TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
ĐỀ TÀI
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG
TIN MÔI TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP: TRƯỜNG
HỢP CÁC DOANH NGHIỆP CỦA TRUNG QUỐC
GVHD: TS. Nguyễn Hữu Dũng
Thành viên tham gia: Lê Thị Liên
Đinh Thị Tâm
Trần Cẩm Linh
Lớp: Cao học kinh tế phát triển Đêm – K21
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12 NĂM 2012
TÓM TẮT
Để tìm hiểu về việc công bố thông tin về môi trường của các doanh
nghiệp, bài viết này xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông
tin môi trường của doanh nghiệp trên cơ sở lý thuyết của các bên liên quan, và
đưa ra một quan sát thực nghiệm về các doanh nghiệp Trung Quốc đã được
niêm yết. Mức độ công bố thông tin môi trường của các doanh nghiệp trong bối
cảnh hiện nay ở Trung Quốc rất thấp. Gần 40% trong tổng số mẫu không có dữ
liệu môi trường và vấn đề này được xác định rõ trong việc phân tích thông tin
được công bố. Trong điều kiện hiện nay, chiến lược công bố thông tin môi
trường của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng sự quan tâm của Chính phủ. Sự nổ
lực đáng kể của các doanh nghiệp trong việc công bố thông tin môi trường là
tương đối nhạy cảm và phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp. Về vai trò giữa
các bên liên quan, yếu tố cổ đông và chủ nợ doanh nghiệp được thử nghiệm
trong nghiên cứu này tác động đến EID còn rất yếu. Một khám phá thú vị khác
trong nghiên cứu này, các doanh nghiệp được chọn mẫu công bố thông tin về
môi trường của mình. Các doanh nghiệp hoạt động ven biển Đông, nơi mà kinh
hoặc bằng cách cung cấp dữ liệu với một vài lời giải thích và dự báo. EID dựa
trên sự tự nguyện của các doanh nghiệp, bao gồm báo cáo môi trường, công bố
bởi các công ty, nhìn chung là chưa được kiểm toán ở các nước đang phát triển.
Việc công bố thông tin môi trường doanh nghiệp ở Trung Quốc mới chỉ là bước
đầu, việc công bố không mang tính bắt buộc. Tuy nhiên, một vài tập đoàn lớn ở
Trung Quốc (PetroChiNa, Sinopec, Bao Steel) đã xuất bản các báo cáo hàng
năm với nội dung bảo vệ môi trường bền vững và trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp. Mặt khác, từ năm 2011, các doanh nghiệp nộp đơn xin niêm yết trên thị
trường phải chỉ ra các tác động tiêu cực đến môi trường từ hoạt động của doanh
nghiệp trong bản báo cáo bạch. Một chương trình đánh giá đã được khởi xướng
trên toàn quốc vào năm 2005, phân loại các tác động môi trường của doanh
nghiệp thành 5 cấp bậc khác nhau được thể hiện bằng các màu sắc khác nhau và
cho thấy một bức tranh tổng thể về các tác động môi trường của các doanh
nghiệp. EID góp phần giúp doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm xã hội của mình
về việc phủ xanh và làm sạch môi trường tuy nhiên trên thực tế đa số các báo
cáo môi trường có nội dung kém chất lượng và không rõ ràng nhất là trên cơ sở
tự giác công bố. Để giúp cho các doanh nghiệp nhận thức đúng đắn về việc
công bố thông tin môi trường doanh nghiệp, bài viết này nhằm mục đích xác
định các yếu tố tác động đến việc công bố thông tin môi trường doanh nghiệp và
minh họa bằng ví dụ cụ thể là các doanh nghiệp Trung Quốc được niêm yết.
2. Tổng quan tài liệu
Về các yếu tố tác động đến việc công bố thông tin môi trường doanh
nghiệp, chúng được xem như là các hoạt động có liên quan đến môi trường của
doanh nghiệp, và chúng có thể được nhóm lại thành các yêu tố bên trong và các
yếu tố bên ngoài, các nhà nghiên cứu chưa khẳng định nhóm nào là chiếm ưu
thế. Một số điểm nhấn của các yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như các quy định,
cơ chế cạnh tranh và áp lực từ các tổ chức phi chính phủ. Cơ cấu tổ chức doanh
nghiệp, năng lực học tập cũng tác động đến khả năng tổ chức quản lý môi
trường phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp.
Nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra sự xuất hiện của EID có thể chia thành
Nghiên cứu này được nhóm vào loại thứ 2 được đề cập ở trên và nội dung
nghiên cứu là nghiên cứu việc công bố thông tin môi trường doanh nghiệp trên
cơ sở mở rộng phạm vi nghiên cứu của một công trình nghiên cứu trước đây
trong bối cảnh của một nước đang phát triển. Một khung phân tích các yếu tố
quyết định là cơ sở để doanh nghiệp công bố thông tin môi trường phù hợp với
đặc điểm của mình. Bao gồm thông tin tài chính và phi tài chính.
3. Phát triển khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu
3.1. Khái niệm cơ bản về lý thuyết giữa các bên liên quan
Dựa trên lý thuyết kinh tế bị phản đối vì tập trung vào lợi ích cá nhân và
tối đa hóa sự giàu có là không phù hợp trong quan điểm về tầm quan trọng của
môi trường như là một lợi ích công cộng. Từ đó về sau, quan điểm kinh tế chính
trị, bao gồm cả lý thuyết bên tham gia và lý thuyết tính hợp pháp, được xem
như là các quan điểm lý thuyết chủ đạo cho việc phân tích các EID.
Lý thuyết các bên liên quan khẳng định sự tồn tại của tổ chức đòi hỏi sự
hỗ trợ của các bên liên quan và sự chấp thuận phải được tìm kiếm.
3.2. Khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu
Như đã giải thích ở trên, sự thành công của một doanh nghiệp dựa trên
việc quản lý mối quan hệ với các bên liên quan của nó như là một tổng thể. Nếu
một doanh nghiệp tin rằng các bên liên quan bên ngoài của nó là quan tâm nhiều
hơn đến vấn đề môi trường, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực công bố thông
tin liên quan đến môi trường. Do đó, một giả thuyết chung được nêu rõ như sau:
“Giả thuyết chung: sức mạnh của các bên liên quan bên ngoài của một
doanh nghiệp có liên quan với mức độ công bố thông tin môi trường của doanh
nghiệp.”
Nghiên cứu này đã chọn đại diện các bên liên quan bên ngoài của các
doanh nghiệp niêm yết, cụ thể là: (a) chính phủ, có khả năng can thiệp thông
qua các quy định, (b) các cổ đông là những người chủ yếu cung cấp vốn cho các
doanh nghiệp niêm yết, và (c) các chủ nợ, có khả năng cung cấp sức mạnh kinh
tế cho doanh nghiệp thông qua việc cho vay nợ.
Các giả thuyết có thể kiểm chứng cụ thể của các bên liên quan có thể
- Hoạt động kinh tế
- Năng lực học tập
Sức ép từ
chủ nợ
3.2.2. Hb: Sức mạnh cổ đông (SP)
Sức mạnh của cổ đông có thể được đo bằng cách định lượng mức độ sở
hữu cổ phần. Việc cổ phiếu của một doanh nghiệp phân tán rộng hơn, khả năng
doanh nghiệp công bố thông tin môi trường nhiều hơn. Điều này được thể hiện
qua giả thuyết Hb:
“Hb: Mức độ tập trung của các cổ đông trong doanh nghiệp ảnh hưởng
đến việc công bố thông tin môi trường doanh nghiệp.”
Trong nghiên cứu này, mức độ tập trung quyền sở hữu chứng khoáng
được đo bằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu với sở hữu vốn của 10 cổ đông hàng đầu.
Tập trung cổ phiếu cao hơn, SP sẽ khuyến khích các doanh nghiệp công bố
thông tin môi trường. Những dữ liệu về cổ đông được thu thập từ báo cáo hàng
năm của các doanh nghiệp niêm yết.
3.2.3. Hc: Sức ép chủ nợ (CP)
Sức ép chủ nợ được đo lường bằng khoản nợ mà doanh nghiệp đã vay.
Rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thị trường quan tâm đến tình hình của môi
trường doanh nghiệp khi đánh giá trách nhiệm môi trường và rủi ro vay nợ của
doanh nghiệp.
Điều này đã được khẳng định bởi một nghiên cứu gần đây rằng: một
doanh nghiệp càng vay nợ, sẽ càng phấn đấu để kết hợp một chiến lược chủ
động về môi trường. Điều này dẫn đến giá thuyết thứ ba:
“Hc: Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp có liên quan đến việc công bố
thông tin môi trường.”
Trong nghiên cứu này, mức độ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp được
chủ nợ thông qua. Theo đó, tỷ lệ nợ/tài sản của các doanh nghiệp lấy mẫu có
nguồn gốc phân tích.
4. Phương pháp
4.2. Xác định mô hình kinh tế lượng
Chúng tôi cho rằng việc công bố thông tin môi trường của các doanh
nghiệp phụ thuộc vào sức ép của các bên liên quan bên ngoài và các đặc trưng
của doanh nghiệp (quy mô, vị trí địa lý, năng lực học tập, hoạt động kinh tế,…)
được xác định trong khung phân tích.
Các giả thuyết này được kiểm định và dự báo bằng các mô hình hồi quy
OLS. Mô hình này được thể hiện ơ phương trình (1), dự báo mức độ cung cấp
thông tin môi trường doanh nghiệp (được tính toán bằng chỉ số công bố thông
tin tích hợp hoặc điểm số của các mục thông tin môi trường của từng doanh
nghiệp).
EID level = b
0
+ b
1
GP + b
2
SP + b
3
CP + b
4
LC + b
5
AGE + b
6
PLACE + b
7
ROE + b
8
LSIZ + e ( 1 )
Trong đó:
theo hướng dẫn của GRI, các hạng mục theo quy định của SEPA và những hạng
mục được chọn cho nghiên cứu này được thể hiện trong Bảng 2.
Bảng 2: Các mục quy định trong hướng dẫn GRI
Đặc trưng Mẫu
Vật liệu, năng lượng và nước EN1:Vật liệu được sử dụng theo trọng lượng và khối lượng
EN2: Tỷ lệ phần trăm nguyên vật liệu đầu vào tái chế
EN3: Năng lượng tiêu thụ trực tiếp bởi nguồn năng lượng chính
Đa dạng sinh học EN11: Vị trí và diện tích đất sở hữu, cho thuê, quản lý, hoặc liền kề, khu bảo tồn
và các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao bên ngoài các khu bảo tồn
Khí thải, nước thải và chất thải EN16: tổng số khí phát thải nhà kính trực tiếp và gián tiếp tính theo trọng lượng
EN20: NOx, SOx và khí thải quan trọng khác theo loại và trọng lượng
EN21: Tổng lượng nước xả bằng chất lượng và điểm đến
EN22: Tổng trọng lượng của rác thải bằng phương pháp loại và xử lý
Sản phẩm và dịch vụ EN27: Tỷ lệ phần trăm các sản phẩm bán ra và các vật liệu bao bì được thu hồi
theo thể loại
Tuân thủ EN28: tiền tệ giá trị của tiền phạt đáng kể và tổng số phi tiền tệ xử phạt đối với
việc không tuân thủ luật pháp và các quy định môi trường
Các mục theo quy định của SEPA
1. Chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, mục tiêu và thành tựu.
2. Tổng mức tiêu thụ các nguồn tài nguyên hàng năm.
3. Đầu tư phát triển công nghệ môi trường của doanh nghiệp.
4. Nồng độ và số lượng phát thải.
5. Tổ chức và hoạt động của cơ sở môi trường.
6. Xử lý chất thải và tái chế sử dụng chất thải.
7. Tự nguyện thoả thuận với cơ quan môi trường để thực hiện cải thiện
8. Thông tin về các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
9. Thông tin khác liên quan đến việc công bố thông tin môi trường doanh nghiệp.
Các mục được lựa chọn trong nghiên cứu này
I1: Chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, chiến lược và mục tiêu.
I2: Tiêu thụ năng lượng, nước và các nguồn tài nguyên khác
TUỔI là số năm kể từ khi doanh nghiệp được niêm yết tại thị trường
chứng khoán Trung Quốc (ví dụ như, Thượng Hải hay Thẩm Quyến thị trường
chứng khoán) đến cuối năm 2006.
4.3.3.3. Địa điểm (PLACE)
Vị trí của công ty, thể hiện như PLACE, được định nghĩa là một biến giả,
tức là nhận giá trị là 1 đối với các doanh nghiệp nằm ở vùng ven biển phía
Đông, nơi nền kinh tế tương đối phát triển, và nhận giá trị là 0 đối với các
doanh nghiệp nằm ở vùng Đông Bắc, các tỉnh Trung và Tây của Trung Quốc nơi
mà nền kinh tế kém phát triển hơn.
Hình 3 : Phân bố của các chỉ số công bố thông tin môi trường (mức EID)
(z= 0,816 trong thử nghiệm K-S và có thể vượt qua các kiểm nghiệm thông thường)
Bảng 3 : Tóm tắt thống kê các biến
4.3.3.4. Năng lực học tập (LC)
Năng lực học tập của một doanh nghiệp được cho là quan trọng để nâng
cao năng lực của nó. Trình độ học vấn của người lao động có thể cho thấy năng
lực của doanh nghiệp để tìm hiểu và thực hiện cách tiếp cận quản lý môi trường
mới.
4.3.3.5. Trả lại vốn chủ sở hữu (ROE)
Nghiên cứu này sử dụng yếu tố trả lại vốn chủ sở hữu (ROE) để trình
bày các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp niêm yết. ROE của năm trước
cũng được thu thập cho việc kiểm tra đánh giá tác động làm chậm hiệu suất kinh
tế đến mức EID.
5. Kết quả và thảo luận
5.1. Đánh giá kết quả cấp EDI
Khoảng 30% của 175 doanh nghiệp trong mẫu đã chỉ ra rằng đầu tư cho
môi trường và chi phí kiểm soát ô nhiễm của họ trong năm 2006. Gần 37%
trong tổng số mẫu mô tả nỗ lực về môi trường nhất định như chứng nhận
ISO14001 và kiểm toán minh bạch hơn, vv các doanh nghiệp dường như là
miễn cưỡng để nêu ra những tác động của họ đến môi trường như thông tin về
các loại khí thải, số lượng và các điểm đến. Chỉ có 15% số mẫu giải thích mục
công nghiệp và từ vị trí địa lý.
5.3. Ma trận tương quan và kết quả biến nhị phân
Tương quan hạng Pearson được sử dụng trong nghiên cứu này để khám
phá mối quan hệ giữa các yếu tố bên ngoài đã được xác định, đặc điểm của
doanh nghiệp và mức độ EID. Kết quả cho tương quan hạng Pearson được thể
hiện trong Bảng 4.
Chưa có dấu hiệu cho thấy có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc
lập và kiểm soát như hệ số tương quan cao nhất là 0.367 cho năng lực học tập
(LC) và sức ép chính phủ (GP). Mức độ gây hại của đa cộng tuyến được dự kiến
sẽ không trình bày cho đến khi hệ số tương quan đạt 0.8 hoặc đạt 0.9.Ma trận
tương quan trong Bảng 4 cũng cho thấy kết quả biến nhị phân giữa mức độ EDI
biến phụ thuộc và tất cả các biến độc lập. Kết quả chỉ ra rằng tác động của GP là
đáng kể và tích cực liên kết với EID mức p <0,01. Kết quả này phù hợp với
nghiên cứu trước tài liệu mà doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công
nghiệp nhạy cảm về môi trường báo cáo thông tin môi trường hơn. Một biến
khác đó là hiển thị mối tương quan thuận với mức độ EID, đáng kể tại p <0,01,
là quy mô của doanh nghiệp (LSIZ). Điều này là phù hợp với các nghiên cứu
của Đức đã đề cập trước đó.
Bảng 5: Kết quả hồi quy cho EID mức độ dữ liệu của năm 2006
Bảng 6: Kết quả hồi quy cho các mục thông tin cá nhân bởi các dữ liệu của năm 2006.
5.4. Phân tích đa biến và thảo luận cho mức EID
Hồi quy OLS được sử dụng để hồi quy biến phụ thuộc EID theo tất cả các
biến độc lập và biến kiểm soát bằng cách sử dụng các dữ liệu của năm 2006.
Các kết quả được thể hiện trong Bảng 5. Mô hình này giải thích khoảng 40,7%
sự biến thiên về EID, có ý nghĩa tại p ¼ 0,000. Giả thuyết (Ha) hỗ trợ mạnh mẽ
trong kết quả đa biến với biến sức ép chính phủ (GP) cho thấy một mối quan hệ
đáng kết hợp với mức độ EID p ¼ 0,000. Yếu tố chính góp phần dẫn đến công
bố thông tin môi trường của doanh nghiệp Trung Quốc là để nâng cao hình ảnh
doanh nghiệp và hỗ trợ các chính sách của chính phủ.
Giả thuyết b và c (Hb và Hc) không được hỗ trợ. Sức mạnh cổ đông (SP)
Bảng 7 Kết quả hồi quy cho EID cấp bởi dữ liệu trễ của năm 2005
6. Kết luận
Nghiên cứu này đã phát triển một bộ khung giữa các bên liên quan và
phân tích các hành vi công bố thông tin môi trường của các doanh nghiệp Trung
Quốc. Các kết quả thực nghiệm cung cấp những hiểu biết quan trọng vào các
yếu tố quyết định cho EID ở Trung Quốc. Mức độ nhạy cảm môi trường và quy
mô của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng chính ảnh hưởng đến EID. Hiệu suất
kinh tế là không đáng kể liên quan đến các hoạt động công bố thông tin môi
trường. Trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp Trung Quốc đang cung cấp
các thông tin về môi trường chủ yếu là để làm giảm bớt những mối quan tâm
của chính phủ.
Nghiên cứu này có một vài hạn chế như hạn chế về sự lựa chọn của các
bên liên quan và các giấy ủy quyền được thông qua, và kết quả có thể được sử
dụng như một tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Pan Y. Seven environmental economic policies should be the priorities.
Outlook Weekly September, 2007;10.
[2] SustainAbility/UNEP. Trust us, the global reporters 2002 survey of
corporate sustainability reporting. London: SustainAbility/UNEP; 2002.
[3] Lopez JG, Sterner T, Afsah S. Public disclosure of industrial pollution: the
PROPER approach for Indonesia. Washington D.C.: Resources for Future;
October, 2004. Discussion Paper, 04–34.
[4] Mathews MR, Perera MHB. Accounting theory and development. 3rd ed.
Nelson, Melbourne: Victoria; 1995.
[5] Guo PY. Corporate environmental reporting and disclosure in China: CSR
in Asia 2005. Beijing: Tsinghua University; June, 2005.
[6] SEPA (State Environmental Protection Administration). Announcement on
promoting the evaluation of corporate environmental performance. Available at:
<http://www.sepa.gov.cn/>; 2005 [accessed 30.05.08] [in Chinese].
[7] Christmann P, Taylor G. Globalization and the environment: determinants
incidents: Australian evidence. Account Forum 2000;24(1):101–30.
[18] Li Y, Richardson G, Thornton D. Corporate disclosure of environmental
liability information: theory and evidence. Contemp Account Res
1997;14(3):435–74.
[19] Cormier D, Magnan M. Corporate environmental disclosure strategies:
determinants, costs and benefits. J Account Audit Financ 1999;14(3):429–51.
[20] Bewley K, Li Y. Disclosure of environmental information by Canadian
manufacturing companies: a voluntary disclosure perspective. Adv Environ
Account Manage 2000;1:20126.
[21] Cormier D, Magnan M. Environmental reporting management: a European
perspective. J Account Public Pol 2003;22:43–62.
[22] Cormier D, Magnan M, Van Velthoven B. Environmental disclosure
quality: do firms respond to economic incentives, public pressures or
institutional conditions? Eur Account Rev 2005;14(1):1–37.
[23] Wiseman J. An evaluation of environmental disclosures made in corporate
annual reports. Account Org Soc 1982;7(1):53–63.
[24] Hughes SB, Anderson A, Golden S. Corporate environmental disclosures:
are they useful in determining environmental performance? J Account Public
Pol 2001;3(20):217–40.
[25] Patten DM. The relation between environmental performance and
environmental disclosure: a research note. Account Org Soc 2002;27:763–73.
[26] Rockness J. An assessment of the relationship between US corporate
environmental performance and disclosure. J Bus Finance Account
1985;12(3):339–54.
[27] Freedman M, Jaggi B. Association between environmental performance
and environmental disclosures: an assessment. Adv Account 1996;14:161.
[28] Gray R, Kouhy R, Lavers S. Methodological themes: constructing a
research database of social and environmental reporting by UK companies.
Account Audit Account J 1995;8(2):78–101.
[29] Guthrie J, Parker L. Corporate social disclosure practice: a comparative
environmental protection auditing to the companies applying to be listed or for
refinancing. Available at: http://www.sepa.gov.cn/; 2003 [accessed 28.05.08] [in
Chinese].
[42] Elijido-Ten E Applying stakeholder theory to analyze corporate
environmental performance: evidence from Australia’s top 100 listed
companies. In: Gray P, Margiolis E, editors. Proceedings of the 2005
Accounting and Finance Association of Australia and New Zealand (AFAANZ)
Annual Conference. Melbourne, Victoria, Australia: John Wiley and Sons. 30pp.
3–5 July 2005.
[43] Farrar D, Glauber R. Multi-collinearity in regression analysis: the problem
revisited. Rev Econ Stat 1967:92–107.
[44] Aerts W, Cormier D, Magnan M. Corporate environmental disclosure,
financial markets and the media: an international perspective. Ecol Econ
2008;64(3):643–59.
[45] Guo PY, Zhang XB, Wei ND. Study of sustainability reporting in China: a
journey to discover values. Available at: <http://www.SustainabilityReport.cn>;
2007 [accessed 15.09.07].
[46] SEPA (State Environmental Protection Administration), PBC (the People’s
Bank of China), CBRC (the China Banking Regulatory Commission). Notes on
reducing loan risk by enforcing environmental protection policies and
regulations. Available at: <http://www.sepa.gov.cn/>; 2007 [accessed 28.05.08].