Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
rong thời đại ngày nay, bất cứ một doanh nghiệp nào khi bắt tay
vào kinh doanh đều muốn gắn kinh doanh của mình vào thị trờng
và họ hiểu rằng: Thơng trờng chính là chiến trờng, mặc dù nơi đó
không có tiếng bom, tiếng súng nhng để tồn tại cần phấn đấu vợt qua
mọi trở ngại là hết sức khó khăn, phức tạp. Nơi đó cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp là vô cùng khốc liệt, một mất một còn. Nếu ai tuân theo
quy luật của thị trờng thì sẽ tồn tại và ngợc lại, bất chấp quy luật của thị
trờng thì sẽ thất bại. Nh vậy, để tồn tại, để là ngời chiến thắng trong
cuộc đua đầy khó khăn, thử thách thì buộc các doanh nghiệp phải cạnh
tranh. Cạnh tranh không chỉ diễn ra trong phạm vi nhỏ hẹp ở một quốc
gia mà còn diễn ra giữa các tập đoàn với nhau, giữa các quốc gia với
nhau, thậm chí cả giữa các Châu lục với nhau.
T
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế tăng trởng nhanh đã tạo
nên động lực thu hút mạnh mẽ đầu t từ phía nớc ngoài, từ đó tạo điều
kiện cho sản phẩm của Việt Nam có mặt trên thị trờng quốc tế thông
qua con đờng xuất khẩu. Tuy nhiên, sức cạnh tranh trên thị trờng quốc
tế vô cùng mạnh mẽ và các doanh nghiệp Việt Nam thờng bị chèn ép
bởi nhiều lý do khác nhau. Vì thế, các doanh nghiệp phải tăng cờng khả
năng cạnh tranh. Nhờ có cạnh tranh mà doanh nghiệp sẽ tự tìm cho
mình một hớng đi đúng để giữ vững đợc chỗ đứng trên thị trờng quốc tế,
giữ đợc chữ tín với khách hàng và từ đó mới có thể đạt đợc thành công
trong kinh doanh.
Từ những nhận thức cơ bản về vấn đề cạnh tranh và thực tiễn cạnh
tranh của xí nghiệp TOCAN, đề tài luận văn là: Một số biện pháp
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của xí nghiệp TOCAN
trên thị trờng quốc tế.
Luận văn sẽ đi vào nghiên cứu vấn đề cạnh tranh, một trong những
vấn đề quyết định sự thành bại của doanh nghiệp hiện nay.
Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh của doanh nghiệp
Các yếu tố phục vụ hoạt động cạnh tranh là các yếu tố tạo nên sản phẩm.
Vì vậy cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp là biểu hiện nổi bật nhất, là
biểu hiện cuối cùng của cạnh tranh đợc bộc lộ ra bên ngoài. Do đó trong phần
này, từ những khái quát chung về cạnh tranh, chúng ta sẽ đề cập tới những
vấn đề về cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp, một trong những vấn đề quyết định sự thành bại của doanh
nghiệp hiện nay.
I. Thị trờng quốc tế và cạnh tranh trên thị trờng quốc tế của doanh
nghiệp.
1. Thị trờng và thị trờng quốc tế của doanh nghiệp.
1.1. Các quan niệm về thị trờng dới các góc độ khác nhau.
Chúng ta biết rằng thị trờng ra đời, tồn tại và phát triển khi có đầy đủ 3
yếu tố cơ bản sau:
- Phải có khách hàng và ngời bán.
- Khách hàng phải có nhu cầu cha đợc thoả mãn. Đây chính là động lực
chủ yếu thúc đẩy khách hàng mua hàng hoá và dịch vụ.
- Khách hàng phải có sức mua, tức là phải có tiền để mua hàng. Nếu chỉ
có nhu cầu mà không có tiền thì quá trình mua bán, trao đổi không thực hiện
đợc.
Trên cơ sở đó, các quan niệm về thị trờng nói chung và thị trờng quốc tế
nói riêng có thể xét theo nhiều góc độ khác nhau và từ đó có những quan
niệm khác nhau.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Theo quan niệm của kinh tế học: Thị trờng là tổng thể của cung và cầu
đối với một loại hàng hoá nhất định trong một không gian và thời gian cụ thể
.
- Theo quan niệm của Marketing: Thị trờng bao gồm tất cả những
khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có
cầu là cái nội dung bên trong đợc biểu hiện bằng hành vi, ý kiến, thái độ bên
ngoài của khách hàng, là cái mà doanh nghiệp có thể tiếp cận đợc. Vì vậy
đứng trên giác độ doanh nghiệp thì thị trờng của doanh nghiệp là tập hợp
những khách hàng hay một nhóm khách hàng đang mua hoặc sẽ mua sản
phẩm của doanh nghiệp.
Từ đó ta có khái niệm về thị trờng quốc tế của doanh nghiệp : Thị trờng
quốc tế của doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng nớc ngoài tiềm năng
của doanh nghiệp đó.
Theo quan niệm trên thì số lợng và cơ cấu nhu cầu của khách hàng nớc
ngoài đối với sản phẩm của doanh nghiệp cũng nh sự biến động của các yếu
tố đó theo không gian và thời gian là đặc trng cơ bản của thị trờng quốc tế của
doanh nghiệp. Số lợng và cơ cấu nhu cầu chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố
khách quan và chủ quan, vĩ mô và vi mô, vì thế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
phải nghiên cứu một cách tỉ mỉ, chính xác.
1.2. Cấu trúc của thị trờng quốc tế.
Thị trờng quốc tế của doanh nghiệp là tập hợp khách hàng nớc ngoài
hiện tại và tơng lai của doanh nghiệp. Do đó ta có thể phân tích cấu trúc của
tập hợp khách hàng này để phân chia thành từng những nhóm khách hàng t-
ơng đối thuần nhất, theo cấu trúc sẽ giúp doanh nghiệp xác định đợc mục tiêu
cần chiếm lĩnh trong tơng lai và các biện pháp thực hiện mục tiêu đó. Cấu trúc
của tập hợp khách hàng này có thể phân tích theo mức độ tiêu dùng sản phẩm
của doanh nghiệp và khi đó thị trờng bao gồm các bộ phận hợp thành sau:
1.2.1. Thị trờng sản phẩm.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Sản phẩm ở đây đợc hiểu là một hay một nhóm sản phẩm cùng loại.
- Nếu sản phẩm là vật phẩm tiêu dùng, hàng hoá dịch vụ thì phải bắt đầu
xét từ tổng thể dân c của vùng lãnh thổ đang xét.
- Nếu sản phẩm là t liệu sản xuất (các yếu tố sản xuất) thì phải bắt đầu
xét từ tổng thể các doanh nghiệp trong vùng đó có sử dụng các t liệu đó.
doanh nghiệp cần đạt tới và xây dựng những chính sách thích hợp.
Tóm lại, sự ra đời và phát triển của thị trờng là một tất yếu khách quan,
thúc đẩy sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Khi đề cập đến thị trờng là nói
đến sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế. Không có cạnh tranh thì không có
thị trờng. Thị trờng chính là nơi gặp gỡ của các đối thủ trên chiến trờng
không có tiếng súng.
2. Nhận thức cơ bản về cạnh tranh.
2.1. Cạnh tranh là gì ?
Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế tham gia
vào thị trờng nhằm giành giật những lợi ích kinh tế về mình để thu đợc lợi
nhuận cao.
Các chủ thể ở đây là ngời bán, ngời mua các loại hàng hoá, dịch vụ. Đối
với ngời bán: Bao giờ họ cũng hớng tối đa hoá lợi nhuận bằng cách bán đợc
càng nhiều hàng càng tốt với giá cao. Ngợc lại, đối với ngời mua, họ muốn tối
đa hoá lợi ích những hàng hoá mà họ mua đợc, tức là họ muốn mua hàng hoá
có chất lợng cao, mẫu mã đẹp, thoả mãn tiêu dùng nhng giá lại rẻ. Do đó hai
bên cạnh tranh nhau để dành những phần có lợi tốt nhất cho mình.
Các yếu tố cấu thành sự cạnh tranh:
- Các chủ thể kinh tế tham gia cạnh tranh: đó là những ngời có cung và
cầu về sản phẩm hàng hoá và dịch vụ.
- Đối tợng tham gia sự cạnh tranh: là các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Môi trờng cạnh tranh: là thị trờng cạnh tranh.
Chính 3 yếu tố này làm cho thị trờng trở nên sôi động và đầy tính chiến
thắng.
2.2. Phân loại cạnh tranh.
2.2.1. Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trờng, ta có:
- Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo:
Là thị trờng có rất nhiều ngời bán, ngời mua, song không một ai có u thế
- Cạnh tranh giữa ngời bán với ngời mua.
Đây là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ - bán đắt. Ngời mua
luôn luôn muốn đợc mua rẻ, ngợc lại ngời bán luôn có tham vọng bán đắt. Sự
cạnh tranh này đợc thực hiện trong quá trình mặc cả và cuối cùng giá cả đợc
hình thành và hành động mua bán đợc thực hiện.
- Cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau.
Đây là cuộc cạnh tranh dựa trên quy luật cung - cầu. Khi một loại hàng
hoá, dịch vụ nào đó có cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh giữa những ngời
mua trở nên gay gắt và giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ tăng lên. Kết quả cuối
cùng là những ngời mua thì tự làm hại mình vì để có đợc hàng thì họ phải bỏ
ra một khoản tiền, còn phần béo bở thì lại thuộc về ngời bán, mặc dù họ
đứng ngoài cuộc.
- Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau.
Đây là cuộc cạnh tranh chính trên vũ đài thị trờng, đồng thời cũng là
cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất. Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau thực
chất là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhằm dành điều kiện sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm có lợi hơn. Do đó nó có ý nghĩa sống còn đối với mỗi
doanh nghiệp.
Trong thị trờng, cạnh tranh là một quy luật tất yếu. Sản xuất hàng hoá
càng phát triển, số lợng hàng hoá bán ra ngày càng tăng thì cạnh tranh càng
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
quyết liệt. Đã có ngời nói rằng: Thị trờng và cạnh tranh là con dao hai lỡi.
Thị trờng đối với doanh nghiệp này là cái nôi, nhng đối với doanh nghiệp kia
là nghĩa địa. Cạnh tranh với doanh nghiệp này là động lực để phát triển, trong
khi đối với doanh nghiệp khác lại nh một hành động tự sát, là con đờng dẫn
đến diệt vong. Do đó phần tiếp theo sẽ trình bầy rõ hơn một số vấn đề về cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp với nhau.
II. Các hình thức cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện nay trên thị
trờng quốc tế.
đề về cạnh tranh.
Cạnh tranh của các doanh nghiệp là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt
giữa các doanh nghiệp với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về t liệu
sản xuất nhằm dành các điều kiện có lợi nhất về sản xuất, tiêu thụ hàng hoá,
dịch vụ...
Trong cạnh tranh các doanh nghiệp thờng đa ra 2 đối sách:
- Đối đầu trực tiếp với các đối thủ cạnh tranh để vơn lên trên và duy trì
lợi thế cạnh tranh.
- Phát triển con đờng cạnh tranh hoà diệu để dành thắng lợi mà không
cần phải hi sinh gì nhiều (nh đàm phán...). Đối sách này ít tốn kém, nhng có
nhiều khó khăn.
Do vậy để thực hiện đợc 2 đối sách trên thì buộc doanh nghiệp phải tính
toán kỹ lỡng, cẩn thận. Đồng thời cũng cần phải đa ra đợc các chiến lợc cạnh
tranh để tránh thất bại trên thơng trờng.
2.2. Phân loại cạnh tranh của các doanh nghiệp.
2.2.1. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành (nội bộ ngành).
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Cạnh tranh nội bộ ngành là cuộc đấu tranh giữa những nhà doanh nghiệp
cùng kinh doanh một loại hàng hoá hay dịch vụ nhằm dành lấy những điều
kiện có lợi nhất trong việc sản xuất, tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ ấy và thu đợc
lợi nhuận cao so với vốn đã bỏ ra. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự
hình thành giá cả thị trờng đồng nhất đối với hàng hoá, dịch vụ cùng loại trên
cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá và dịch vụ đó. Thực chất trong cuộc cạnh
tranh này, các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách tiêu diệt, thôn tính lẫn nhau.
2.2.2. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác ngành.
Là cuộc cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp sản xuất, mua bán hàng
hoá, dịch vụ khác ngành với nhau, nhằm thu đợc lợi nhuận và có tỉ suất lợi
nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra. Trong quá trình này, các doanh nghiệp
luôn quan tâm đến những ngành có lợi nhất nên đã chuyển vốn từ ngành có tỉ
họ. Cạnh tranh làm cho lợi ích của ngời tiêu dùng đợc đảm bảo. Ngời tiêu
dùng đợc tôn trọng và bảo vệ bởi chất lợng, tính năng sử dụng... của sản
phẩm, hàng hoá mà doanh nghiệp đa ra.
2.3.3. Đối với nền kinh tế quốc dân.
- Cạnh tranh thị trờng là nơi mọi thành phần kinh tế có thể tham gia tự
do cạnh tranh, làm ăn buôn bán. Là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi
thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trờng.
- Cạnh tranh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lợng sản xuất, nâng
cao tiến bộ khoa học, kỹ thuật, hiện đại hoá nền sản xuất.
- Cạnh tranh chính là điều kiện để các nhà kinh doanh có thể phát huy,
thể hiện tài năng của mình. Tạo ra một đội ngũ cán bộ kinh doanh giỏi, năng
động, sáng tạo và chân chính.
- Cạnh tranh góp phần tạo ra những nhu cầu mới, kích thích nhu cầu phát
triển bằng việc sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm mới để đáp ứng những
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhu cầu đó. Góp phần nâng cao chất lợng đời sống xã hội và sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân.
- Cạnh tranh kết hợp với sự quản lý của Nhà nớc sẽ góp phần xoá bỏ
những độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ bất bình đẳng trong kinh doanh.
Tuy nhiên mặt trái của cạnh tranh luôn luôn đồng hành với mặt tích cực,
đó là:
- Cạnh tranh tạo ra sự phân hoá giầu nghèo, gây bất ổn trong xã hội.
- Nếu sự quản lý của Nhà nớc lỏng lẻo thì cạnh tranh có xu hớng dẫn đến
độc quyền hay có những hậu quả tiêu cực khác.
- Cạnh tranh có thể làm phát sinh hàng giả, hàng nhập lậu làm rối loạn
thị trờng, ảnh hởng tới ngời tiêu dùng và những nhà sản xuất làm ăn chân
chính.
- Ô nhiễm môi trờng cũng là một nguyên nhân xuất phát từ cạnh tranh
do các doanh nghiệp luôn hớng tới lợi nhuận cao mà không chú ý tới việc
phẩm có thể vợt mặt giá cả lên vị trí đứng đầu trong cạnh tranh.
Ngoài ra cũng cần phải quan tâm tới bao bì sản phẩm. Chú trọng đến tính
chất bảo vệ sản phẩm không h hỏng. Tạo sự chú ý, thu hút ngời mua, đồng
thời cần chú ý tới tâm lý tiêu dùng của khách hàng là họ mua hàng hoá, sản
phẩm còn tận dụng bao bì để sử dụng trong đời sống hàng ngày. Về nhãn hiệu
sản phẩm thì coi nhãn hiệu là đại biểu cho chất lợng sản phẩm, uy tín của sản
phẩm, uy tín của doanh nghiệp, là vũ khí cạnh tranh với hàng hoá cùng loại.
Ngày nay, trong sự cạnh tranh khốc liệt thì hai yếu tố trên trở nên vô cùng
quan trọng, là một công cụ cạnh tranh đắc lực. Nếu mẫu mã của sản phẩm
đẹp, độc đáo thì sẽ thu hút đợc khách hàng quan tâm, chú ý.
Doanh nghiệp cũng cần quan tâm tới công dụng và lợi ích của sản phẩm.
Xem công dụng của sản phẩm đạt đến mức độ nào? Làm ra sản phẩm nhằm
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cho nhu cầu nào? Ngời tiêu dùng sử dụng vào công việc gì? Công dụng của
sản phẩm đợc mở rộng tức là thuận tiện và đa năng trong sử dụng thì ngời tiêu
dùng sẽ mua nhiều, nhà sản xuất sẽ bán đợc nhiều hàng...
Nh vậy chất lợng sản phẩm trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng
của các doanh nghiệp, bởi nó biểu hiện sự thoả mãn nhu cầu khách hàng của
sản phẩm và có thể đơng đầu với đối thủ cạnh tranh.
3.2. Công cụ cạnh tranh là giá cả sản phẩm.
Mặc dù trên thị trờng hiện nay, cạnh tranh đã nhờng vị trí hàng đầu cho
cạnh tranh bằng chất lợng sản phẩm, dịch vụ, bằng thời gian cung cấp hàng
hoá và điều kiện giao hàng, nhng giá cả vẫn có vai trò quyết định.
Giá cả sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà doanh
nghiệp dự tính có thể nhận đợc từ khách hàng thông qua việc trao đổi sản
phẩm đó trên thị trờng.
Giá cả sản phẩm = Giá thành sản phẩm + Lãi đầu t + Lãi của doanh
nghiệp
Giá cả sản phẩm đợc sử dụng làm công cụ cạnh tranh thể hiện qua các
- Doanh nghiệp bán phá giá (giá thấp hơn hẳn so với giá của thị trờng).
Doanh nghiệp dùng chính sách để đánh bại đối thủ cạnh tranh, loại đối thủ
cạnh tranh ra khỏi thị trờng. Để thực hiện đợc chính sách này, doanh nghiệp
phải có tiềm lực tài chính mạnh, tiềm lực về khoa học công nghệ, uy tín của
doanh nghiệp trên thị trờng... Tuy nhiên doanh nghiệp cũng phải luôn đề
phòng với các đối thủ khác vì hôm nay có thể loại bỏ đợc vài đối thủ nhng có
thể ngày mai sẽ có đối thủ khác tiêu diệt doanh nghiệp bằng chính sách bán
phá giá mà doanh nghiệp đã áp dụng.
3.3. Hệ thống phân phối (Kênh phân phối hàng hoá).
Phân phối hàng hoá là hoạt động tổ chức, điều hành, vận chuyển hàng
hoá từ nơi sản xuất đến tay ngời tiêu dùng. Phân phối hàng hoá của doanh
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nghiệp là hệ thống các quan điểm, chính sách và giải pháp tổ chức các kênh,
luồng, mạng lới bán sỉ, bán lẻ hàng hoá nhằm bán đợc nhiều hàng, đạt hiệu
quả kinh doanh cao nhất.
Thông thờng có 4 kênh phân phối cho hàng hoá và dịch vụ của doanh
nghiệp, đợc biểu diễn qua sơ đồ sau:- Kênh A (Kênh cấp không): là một kênh trực tiếp bởi vì ngời sản xuất
bán trực tiếp cho ngời tiêu dùng cuối cùng. Nhiều sản phẩm hàng hoá và dịch
vụ đợc phân phối theo cách này. Do không có trung gian trong kênh nên ngời
sản xuất phải thực hiện tất cả các chức năng của kênh.
- Kênh B (Kênh 1 cấp): là mạng phân phối gián tiếp theo kênh ngắn có
thêm ngời bán lẻ. Đợc sử dụng khi ngời bán lẻ có quy mô lớn có thể mua khối
lợng lớn từ ngời sản xuất hoặc chi phí lu kho là quá đắt nếu sử dụng ngời bán
buôn.
- Kênh C (Kênh 2 cấp): là mạng phân phối gián tiếp theo kênh dài.
Trong kênh có thêm ngời bán buôn. Đợc sử dụng phổ biến cho các loại hàng
đòi hỏi phải tiếp cận thị trờng trực tiếp nhiều hơn để tránh tổn thất do đặc tính
của sản phẩm hàng hoá.
+ Đối với hàng hoá cồng kềnh, nặng... phải lựa chọn kênh ngắn.
+ Đối với hàng hoá đơn chiếc, hàng hoá có kỹ thuật đặc biệt thì doanh
nghiệp có thể bán trực tiếp vì có sự am hiểu về hàng hoá của mình.
- Về đặc điểm của khách hàng:
+ Nếu khách hàng có số lợng đông ở nhiều vùng khác nhau thì doanh
nghiệp cần xây dựng các khâu trung gian ở nhiều nơi, nhiều cấp.
+ Đối với các sản phẩm đòi hỏi nhiều chi phí phục vụ cho các đơn vị đặt
hàng lẻ tẻ, thờng xuyên thì cần phải dựa vào các nhà bán buôn.
+ Nếu nhiều khách hàng muốn mua hàng trực tiếp ở các cửa hàng của
doanh nghiệp thì doanh nghiệp có thể bán trực tiếp...
Việc nghiên cứu các kênh hiện có, tìm ra những kênh mới tin cậy nhất,
ổn định nhất là một vấn đề quan trọng trong chiến lợc phân phối. Nếu lựa
chọn kênh ngắn: có mặt hợp lý, dễ gần gũi với khách hàng, dễ kiểm soát. Lựa
chọn kênh dài: cũng rất cần thiết, khắc phục đợc sự ít vốn, hiểu thị trờng nhng
cần phải bổ sung thêm nhân lực để kênh phân phối của doanh nghiệp có thể
hoạt động nh mong muốn.
Ngày nay các nhà sản xuất muốn có đợc hiệu quả trong kinh doanh phải
có nhiều kênh, mạng lới dày đặc trong phân phối hàng hoá. Nhờ đó nếu có
ách tắc kênh nào thì đã có kênh khác tiếp ứng hoạt động. Do đó có thể nói
các doanh nghiệp cạnh tranh nhau trên từng cây số của thị trờng.
3.4. Các công cụ Marketing.
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
3.4.1. Dịch vụ sau bán hàng.
Hoạt động của doanh nghiệp không phải dừng lại sau lúc giao hàng, thu
tiền của khách hàng mà còn có hoạt động dịch vụ sau bán hàng. Dịch vụ sau
bán hàng thể hiện trách nhiệm đến cùng đối với ngời tiêu dùng về sản phẩm
của mình. Các dịch vụ sau bán hàng nh: vận chuyển hàng miễn phí, bảo hành
Nh vậy, các yếu tố đợc xem là lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ
cạnh tranh chính là chất lợng sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối sản phẩm,
trình độ quản lý, trình độ công nhân, tiềm lực tài chính, trình độ công nghệ...
Trong đó các yếu tố chất lợng sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối sản
phẩm, dịch vụ sau bán... là các yếu tố trực tiếp tạo nên khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp bởi vì các yếu tố này đã và đang đáp ứng các đòi hỏi, yêu
cầu của khách hàng, thu hút khách hàng, kích thích khách hàng tiêu dùng sản
phẩm của doanh nghiệp (biểu hiện cuối cùng của cạnh tranh đợc bộc lộ ra bên
ngoài). Tuy nhiên cũng không thể coi nhẹ các yếu tố nh: tiềm lực tài chính,
trình độ quản lý, trình độ công nhân... vì chính các yếu tố này tác động không
nhỏ đến chất lợng sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối sản phẩm...
2. Vai trò của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cạnh tranh là một hoạt động xuyên suốt, luôn luôn tồn tại ở mỗi doanh
nghiệp khi doanh nghiệp tiếp cận vào thị trờng. Vì vậy, việc nâng cao khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng, không những
dành chiến thắng trớc các đối thủ cạnh tranh, mở rộng đợc thị trờng mà còn
giúp doanh nghiệp phát huy đợc sức mạnh của mình, tạo đợc uy tín trên thị tr-
ờng, nâng cao đợc trình độ quản lý, tay nghề của công nhân, vận dụng đợc
khoa học kỹ thuật máy móc hiện đại vào sản xuất, chất lợng sản phẩm cao,
giá thành sản phẩm hạ...
3. Các yếu tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trờng quốc tế.
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Theo trên các yếu tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp là các yếu tố tác động tới chất lợng sản phẩm, giá cả, hệ thống phân
phối, dịch vụ sau bán hàng... Tuỳ từng mức độ ảnh hởng mà doanh nghiệp
phải đối mặt, có thể là tốt, là xấu. Nếu tốt sẽ tạo đợc u thế trớc đối thủ cạnh
tranh và ngợc lại, nếu xấu sẽ làm cho doanh nghiệp khó tồn tại trên thị trờng
và có khi còn bị đánh bật ra khỏi thị trờng đó.
quốc tế.
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary export Restraints - VER).
Đây là hình thức của hàng hoá mậu dịch phi thuế quan. Hạn chế xuất
khẩu tự nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu mà theo đó một quốc gia
nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế tốt số lợng hàng xuất khẩu
sang nớc mình một cách tự nguyện.
Nh vậy vô hình chung các yếu tố đó đã tạo ra một môi trờng cạnh tranh
bất lợi hơn cho các doanh nghiệp nớc ngoài. Tuy nhiên những khó khăn cho
quá trình thâm nhập có thể lại đợc bù đắp bằng doanh số và lợi nhuận vì một
thị trờng tổng thể lớn hơn và thuần nhất hơn đợc xác lập sẽ kéo theo sự tăng
trởng kinh tế và mức tiêu dùng các sản phẩm nhập ngoại của khách hàng nớc
ngoài.
3.1.2. Các nhân tố thuộc môi trờng kinh tế.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng bị ảnh hởng bởi nền kinh tế
của từng nớc khi doanh nghiệp xâm nhập vào thị trờng của nớc đó. Việc
nghiên cứu nền kinh tế của từng nớc sẽ giúp doanh nghiệp thấy đợc mức tiêu
dùng về sản phẩm của doanh nghiệp là lớn haylà nhỏ (khả năng thanh toán
của khách hàng). Vì thế đòi hỏi chất lợng sản phẩm là tốt, trung bình hay
bình thờng... Trên cơ sở việc phân tích các cấu trúc của thị trờng các nớc sẽ
cho phép doanh nghiệp vợt mặt đối thủ cạnh tranh, dành đợc chỗ đứng trên
thị trờng.
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
3.1.3. Các nhân tố thuộc môi trờng chính trị - luật pháp.
Các quốc gia rất khác nhau về môi trờng chính trị - luật pháp, vì thế nó
có ảnh hởng rất sâu rộng đến các doanh nghiệp nớc ngoài. Cụ thể:
- Thái độ đối với doanh nghiệp nớc ngoài.
Đối với doanh nghiệp này, quốc gia này rất dễ dãi, khuyến khích thực sự
đối với doanh nghiệp nh chính phủ ban hành những quy định tạo thuận lợi
cho nhà kinh doanh nớc ngoài, chẳng hạn là luật lệ khuyến khích đầu t, tinh
thủ cạnh tranh nội địa phải ở thế bất lợi do sự bất tín nhiệm của khách hàng
đối với doanh nghiệp đó hay trở thành nạn nhân của thói chuộng hàng ngoại.
- Loại đối thủ thứ hai là các doanh nghiệp nớc ngoài khác đang hoạt
động trên thị trờng đó. Các doanh nghiệp không thể chờ đợi ở họ một thái độ
hợp tác hay những phản ứng thụ động mà ngợc lại doanh nghiệp phải đối mặt
với những biện pháp ứng phó khi trực tiếp, khi gián tiếp, khi thô thiển, khi
tinh vi với những nguồn lực rất đáng kể về chi phí cho cạnh tranh.
Cạnh tranh giữa sản phẩm của doanh nghiệp với sản phẩm nớc ngoài
luôn chịu ảnh hởng của hình ảnh một đất nớc tạo ra bởi dòng ghi chú Made
in... trên sản phẩm, do đó có tác động không nhỏ đến khách hàng địa phơng.
Sự nhận thức của khách hàng là khó bảo thủ và khó thay đổi trừ khi doanh
nghiệp có những đối phó tơng ứng.
3.1.6. Sự phát triển của khoa học, công nghệ trên thế giới.
Tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bằng chất lợng sản
phẩm và giá cả sản phẩm. Nếu có công nghệ phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp có
đợc u thế trong cạnh tranh, mặt khác nếu doanh nghiệp không kịp thời đổi
mới thì sản phẩm của doanh nghiệp sẽ trở nên lạc hậu, làm ảnh hởng đến khả
năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp.
3.1.7. Hàng giả.
25