệp và khu dân cư mới làm cho dân vùng ven tăng. Ngoài ra còn do sự di cư tự
phát của dân từ các tỉnh thành phố khác đến.
9 Số lao động thất nghiệp của thành phố biến động khá lớn, khoảng trên dưới 30%
không có việc làm ổn đònh. Một bộ phận khoảng 20% do có thu nhập thấp nên
không muốn tìm việc làm ( thất nghiệp tự nguyện ).

việc làm của thành phố.
9 Trong quá trình phát triển, TP.HCM dựa vào một số ngành chủ lực như dòch vụ,
công nghiệp và xây dựng, thương mại, nhà hàng, khách sạn, công nghiệp chế biến.
Nhu cầu bổ sung lao động ở các ngành này rất lớn. Nếu chỉ dựa vào nguồn nhân
lực tại chỗ của TP.HCM sẽ không bảo đảm được nguồn nhân lực cho các doanh
nghiệp nói riêng và cho sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố nói chung.
2.4 Nhu cầu lao động của các doanh nghiệp trên đòa bàn TP.HCM
Với nguồn cung của thò trường lao động TP.HCM hết sức đa dạng và phong phú, tổng
nguồn cầu của thò trường lao động thành phố trong những năm vừa qua cũng hết sức

20

phong phú và đa dạng, với sự cho phép tồn tại, phát triển kinh tế háng hoá nhiều
thành phần và hàng loạt các chính sách kinh tế đúng đắn. Chủ trương đổi mới chính
sách kinh tế đã được thể chế hoá bằng các Nghò đònh, Luật của Chính phủ. Cụ thể là
năm 1988, Hội đồng bộ trưởng nay là Chính phủ đã ban hành các nghò đònh số 27, 28,
29 ban hành quy đònh đối với chính sách kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh, kinh tế tập
thể và kinh tế gia đình. Cùng với Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm
1987, năm 1990 Quốc Hội đã thông qua 2 Luật về doanh nghiệp tư nhân và Luật công
ty, theo đó các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( liên doanh, 100% vốn nước
ngoài ) các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được
hình thành và hoạt động tại Việt Nam. Hơn thế nữa với sự ra đời của Luật doanh
nghiệp mới đã khuyến khích sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp trong thời gian
gần đây. Như vậy, song song với thành phần kinh tế nhà nước ( doanh nghiệp nhà
nước ) ở Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng đã hình thành các loại hình tổ
chức kinh tế thuộc khu vực kinh tế cá thể, tư bản tư nhân trong và ngoài nước.
Các loại hình tổ chức doanh nghiệp theo các thành phần kinh tế trên đòa bàn TP.HCM
hiện nay bao gồm :
9 Hình thức kinh tế nhà nước hay kinh tế quốc doanh được thành lập và tổ chức
hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu nhà nước được gọi là

Ngành nghề Nhu cầu lao động
Nông lâm sản 82.006
Thủy sản 18.387
Công nghiệp khai thác 31.878
Công nghiệp chế biến 255.591
CNSX và phân phối điện nước 46.722
Xây dựng 35.646
Dòch vụ 535.195
Thương nghiệp 124.367

22

Khách sạn & nhà hàng 68.994
Vận tải, kho bãi, bưu điện 29.146
Tài chính, tín dụng 12.237
Khoa học công nghệ 15.551
Kinh doanh tài sản & tư vấn 23.478
Các họat động dòch vụ khác 261.422
Tổng cộng 1.005.415
Nguồn : Sở LĐ – TBXH TP.HCM
Biểu 6 : Nhu cầu lao động TP.HCM theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ giai
đoạn 2001 – 2005
Đơn vò : Người
2001 – 2005
Ngành
CNKT, NVNV TCCN CĐ, ĐH Sau ĐH Tổng cộng
Nông, lâm, thủy
CN và XD
Các ngành dòch vụ
51.123

23

đang làm việc năm 2004 là 8,63%; thực tế biến động lao động trong các doanh nghiệp
rất lớn nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bình quân tuyển mới 03 lao động
thì có 02 lao động đang làm việc trước đó di chuyển đến nơi khác, tỷ lệ biến động lao
động bình quân 40-50%. Đặc biệt, biến động lao động tại các đơn vò sản xuất thuộc
ngành may rất cao, bình quân 20%/năm (di chuyển qua lại trong các đơn vò sản xuất
may khoảng 40.000 người/năm), đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong
nước có những đơn vò biến động lao động 50-60%/năm. Từ đó tỉ lệ lao động thôi việc,
bỏ việc, chuyển chỗ làm việc và tỉ lệ tuyển dụng lao động mới cũng rất cao bình quân
18-20%/năm/doanh nghiệp. Sự chuyển dòch lao động cao giữa các ngành kinh tế hoặc
giữa các khu vực là do có sự chênh lệch về tiền lương thu nhập, nhất là đối với lao
động nhập cư.
Tình hình tuyển dụng lao động : Trong giai đoạn 2001- 2005, lao động tại các doanh
nghiệp được tuyển dụng thông qua hệ thống giới thiệu việc làm của nhà nước và một
số ít các doanh nghiệp dòch vụ việc làm chiếm 25% trong tổng số lao động tìm được
việc làm hàng năm trên đòa bàn thành phố, đại bộ phận là do doanh nghiệp tự tuyển
hoặc các kênh thông tin riêng (qua mạng internet, báo chí, người quen….).
Do đòi hỏi của nền kinh tế, các doanh nghiệp có nhu cầu về lao động qua đào tạo là
khá cao. Tổng số nhu cầu lao động qua đào tạo là 713.602 người. Điều đáng chú ý là
nhu cầu về lao động được đào tạo sau đại học chiếm số lượng đáng kể lên đến 10.246
người. Nhu cầu về công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ vẫn chiếm chủ yếu,
trong vòng 5 năm qua là 552.424 người; nhu cầu lao động về trung cấp chuyên nghiệp
là 79.444 người, nhu cầu về lao động có trình độ cao đẳng đại học là 71.488 người.
Trong tổng số lao động tuyển cho năm 2005, tỉ lệ về trình độ chuyên môn kỹ thuật từ
cao đẳng, đại học trở lên chiếm 17,27%; trung học chuyên nghiệp: 6,99%; công nhân
kỹ thuật : 21,69% trong đó công nhân kỹ thuật từ bậc 3 trở lên chiếm 16,33%. (Nguồn

24


như sau :
9 Thiếu lao động kỹ thuật và thừa lao động phổ thông. Chẳng hạn, loại lao động
chuyên gia kỹ thuật thiếu trên 21%, trong đó doanh nghiệp nhà nước thiếu đến
44,98%, khu vực ngoài quốc doanh và đầu tư nước ngoài thiếu trên 21%. Công
nhân kỹ thuật thiếu trên 25%, trong đó doanh nghiệp nhà nước thiếu trên 42,56%,
khu vực ngoài quốc doanh và đầu tư nước ngoài thiếu trên 25%… trong đó lao
động phổ thông không có tay nghề ở các doanh nghiệp nhà nước thừa đến 1,67%.
9 Về phân loại lao động thì kết quả điều tra lao động cho thấy lao động nhập cư từ
nơi khác vào thành phố chiếm đến 55% và lao động có nguồn gốc tại chỗ
TP.HCM chỉ chiếm có khoảng 45%. Cụ thể như sau :
Biểu 7 : Phân loại nguồn gốc lao động
Khu vực quốc
doanh
Ngoài quốc doanh Khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài

LĐNC LĐTC LĐNC LĐTC LĐNC LĐTC
Tỷ lệ lao động (%) 54,5 45,5 56,88 43,12 48,87 51,13

9 Hầu hết các doanh nghiệp đều nhận đònh là có khó khăn trong việc tuyển dụng
lao động có trình độ chuyên môn, mà chủ yếu là lao động có trình độ chuyên môn
cao. Cụ thể khó khăn nhất là ở khối các doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 58,04%
9 Tỷ lệ đào tạo lại lao động của các doanh nghiệp cũng thể hiện sự bất cân xứng
giữa đào tạo và nhu cầu lao động của doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp
đều phải đào tạo lại cho người lao động mà tập trung chủ yếu các doanh nghiệp
nhà nước. Khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài chủ yếu chỉ đào tạo lại cho cán bộ nghiệp vụ và công nhân trực tiếp
sản xuất là chiếm tỷ trọng cao.

Trích đoạn CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2010 3.1 Mục tiêu giải quyết việc làm cho đến năm Chia theo khu vực + LĐ khu vực Giải pháp hỗ trợ giải quyết việc làm và đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp : Giải pháp đào tạo gắn với bố trí việc làm phù hợp với thị trường lao động: 1 Giải pháp đào tạo nghề gắn với bố trí việc làm phù hợp với thị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status