PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày
của mỗi người trên khắp hành tinh, đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn
giàu đạm đã được đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, như một
nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Theo tính
toán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu tiêu thụ rau bình quân hàng ngày
của mỗi người dân cần khoảng 250-300g/ngày/người tức là 90-
110kg/người/năm.Giá trị dinh dưỡng của rau được thể hiện trên các mặt. Rau
cung cấp cho cơ thể nhiều loại vitamin như : A, B, C, PP, nhiều chất là sinh tố
C, tiền vitamin A(Provitamin A). Trong rau còn chứa các chất khoáng như:
Ca, P, Fe và các chất năng lượng như Protit, Lipit, Gluxit. Ngoài ra rau còn
cung cấp các nguồn dinh dưỡng khác như các Axit hưu cơ, hợp chất thơm,
các vi lượng và Xenlulo.[1]
Sản xuất rau là ngành quan trọng của nền Nông nghiệp ở nhiều nước
trên thế giới và đối với Việt Nam.
Trong công cuộc đổi mới và xây dựng Đất nước, về lĩnh vực Nông
nghiệp, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ: Phải nhanh chóng đưa công nghiệp hóa,
hiện đại hóa vào Nông nghiệp. Một trong những hướng công nghiệp hóa Nông
nghiệp là áp dụng hình thức sản xuất kiểu Công nghiệp- thực hiện thâm canh
hiệu quả cao và bền vững bằng phương thức sản xuất Nông nghiệp hiện đại.
Ở nước ta, rau và hoa không chỉ cung cấp cho thị trường nội địa mà đã
trở thành mặt hàng với nhu cầu ngày càng lớn trên thị trường nước ngoài. Rau
và hoa phát triển khắp các vùng trong nước, chiếm khoảng 56% diện tích đất
canh tác ở các tỉnh phía Bắc và khoảng 44% ở các tỉnh phía Nam, trong đó
diện tích trồng rau và hoa trong nhà kính, nhà lưới hiện nay khoảng trên
1000ha và không ngừng phát triển ở hầu hết các tỉnh.
Nhà lưới có vai trò quan trọng trong việc sản xuất rau an toàn cho
năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao do nhà lưới chống mưa, sương,
giảm nhiệt về mùa hè, tăng nhiệt về mùa đông, hạn chế côn trùng xâm nhập từ
bên ngoài. Điều đó cho phép kiểm soát đầy đủ và chặt chẽ hầu hết các thông
Theo số liệu gần đây, năm 2005 diện tích trồng rau trên thế giới khoảng
17.999.009ha, năng suất đạt 138,829 tạ/ha, sản lượng đạt 249,879 triệu tấn.
Nước có diện tích trồng rau lớn nhất là Trung Quốc với 8.266.500ha.
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng rau của một số nước trên thế giới.[4]
Quốc gia
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
( triệu tấn)
Toàn thế giới 17.999.009 138,829 249,879
Trung Quốc 8.266.500 171,790 142,000
Ấn Độ 3.400.000 102,941 35,000
Việt Nam 525.000 133,500 6,600
Philippin 500.000 88,000 4,400
Liên Bang Nga 207.000 162,802 3,370
Hàn Quốc 195.000 318,966 3,700
Brazil 195.000 115,385 2,250
Băngladet 150.000 62,800 0,942
Thái Lan 145.000 162,8,2 1,005
Italy 144.000 180,556 2,600
Nhật Bản 110.000 280,412 2,700
Phần Lan 75.000 200,000 1,500
Hoa Kỳ 11.050 771,801 2,840
(Nguồn: Recorts copyright Fao 2006)
Về sản lượng rau thì Trung Quốc vẫn dẫn đầu với 142 triệu tấn chiếm
56,82% tổng sản lượng rau toàn thế giới, sau Trung Quốc là Ấn Độ đạt 35
triệu tấn (chiếm 14%). Như vậy chỉ riêng 2 nước Trung Quốc và Ấn Độ đã
chiếm 70,82% tổng sản lượng rau toàn thế giới.
Châu Đại Dương
3321 419 -7 691 3042
( Nguồn: Recorts Copyright FAO,2006 )
4
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới ngày càng có nhiều chủng loại rau,
tăng diện tích và năng suất để đáp ứng nhu cầu về rau xanh ngày một
tăng.Theo FAO, dự đoán thị trường rau của thế giới thì thị trường rau quả
cung vẫn không đủ cầu. Thời kỳ 2000-2010 nhu cầu nhập khẩu rau quả của
các nước trên thế giới sẽ tăng do mức tăng tiêu thụ bình quân, dự đoán nhu
cầu tăng 3,6% trong khi mức tăng sản lượng rau quả chỉ đạt 2,8%.
Bảng 3: Diện tích, năng suất và sản lượng một số loại rau chủ lực trên
thế giới năm 2007.[4]
Loại rau
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(tấn)
Cà chua 20.648 17,34 357.210
Dưa chuột 19.874 16,88 33.537
Dưa hấu 18.140 17,82 322.890
Đậu rau 7.681 6,87 52.760
Cải các loại 26.184 22,64 592.805
Hành tỏi 14.678 15,84 232.500
(Nguồn: GTCR 2009, tr15)
2.1.2. Tình hình trồng rau và tiêu thụ rau ở trong nước
Nước ta có lịch sử trồng rau lâu đời, quá trình phát triển của nghề trồng
rau gắn với công cuộc xây dựng và phát triển, và bảo vệ đất nước qua nhiều
thời đại: Theo sổ sách ghi chép, từ đời vua Hùng, bầu bí đã được trồng trong
cứu các giải pháp khoa học trồng rau trái vụ được nhiều tổ chức chuyên môn
quốc tế và các nước phát triển nghiên cứu và chuyển giao cho sản xuất . Ở
nước ta, vấn đề này mới đề cập đến khoảng 10 năm trở lại đây.
Cả nước trồng hơn 80 loại rau thuộc 25 họ thực vật, trong đó có 25 - 30
loài rau chủ lực, có diện tích trên khoảng 10.000ha (chiếm 73 - 75% diện tích
và xấp xĩ 80% sản lượng).
Có 2 vùng trồng rau chủ yếu ở nước ta hiện nay:
+ Vùng rau tập trung chuyên canh ven thành phố và khu công nghiệp
với khoảng 40% diện tích; 38% sản lượng, chủng loại rau rất phong phú (hơn
60 loại), sản phẩm chủ yếu phục vụ cho cư dân phi Nông nghiệp nên yêu cầu
về chất lương (đa dạng về chủng loại và mức độ an toàn) ngày càng gia tăng.
6
0
5000
10000
15000
20000
25000
30000
35000
T1 T3 T5 T7 T9 T11
2005
2006
+ Vùng rau luân canh với 2 vụ lúa và vụ rau Đông Xuân, chiếm 60% diện
tích và gần 2/3 sản lượng rau cả nước. Đây là vùng rau hàng hóa có năng suất và
chất lượng cao, có tiềm năng lớn cung cấp nguyên liệu cho Công nghiệp chế
biến và cho xuất khẩu, đặc biệt tại đồng bằng Sông Hồng và tỉnh Lâm Đồng.
Diện tích, năng suất, sản lương rau Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4: Diện tích, năng suất, sản lương rau Việt Nam qua các năm.[10]
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2005 Năm 2006
nghệ. Đồng tình với ý kiến này, mới đây Bộ Công thương đã khuyến cáo
ngành Nông nghiệp và các địa phương cần tăng cường trợ giúp nông dân áp
dụng tiến bộ KHKT mới , đẩy mạnh kiểm tra, giám sát để nâng cao chất
lượng sản phẩm và đặc biệt là đáp ứng yêu cầu kiểm định nghiêm ngặt của
các thị trường xuất khẩu.[22]
Theo nhận định của các nhà kinh tế, nhiều loại rau quả của Việt Nam
đang tiếp tục được ưa chuộng tại thị trường quốc tế với số lượng ngày càng
tăng trong những tháng đầu năm 2008 là dấu hiệu tốt để hướng tới mục tiêu
đạt giá trị xuất khẩu rau quả khoảng 700 triệu USD vào năm 2010.
Tuy có nhiều loại rau xuất khẩu hay tiêu dung đều dưới dạng khá
phong phú nhưng nhìn chung, các loại rau xuất khẩu còn mang tính đơn điệu,
nhỏ lẻ, số lượng ít, thiếu tính cạnh tranh. Phản ánh tình trạng sản xuất còn
manh mún, mặt hàng chế biến rau cho xuất khẩu còn ít…Đây là điểm yếu cơ
bản của xuất khẩu rau của Việt Nam hiện nay.
8
* Tình hình sản xuất rau an toàn trong nhà lưới ở Việt Nam
Nhận thức rõ về tác hại của rau bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe của
người sản xuất và tiêu dùng cũng như ảnh hưởng đến môi trường, nhiều tỉnh,
thành phố đã có giải pháp, chính sách trong việc đầu tư, phát triển rau an toàn
đặc biệt là các khu vực ven các đô thị lớn. Đi đầu trong việc phát triển thị
trường rau là:
- Thành phố Hồ Chí Minh: hiện có trên 3.200ha sản xuất rau an toàn,
đã xây dựng phòng thí nghiệm công nghệ cao để sản xuất cao giống rau F1.
Đầu tư máy chẩn đoán dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và ứng dụng xe lưu
động để kiểm tra nhanh dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tại các chợ đầu mối.
Thành phố đã phát triển hơn 100 nhà lưới với diện tích bình quân 500-
1000m
2
/1 nhà lưới.
- Tại Đà Lạt: là vùng cung cấp rau an toàn chính cho khu vực phía Nam
thấp hơn so với trung bình năng suất rau của cả nước. Trong các năm gần đây
các tỉnh đã có sự cố gắng trong việc đẩy mạnh sản xuất rau, quả nhằm phục
vụ nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, đồng thời đã có những sản phẩm
xuất khẩu (Dưa hấu, ớt, hành tỏi) song diện tích tăng không đáng kể, phân bố
không đồng đều; năng suất có tăng nhưng không cao, trong khi đó dan số
không ngừng tăng lên, khách du lịch ngày càng tăng nên diện tích đất trồng
rau ngày càng thu hẹp lại, song nhờ có chính sách đầu tư cùng với sự tiến bộ
của KHKT nên có nhiều mô hình sản xuất rau tiên tiến được áp dụng ở các
tỉnh, đặc biệt là các thành phố lớn đã phát triển mạnh mô hình sản xuất rau an
toàn, rau trong nhà lưới, rau trên giá thể vụn sơ dừa, phủ luống rau, rau thủy
canh… bởi thế đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về rau hiện nay.[4]
10
Bảng 5: Diện tích, năng suất, sản lương rau của một số tỉnh Miền Trung
(bình quân 2006)
Các tỉnh
Diện tích
(ha)
Năng suất
bình quân
( tạ/ha)
Sản lượng
( tấn)
Sản lượng so với
Miền Trung
( %)
Miền Trung 81.506 78,96 572.762 100
Thanh Hóa 24.300 55,0 145.800 25,46
Nghệ An 12.100 83,0 116.200 20,29
Hà Tĩnh 6.700 60,6 30.900 5,39
Quảng Bình 4.400 70,3 30.800 5,38
Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Năng suất
( tạ/ha)
2002 2006 2002 2006 2002 2006
Tổng số 3.297 4.752 29.914 43.485 90,7 91,5
Tp Huế 560 560 7.849 6.832 140,2 122,0
Phú Vang 856 1.352 7.233 12.088 84,5 89,4
Hương Trà 424 529 3.843 5.577 90,6 105,4
Hương Thủy 280 312 2.380 2.656 85,0 85,1
A Lưới 90 158 602 1.054 66,9 66,7
Phú Lộc 156 205 1.399 1.799 89,7 88,0
Nam Đông 72 130 487 890 67,6 68,5
Quảng Điền 520 1.136 3.858 9.943 74,2 87,5
(Nguồn: Niên giám thống kê Thừa Thiên Huế 2006)
Qua bảng số liệu trên thì những năm trở lại đây diện tích trồng rau của
các huyện đều tăng lên đáng kể, tổng diện tích trên toàn huyện năm 2006 là
4.752ha đã tăng lên 44,13% so với năm 2002 là 3.297ha. sản lượng rau của
huyện Phú Vang đứng đầu toàn tỉnh năm 2006 với 12.088 tấn rau tăng
57,94%so với năm 2002, thứ 2 là Quảng Điền với 9.943 tấn rau và thứ 3 là
Thành phố Huế với 6.832 tấn rau, nhờ quá trình thâm canh cao cùng với áp
dụng nhiều tiến bộ KHKT cũng như nhờ trao đổi kinh nghiệm của bà con nông
12
dân trong quá trình sản xuất nên dù diện tích không lớn nhưng lại đạt một năng
suất không nhỏ và đứng đầu là Thành phố Huế với 122tạ/ha thứ 2 là Hương
Trà với 105,1 tạ/ha. Nhìn chung năng suất rau ở đây còn thấp tuy nhiên đã cao
hơn so với nhiều năm trước. Vì vậy hàng năm Thừa Thiên Huế phải nhập một
lượng rau lớn vào mùa khô và mùa mưa tư các tỉnh phía Bắc và Đà Lạt.
47 bà mẹ đang cho con bú ở vung chuyên canh rau (Hà Nội và Thành phố Hồ
Chí Minh) 1996 thì cả 47 bà mẹ trong sữa đều có dư lượng thuốc BVTV.
Năm 1997 cả nước có 585 vụ với 6421 người bị ngộ độc thực phẩm, trong đó
13
có 6103 người bị nhiễm độc thuốc BVTV. So với năm 1996 tăng lên 50 vụ,
với 1341 người. Năm 2000 cả nước có 213 vụ ngộ độc thực phẩm, trong đó
có 3 vụ ngộ độc thuốc BVTV, với 4233 bị ngộ độc, trong đó có 59 người
chết. Tại Thừa Thiên Huế có 8 vụ ngộ độc với 104 người bị ngộ và 2 người bị
chết. Năm 2001 cả nước có 245 vụ bị ngộ độc tăng hơn năm 2000 là 32 vụ
với 3900 người bị ngộ độc, có 63 người chết. Tại Thừa Thiên Huế có 9 vụ
ngộ độc với 189 người bị ngộ độc trong đó có 49 vụ ngộ độc do thuốc BVTV,
1 người bị chết. Năm 2002 cả nước có 149 vụ bị ngộ độc với 1869 người bị
ngộ độc trong đó có 35 vụ bị ngộ độc do thuốc BVTV, 41 người bị chết [2].
Riêng Thừa Thiên Huế cũng có 2 vụ bị ngộ độc với 43 người bị ngộ độc và
được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 7: Số lượng các vụ ngộ độc thực phẩm và rau
những năm 2000 - 2002 ở Việt Nam và Thừa Thiên Huế.[2]
Năm
Chỉ tiêu
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Cả nước T.T Huế Cả nước T.T Huế
Cả
nước
T.T
Huế
Số vụ ngộ độc thực
phẩm
23 8 245 9 149 2
Số người bi ngộ độc 4.233 104 3.900 189 1.869 43
độc trực tiếp cho con người.
Như vậy rau ô nhiễm hay “rau độc” đã trở thành một quốc nạn cho dân
tộc, trong vài năm trở lại đây tình hình ngộ độc do ăn rau đã được kiềm chế
nhưng vẫn tiếp tục xảy ra nên nhu cầu về rau an toàn và việc sản xuất rau an
toàn là một giải pháp cấp bách và hết sức cần thiết.
2/ Nhu cầu về rau an toàn
Nhu cầu về rau an toàn cũng như việc sản xuất rau an toàn hay rau sạch
nhằm tránh ngộ độc do ăn rau, bảo vệ sức khỏe con người và sức khỏe cộng
đồng, giảm bớt chi phí không đáng có cho xã hội, giải quyết công ăn việc làm
cho người lao động, đặc biệt ở vùng nông thôn vành đai thực phẩm và khu
công nghiệp. Hình thành tập quán sản xuất rau an toàn, nâng cao ý thức trách
nhiệm người dân. Nâng cao thu nhập cho người trồng rau đồng thời góp phần
bảo vệ môi trường cho sự tồn tại của cộng đồng, bảo vệ cân bằng sinh thái tự
nhiên; chống hủy hoại tài nguyên đất, nước và môi trường xung quanh, phát
triển một nền nông nghiệp sạch và hệ thống nông nghiệp bền vững.
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu về ăn uống và sức khỏe đã nêu vấn
đề rau quả và tính bình quân chung là 250-300g/người/ngày. Theo tính toán
15
thì tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh hiện tại lao động
trong 1 ngày hoạt động nặng phải dùng từ 400-500g rau, lao động nhẹ cần
300-350g rau, lưá tuổi 10-13 cần khoảng 150-200g rau.[19]
Kết quả của một khảo sát mới đây của viện Khoa học kỹ thuật Nông
nghiệp Việt Nam về sản xuất và thương mại hàng hóa rau quả cho thấy: Tổng
lượng rau tiêu thụ bình quân trên đầu người đã tăng lên 2 lần trong 10 năm
qua. Xu hướng tiêu thụ rau của người Việt Nam cũng có nhiều thay đổi, nếu
như năm 1993 khối lượng tiêu thụ bình quân đầu người là 50kg/người/năm,
thì đến năm 2002 là 111kg/người/năm. Tương tự khối lượng tiêu thụ quả bình
quân đầu người năm1993 là 18kg thì đến năm 2002 là 38kg (Bộ NN &PTNT:
Báo cáo khảo sát của viện NNKTVN về SX và TMRQ VN tháng 5/2008).
Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập WTO (Tổ chức Thương mại thế giới),
Rau sạch đang là sự quan tâm đặc biệt, là yêu cầu bức xúc của xã hội
và mọi người, từ nhà sản xuất, người tiêu dùng, nhà khoa học cũng như nhà
quản lý vì nó góp phần quan trọng trong việc phát triển sản xuất, hội nhập
nông nghiệp, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Hơn mười năm nay,
nước ta triển khai chương trình rau sạch, rau an toàn. Từ Chính phủ đến các
bộ ngành ở trung ương và các địa phương, đặc biệt từ năm 2005 tới nay đã có
nhiều chủ trương, biện pháp, chính sách nhằm bảo đảm vệ sinh an toàn thực
phẩm (VSATTP) nói chung và phát triển sản xuất rau quả sạch - rau quả an
toàn nói riêng.[21]
Rau an toàn là sản phẩm rau được sản xuất theo một quy trình nghiêm
ngặt, đảm bảo đúng quy định: sạch, hấp dẫn về hình thức (rau tươi, sạch bụi
bẩn tạp chất) thu đúng độ chín, thu khi có chất lượng cao nhất, không có triệu
chứng bệnh, có bao bì vệ sinh hấp dẫn. Sạch, an toàn về chất lượng: sản phẩm
không chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng nitrat, dư lượng kim
loại nặng và vi sinh vật gây hại vượt quá ngưỡng cho phép của tổ chức Y Tế
thế giới (WHO) về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.
Trong đó yêu cầu dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật là quan trọng nhất, vì
mức độ nguy hiểm, có thể gây ngộ độc, làm tử vong người và gia súc, gia cầm
sau khi ăn. Yêu cầu hàm lượng nitrat phụ thuộc vào môi trường canh tác và
kỹ thuật trồng trọt, là yếu tố quyết định rau an toàn hay ô nhiễm. Một số chỉ
tiêu để đảm bảo rau sạch: dư lượng nitrat, dư lượng kim loại nặng, dư lượng
thuốc trừ sâu tối đa cho phép đối với rau. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
PTNT đã cho phép áp dụng tiêu chuẩn rau sạch theo QĐKHCN 1208 ngày
15/7/1996 như sau.[4]
17
1/ Quy trình chung về sản xuất rau an toàn.[7]
+ Chọn đất
Đất trồng rau phải là đất cao, dễ thoát nước thích hợp với sinh trưởng và
phát triển của rau. Tốt nhất là đất cát pha hoặc thit nhẹ hoặc thịt trung bình, có
tầng canh tác dày. Đất để sản xuất rau an toàn không trực tiếp chịu ảnh hưởng
đến 4 lần tùy từng loại rau, nồng độ theo hướng dẫn trên bao bì chế phẩm.
Kết thúc phun ít nhất trước thu hoạch 5-10 ngày. Nếu sử dụng phân bón
lá thì giảm phân hóa học 30-40%. Tuyệt đối không dùng các loại phân tươi và
nước phân pha loãng tươi cho rau.
+ Bảo vệ thực vật
Không sử dụng thuốc hóa học BVTV nhóm độc I và II. Tuyệt đối
không dùng các loại thuốc trong danh mục thuốc cấm và thuốc hạn chế sử
dụng ở Việt Nam. Khi thật cần thiết có thể sử dụng nhóm III và IV. Chọn
các loại thuốc có hoạt chất thấp, ít độc với ký sinh thiên địch. Kết thúc phun
thuốc hóa học trước khi thu hoạch ít nhất 7-10 ngày. Ưu tiên các loại thuốc
sinh học, thuốc thảo mộc, thuốc chóng phân hủy ít ảnh hưởng đến các loại
sinh vật có ích trên đồng ruộng nằm trên danh mục các loại thuốc BVTV
được phép sử dụng trên rau theo Quyết định số 19/2005/QĐ-BNN ngày
24/3/2005 và quyết định số 21/2005/QĐ-BNN ngày 18/4/2005 của Bộ Nông
nghiệp và PTNN.
Cần áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng trừ tổng hợ (IPM): luân canh
cây trồng hợp lý, sử dụng giống tôt, chống chịu sâu bệnh, chăm sóc cây theo
yêu cầu sinh lý, bắt sâu bằng tay, dùng bẩy sinh học trừ bướm, sử dụng các
chế phẩm sinh học, thường xuyên vệ sinh, kiểm tra đồng ruộng để theo dõi,
phát hiện sâu bệnh, tập trung phòng trừ sớm
+ Thu hoạch bao gói
Rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ lá già, héo, quả bị sâu, dị
dạng Rau được rữa kỹ bằng nước sạch để ráo nước rồi cho vào bao, túi sạch
trước khi đưa tiêu thụ. Trên bao bì phải có phiếu bảo hành, có địa chỉ nơi sản
xuất nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.
2/ Sau đây là một số tiêu chuẩn về rau sạch an toàn
+ Dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật: Theo tiêu chuẩn WHO/FAO năm
1993 do Cục BVTV đề nghị.
+ Dư lượng nitrat : Ngưỡng hàm lượng NO
-
Đậu ăn trái 150 - Cà rốt 250 -
Ngô rau 300 - Hành lá 400 -
Cải bắp 500 500 Bầu bí 1500 -
Súp lơ 500 300 Cà tím - -
Su hào 500 - Xà lách - 2500
20
Bảng 10: Ngưỡng giới hạn các kim loại nặng (mg/kg) và vi sinh vật gây
bệnh trong sản phẩm rau tươi theo tiêu chuẩn của tổ chức Y Tế và tổ
chức Nông Lương thế giới
Nguyên tố
kim loại nặng
Giới hạn cho
phép (mg/1kg)
Nguyên tố kim
loại nặng
Giới hạn cho
phép (mg/1kg)
Chì (Pb)
Asen (As)
Đồng (Cu)
Thiếc (Sn)
Palutin
Titan (Ti)
0.5
0.1
30
5
0.05
1.8
Cadimi (Cd)
Oxyclorua đồng
Daconil W50
Aliette 80WP
Anvil 55C
Topsin M 70WP
Bayleton 25EC
0.5-0.7
0.5
0.1
1.0-1,5
0.2
1.0
0.1
-
0.03
-
-
20.0
-
-
-
1.0
0.1
0.5-0.7
1.0
0.1-0.5
1.0-1.5
-
2.0
-
7
14
14-21
7-10
RL; 3-4 RQ
7-10RL; 3-4RQ
4-11
3
1-3
21RL; 14RQ
7-10
14
7-10
7-10
3-7
(Theo tiêu chuẩn của WHO và FAO, 1993) *rau ăn lá**rau ăn quả)
21
Bảng 12: Ngưỡng giới hạn vi sinh vật gây bệnh trong sản phẩm rau tươi
theo tiêu chuẩn của tổ chức Y Tế và tổ chức Nông Lương thế giới.
Loại vi sinh vật gây bệnh Giới hạn cho phép (mg/1kg)
Salmonella (không có trong 25g) 0
E. coli, S. aureus Giới hạn bởi GAP
Coliforms (tế bào/1gam) 102 tế bào/gam
TSVK Giới hạn bởi GAP
Nguồn: (WHO và FAO)
3/ Một số chủ trương chính sách về sản xuất rau ở Việt Nam
Như ta đã biết thì trong thời gian tới, rau vẫn là nganh quan trọng trong
nông nghiệp, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm, tăng thu nhập,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, nông thôn.
120kg/ năm.
- Phấn đấu tăng kim ngạch xuất khẩu rau quả lên 760 triệu USD, xuất
khẩu rau đạt 200.000tấn tương đương 115 triệu USD đạt tốc độ tăng trưởng
kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2006-2010 là 23-25% và đạt kim
ngạch khoảng 1,2 tỷ USD vào năm 2015.( Quyết định số 52/2007 QĐ-BNN
của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT). Bên cạnh sự gia tăng về khối lượng, chất
lượng rau được đặc biệt quan tâm trong giai đoạn tới. Ngoài việc bổ sung
thêm chủng loại rau, tăng lượng rau gia vị, rau ăn quả theo xu thế chung của
thế giới, đa dạng hóa các sản phẩm rau chế biến công nghiệp Phát triển sản
xuất rau an toàn là nội dung cơ bản làm chuyển biến nghề trồng rau của nước
ta theo hướng hội nhập với quốc tế.[7]
Ngoài các thị trường chủ yếu như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,
Hàn Quốc, trong thời gian tới, xuất khẩu rau hoa quả Việt Nam sẻ hướng tới
các thị trường khác như Hoa Kỳ, các nước EU, Liên Bang Nga để đa dạng
hóa, giảm rủi ro về thị trường.
Theo đó thì nhu cầu tiêu thụ rau vào năm 2010 cần 9,4 triệu tấn ( kể cả
xuất khẩu ) phấn đấu đưa tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch xuống 15% thì sản
lượng rau thực tế cần khoảng 11 triệu tấn. Nếu đảm bảo năng suất trung bình
200tạ/ha thì diện tích trồng rau các loại là 590.000 ha.
23
Bảng 13: Quy hoạch trồng rau 7 vùng sinh thái đến năm 2010.[2]
(ĐVT:1000ha)
Chỉ tiêu
Sinh thái
Diện tích hiện
có năm 2003
Diện tích tăng
thêm năm
2010
Tổng diện tích
- Chủ động môi trường canh tác nên có những sản phẩm sạch, đạt dưới
ngưỡng cho phép các tiêu chuẩn quốc tế về dư lượng thuốc trừ sâu, hàm
lượng Nitrat, hàm lượng kim loại nặng và không có vi sinh vật gây hại, rau
quả tăng phẩm chất, mẩu mã đẹp, màu sắc tươi thắm.
- Nhờ đạt tiêu chuẩn rau sạch, nhờ trồng trái vụ, nhờ mẩu mã đẹp phẩm
chất ngon và ổn định nên giá cả sản phẩm rau trồng an toàn trong nhà lưới
luôn cao hơn bên ngoài.
- Đáp ứng được nhu cầu về rau sạch, rau an toàn của người dân hiện nay.
- Cung cấp cho thị trường một nguồn rau sạch, an toàn và hạn chế được
các vụ ngộ độc thực phẩm do rau không an toàn gây ra.
- Nhờ áp dụng mô hình trồng rau an toàn nên sản phẩm thường có giá
cao hơn sản phẩm rau khác thường là gấp 2-3 lần nhờ vậy sẽ tăng thêm thu
nhập cho người trồng rau.
2.3. Mục tiêu của đề tài
Tính toán, lựa chọn kết cấu của mẫu nhà lưới phù hợp với điều kiện
trồng rau và hoa tươi ở Thừa Thiên Huế, có thể áp dụng cho những vùng có
điều kiện tương tự; giá thành xây lắp thấp.
2.4. Nhiệm vụ của đề tài
- Điều tra xác định thực trạng trồng rau trên địa bàn Thừa Thiên Huế.
- Khảo sát các kiểu nhà lưới hiện có ở Việt Nam và trên thế giới.
- Tính toán và lựa chọn kết cấu nhà lưới phù hợp.
25