làm giàu metyleugenol từ tinh dầu hương nhu (ocimum gratissmum) và khảo sát hoạt tính sinh học - Pdf 22

1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
- Khoa học ngày càng phát triển, nhu cầu sống con người ngày càng cao. Sự ô
nhiễm môi trường ảnh hưởng rất lớn trong đời sống hằng của chúng ta (ô nhiểm bởi
khí thải, rác thải, nước thải từ các nhà máy, các khu công nghiệp…), bên cạnh có
không ít dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng góp phần ảnh hưởng đến ô nhiễm môi
trường.
- Ngày nay người ta dùng các hợp chất có khả năng làm thay đổi quá trình phát
triển sinh học bình thường của từng cá thể hoặc của cả quần thể côn trùng theo chiều
hướng xấu đối với chúng. Những hợp chất này được chiết xuất từ cơ thể sâu hại, từ
thức ăn của chúng hoặc được tổng hợp hóa học. Mặc dù vẫn chưa có khả năng ứng
dụng rộng rãi các chất này, song trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm có một vài
trường hợp mang lại hiệu quả rõ rệt, các hợp chất đã được nghiên cứu là các hormone,
pheromone
- Đồng Tháp là nơi gắn với hai con sông Tiền và sông Hậu với dòng nước ngọt
ngào hằng năm đã bồi đắp phù sa cho Đồng Tháp, khiến nơi đây đất đai màu mỡ, xóm
làng trù phú, vườn cây trái xanh tươi trĩu quả. Trái cây Đồng Tháp từ xa xưa đã vang
danh khắp mọi miền đất nước, gắn liền với những địa danh rất đỗi quen thuộc: mận
Hòa An, xoài Cao Lãnh, nhãn Châu Thành, bưởi Phong Hoà, quýt Lai Vung
- Trong những năm gần đây nhà vườn đang chuẩn bị vào đợt thu hoạch, bỗng nhiên
ruồi vàng từ đâu bay tới ào ào tấn công vào hàng loạt các vườn cây ăn trái lâu năm,
khiến nhiều vườn cây bị rụng trái, chủ vườn thất thu nặng. Để đạt hiệu quả cao và lâu
dài trong bảo vệ thực vật, đồng thời đảm bảo an toàn cho con người, các sinh vật có
ích, tránh gây ô nhiễm môi trường, sử dụng các chế phẩm sinh học là một hướng đi
mới đầy triển vọng.
- Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt đô cao, mưa nhiều và độ ẩm
tương đối cao. Vì vậy đã tạo một hệ thực vật phong phú và đa dạng, đặc biệt là các loại
cây cho tinh dầu (xã, nhu, quít, cam, chanh, lài…) trong số đó tinh dầu hương nhu
ngoài công dụng chữa các bệnh cúm, ho, nhức đầu…nó còn chứa một lượng không

3
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái quát về tinh dầu
1.1.1. Phân bố tinh dầu trong thiên nhiên
Tinh dầu là một loại chất lỏng được tinh chế (thông thường nhất là bằng cách
chưng cất bằng hơi hoặc nước) từ lá cây, thân cây, hoa, vỏ cây, rễ cây, hoặc những
thành phần khác của thực vật.
Tinh dầu được ví như nhựa sống của cây, vì vậy nó mang sức sống, năng lượng
và mạnh hơn 100 lần các loại dược thảo sấy khô.
Các loại cây có tinh dầu được phân bố rộng trong thiên nhiên. Trữ lượng tinh
dầu trong cây phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng. Cây mọc ở vùng nhiệt đới
có hàm lượng tinh dầu nhiều hơn ở vùng ôn đới. Ngay trong một cây, thành phần và
lượng tinh dầu trong các bộ phận khác nhau cũng khác nhau. Ngoài ra, lượng tinh dầu
còn phụ thuộc vào môi trường sống của cây, phương pháp thu hoạch, bảo quản, tách
chiết.
Về phân bố lượng tinh dầu, đặc biệt có nhiều trong họ long não, họ hoa môi, họ
cam, họ sim, họ hoa tán.
Tinh dầu có trong các bộ phận khác nhau của cây, như ở hoa (hồng, nhài, cam,
chanh,…), ở lá (bạch đàn, bạc hà, hương nhu,…), ở thân cây (hương đàn, peru,…), ở
vỏ cây (quế), ở rễ (gừng, nghệ, hương bài,…).
Trong cây, tinh dầu có thể ở dạng có sẵn hoặc chỉ tạo thành trong một điều kiện
nhất định nào đó. Khi đó, tinh dầu không phải là những bộ phận bình thường trong cây
mà chỉ xuất hiện trong những điều kiện nhất định khi một số bộ phận bị chết.
Phân loại tinh dầu: có hai loại là tinh dầu nguyên chất và tinh dầu không
nguyên chất.
- Tinh dầu nguyên chất: hoàn toàn không có độc tố, không có chất bảo quản hóa

Miaxene Oximene
Các dẫn xuất chứa oxi của chúng là linalool, geraniol, citronelol,…
- Các monoterpene một vòng: phổ biến là limonene.

Limonene
Các dẫn xuất chứa oxi của chúng là menthol, piperitol, carvon,…
- Các monoterpene hai vòng: tiêu biểu là pinene, camphene. Pinene Camphene
Sesquiterpene (n=1,5):
Các sesquiterpene mạch thẳng và vòng tiêu biểu là farnesene, gingiberene,
humulen,


santalene,



α-
Terpineol Geraniol


Phenol và etylphenol: một số chất phemol trích từ các loại tinh dầu như:
thymol, estragol, eugenol,…

OH

OCH
3
H
2
C CH CH
2

OH
H
2
C CH CH
2
OCH
3

Thymol Estragol Eugenol



NH
2
C
OC
2
H
5
O

H
2
C O C CH
3
O

Etyl anthranilate Benzyl axetat


Các hợp chất khác: ngoài các hợp chất nói trên, trong các loại tinh dầu còn
có các hợp chất thuộc nhóm oxit (eucalyptol), các aminoaxit (axit antranilic), các
6
lacton (coumarin, ambretolit), các hợp chất có lưu huỳnh (anlyl isosulfocyannat), hợp
chất có nitơ (metyl antranilat).
1.2. Đặc điểm thực vật
*Đặc điểm họ Hoa môi (Lamiaceae hoặc Labiatae)
Họ Hoa môi (Lamiaceae hoặc Labiatae) còn được gọi là Húng, họ Bạc Hà,… là
một họ thực vật có hoa. Họ Hoa môi chứa từ 233 đến 263 chi và khoảng 6900 tới 7173
loài.
Họ Hoa môi có khoảng 130 loài ở Việt Nam, đều là cỏ thân thảo, lá hay có tinh
dầu nên có mùi đặc trưng, nhiều loài được trồng làm rau thơm để ăn.

Cây húng Thái, một giống cây trồng khác của cùng loài, là một thành phần phổ
biến trong ẩm thực Thái Lan với hương vị mạnh tương tự như mùi của đại hồi, được
dùng để tạo hương vị trong các món cari và các món xào.
1.3. Thành phần hóa học và dược lý của cây Hương nhu trắng (É trắng)

Hình 1.1. Cây hương nhu trắng
Tên khoa học: Ocimum gratissimum Linn.
Họ khoa học: Họ Hoa môi (Labiatae hoặc Lamiaceae).
1.3.1. Đặc điểm cây hương nhu trắng
- Hương nhu (Ocimum) là một loài cây lấy tinh dầu và làm thuốc, họ Hoa môi.
Hương là mùi thơm, nhu là mềm, cây có mùi thơm, lá mềm nên gọi là hương nhu.
- Có hai loại là hương nhu trắng (é trắng) và hương nhu tía (é tía):
+ Cây hương nhu trắng (é trắng): cây thảo cao 1 – 2m, sống nhiều năm. Thân
vuông, có lông, hoá gỗ ở gốc; khi còn non 4 cạnh thân màu nâu tía, còn 4 mặt thân
màu xanh nhạt, khi già thân có màu nâu. Lá mọc đối chéo chữ thập, có cuống dài,
phiến dài 5 – 10cm thuôn hình mũi mác, mép khía răng thô, đầu nhọn dài, có lông
nhiều lông ở hai mặt, mặt trên xanh thẫm hơn mặt dưới. Hoa màu trắng mọc thành xim
8
co ở kẽ lá hoặc đầu cành. Hoa không đều, có tràng hoa màu trắng chia hai môi, nhị 4,
thò ra ngoài bao hoa. Quả bế tư, bao bởi đài hoa tồn tại. Toàn cây có mùi thơm.
+ Cây hương nhu tía (é tía): là cây thân và cành có màu tím, có lông quặp. Lá mọc
đối, hình trứng nhọn, có cuống dài, thuôn hình mác hay hình trứng, dài 1 – 5cm, mép
có răng cưa, hai mặt đều có lông. Hoa màu tím mọc thành chùm đơn, xếp thành từng
vòng từ 6 – 8 chiếc trên chùm, ít phân nhánh.
- Cây có nguồn gốc ở Nam Phi nay được trồng ở nhiều nơi trên thế giới: Liên Xô
cũ, Xrilanca, Malaixia, Ấn Độ.
- Ở Việt Nam, cây mọc hoang dại ở một số địa phương: Quảng Ninh, Hà Giang,
Phú Thọ, Yên Bái, Cửu Long, nay được trồng nhiều ở miền Bắc: ngoại thành Hà
Nội, Hà Tây, Nam Hà, Hải Hưng, Sơn La, Lai Châu; ở miền Trung: Đắc Lắc và một
số tỉnh ở Nam bộ, ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh.

11
H
14
O
2
)

O

O1,2-dimethoxy-4-(prop-2-en-1-yl)benzene
- Trọng lượng phân tử: 178,23 g/mol
- Nhiệt độ nóng chảy: – 4
0
C.
9
- Nhiệt độ sôi: 248
0
C.
- Chiết suất: 1,533 – 1,535.
Là chất lỏng không màu hoặc vàng nhạt, hóa nâu trong không khí, có mùi thơm
đặc trưng, không tan trong nước, tan trong dung môi hữu cơ, ổn định trong điều kiện
thường. Metyleugenol là một chất dẫn dụ côn trùng, đặc biệt là ruồi vàng xuất hiện ở
những nơi khí hậu nhiệt đới.
 Thymol (C
10
H
14

2-methyl-5-(propan-2-yl)phenol 5-methyl-2-(propan-2-yl)phenol
- Phân tử gam: 150,217 g/mol.
- Nhiệt độ nóng chảy: 1
0
C.
- Nhiệt độ sôi: 237,7
0
C.
Là một phenol monoterpenoid, có tính hăng, vị ấm áp và mùi của rau oregano
pizza. Ít tan trong nước, tan trong etanol, dietyl ete, cacbon tetreclorua, axeton.
 p-Cynmene
1-methyl-4-(propan-2-yl)benzene
- Phân tử gam: 134,21 g/mol.
10
- Nhiệt độ sôi: 177
0
C.
- Nhiệt độ nóng chảy: – 68
0
C.
Là chất lỏng không màu, không tan trong nước, nhưng tan trong etanol và ete.



Bisabolene (C
15
H

0
C.
 Camphene (C
10
H
16
)
2,2-dimethyl-3-methylidenebicyclo[2.2.1]heptan
- Khối lượng phân tử: 136,24 g/mol.
- Nhiệt độ nóng chảy: 45 – 48
0
C.
- Nhiệt độ sôi: 158 – 159
0
C.
Là chất sáp rắn, trắng, không hòa tan trong nước; tan trong rượu và clorofom.

α-
Pinene (C
10
H
16
)

(R)-(+)-Limonene (S)-(–)-Limonene
- Khối lượng phân tử: 136,24 g/mol.
- Nhiệt độ nóng chảy: – 99,5
0
C.
- Nhiệt độ sôi: 177,6
0
C.
Là một chất tự nhiên từ nhóm của terpene monocyclic monoterpene. Có hai
enantiomers: (R)-(+)-Limonene và (S)-(–)-Limonene. Là chất lỏng, hơi tan trong
nước.

α-
Caryophyllene (C
15
H
24
)
(1E,4E,8E)-2,6,6-trimethylcycloundeca-1,4,8-triene
- Khối lượng phân tử: 204,36 g/mol.
- Nhiệt độ sôi: 106 – 107
0
C.

β-

+ Nước sắc hương nhu có tác dụng trấn tỉnh.
+ Dầu hương nhu liều 190ml/kg cho uống liên tục 7 – 8 ngày, thấy có tác dụng
tăng cường khả năng miễn dịch.
+ Tác dụng kháng khuẩn: dầu hương nhu có tác dụng kháng khuẩn đối với trực
khuẩn thương hàn, trực khuẩn lị, trực khuẩn bạch cầu, trực khuẩn phế viêm, các loại
trực khuẩn.
- Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Chữa cảm nắng, nôn mửa, tiêu chảy hoặc do mùa hè ăn quá nhiều các thứ sống
lạnh: hương nhu 12g, tía tô (lá và cành) 9g, mộc qua 9g, sắc nước uống trong ngày.
+ Chữa mùa hè bị cảm do nhiễm gió lạnh, uống quá nhiều thứ nước mát, hoặc bị
cảm nắng dẫn đến người phát sốt, sợ lạnh, đầu đau, ngực đầy, không mồ hôi: hương
nhu 8g, hậu phác 6g, bạch biển đậu (đậu ván trắng) 12g, sắc nước uống. Ngoài cách
sắc uống, còn có thể sử dụng dưới dạng thuốc tán: dùng hương nhu 500g, hậu phác
(tẩm gừng nướng) 200g, bạch biển đậu (sao vàng) 2000g, tất cả 3 vị tán nhỏ trộn đều;
mỗi lần dùng 10g, pha với nước đun sôi uống.
+ Chữa cảm trong 4 mùa (tứ thời cảm mạo): hương nhu tán nhỏ, mỗi lần dùng
8g, pha với nước sôi hay dùng rượu hâm nóng mà chiêu thuốc; uống vào mồ hôi ra
được là khỏi bệnh.
+ Chữa cảm sốt nhức đầu: dùng lá hương nhu tươi một nắm, giã nhỏ, chế thêm
nước sôi, vắt lấy nước cốt uống, bã đắp lên đầu, trán, và hai bên thái dương. Nếu sốt
có mồ hôi thì thêm củ sắn dây tươi 20g, cùng giã vắt nước uống.
13
+ Chữa phù thũng, tiểu tiện đỏ, không mồ hôi: hương nhu 9g, bạch mao căn (rễ
cỏ tranh) 30g, ích mẫu thảo 12g, sắc nước uống thay trà trong ngày.
+ Chữa hôi miệng: hương nhu 10g sắc với 200ml nước. Dùng súc miệng và
ngậm.
+ Chữa trẻ nhỏ viêm đường hô hấp trên: hương nhu, hoắc hương, kinh giới, bán
hạ, phục linh, đẳng sâm, hoàng cầm - mỗi thứ 10g, cam thảo 5g; sắc với nước, chia
thành 4 - 6 lần uống trong ngày.
+ Chữa trẻ con chậm mọc tóc: hương nhu 40g, sắc với 200ml nước, cô đặc, trộn

- Chiết suất: 1,533 – 1,535.
Là chất lỏng không màu hoặc vàng nhạt, hóa nâu trong không khí, có mùi thơm
đặc trưng, không tan trong nước, tan trong dung môi hữu cơ, ổn định trong điều kiện
thường. Metyleugenol được biết đến như là một chất dẫn dụ côn trùng, đặc biệt là ruồi
vàng xuất hiện ở những nơi khí hậu nhiệt đới, loại ruồi vàng này xuất hiện nhiều ở khí
hậu nhiệt đới như Việt Nam, chúg hại mùa màng, đặc biệt các vườn cây ăn quả.
14
Cơ chế hoạt động của Methyleugenol như sau: Mùi thơm của Methyleugenol
tương tự như mùi hormone của ruồi vàng đực tiết ra trong thời kỳ sinh sản để dẫn dụ
ruồi vàng cái đến giao phối, vì vậy Methyleugenol không có cùng cấu trúc giống loại
hormone nói trên nhưng có mùi tương tự nên có thể sử dụng để dẫn dụ ruồi vàng cái
đến, tập trung lại một chỗ và dùng bẫy để bắt. Bên cạnh đó, Methyleugenol cũng có
tác dụng triệt khả năng sinh sản của ruồi vàng cái, làm cho mất khả năng sinh sản của
ruồi vàng cái.
Vì Methyleugenol là sản phẩm phục vụ cho nông nghiệp, đối tượng sử dụng là
những nông dân, chính vì vậy trong methyleugenol của Trung Quốc bán tại Việt Nam
có pha thêm 5% chất độc Nalet để giết chết ruồi vàng khi bẫy được, Nalet là 1 hợp
chất cơ photphos rất nguy hiểm nên sẽ để lại sự ô nhiễm lâu dài đên môi trường đất,
không khí và con người trong quá trình sử dụng.
1.5. Một số phương pháp tách chiết và phân tích
1.5.1. Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước
Một số chất không tan nhưng dễ bị hơi nước nóng cuốn theo. Người ta lợi dụng
tính chất này để tách chất ra khỏi hỗn hợp phản ứng.
Cách làm: Cho chất định cất lôi cuốn hơi nước vào bình cất (tối đa bằng 1/3 thể
tích bình). Nối hệ thống bình cất với bình đun hơi nước nóng. Bình nước nóng có nối
với ống thuỷ tinh dài tận đáy để theo dõi áp suất của hệ thống cất. Khi áp suất trong hệ
thống cao (bị tắc) thì nước trong ống thuỷ tinh tăng cao hoặc phun ra ngoài, lúc đó cần
mở khoá 3 thông để thông với áp suất khí quyển.
Sau khi lắp xong hệ thống, mở khoá 3 thông để theo dõi áp suất của hệ thống,
đun nước sôi ở bình, đồng thời đun nhẹ bình đựng chất cất. Nước ở bình sôi chỉ chứa

16
CHƯƠNG 2. KĨ THUẬT THỰC NGHIỆM
2.1. Dụng cụ, hóa chất và nguyên liệu
2.1.1. Dụng cụ
- Cân kĩ thuật - Bình cầu đáy tròn 1000ml
- Chậu thủy tinh - Hệ thống chưng cất
- Giá đỡ - Bình tam giác 100ml và 500ml
- Đèn cồn - Cốc thủy tinh có mỏ
- Buret 50ml - Phễu chiết
- Pipet 5ml
2.1.2. Hóa chất và nguyên liệu
- Na
2
SO
4
khan - Dung dịch KOH 0,1N; 0,5N
- Dung dịch NaOH 10% - Etanol 96
0

Hình.2.1. Sơ đồ ly trích tinh dầu
2.3. Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng tinh dầu hương nhu trắng
Tinh dầu hương nhu trắng có mùi thơm nồng ấm đặc trưng, màu vàng nhạt.
2.3.1. Khảo sát ảnh hưởng của thời gian chưng cất tinh dầu
Mẫu hương nhu trắng thu vào buổi sáng trong ngày có nắng ở địa bàn tỉnh
Đồng Tháp.
Lấy 300 gam nguyên liệu (toàn cây hương nhu trắng chỉ bỏ rễ) đã được cắt và
xay nhuyễn vào bình cầu đáy tròn 1000ml. Lắp bình cầu vào bộ chưng cất lôi cuốn hơi
nước. Đun nước sôi ở bình đựng nước, đun đều lửa và theo dõi hệ thống qua ống thủy
tinh bình nước sôi, đồng thời đun nhẹ bình đựng chất cất. Theo dõi lượng tinh dầu cất
ra trong 2 giờ. Lặp lại thí nghiệm với khối lượng nguyên liệu 300 gam, thay đổi thời
gian thực hiện là 3 giờ, 4 giờ, 5 giờ và 6 giờ. Tôi thu được kết quả như sau: Xay nhuyễn
Hệ thống chưng cất
Tinh d
ầu v
à nư
ớc

Na
2
SO
4
khan


ớc


Thời gian chưng cất (h)
Hình 2.2. Ảnh hưởng của thời gian chưng cất đến khối lượng tinh dầu
Nhận xét: dựa vào bảng 3.1 và hình 3.1, ta thấy với cùng khối lượng nguyên
liệu 300 gam, thời gian chưng cất thay đổi 2 giờ, 3 giờ, 4 giờ, 5 giờ, 6 giờ: khi thời
gian tăng dần thì hàm lượng tinh dầu tăng dần. Ở thời điểm 4 giờ, hàm lượng tinh dầu
đạt tối ưu vì thời gian chưng cất trên 4 giờ thì hàm lượng tinh dầu tăng không đáng kể.
Vì vậy, tôi chọn thời gian chưng cất là 4 giờ để khảo sát thời điểm thu hái mẫu.
2.3.2. Khảo sát ảnh hưởng của thời điểm thu hái mẫu
Cho 300 gam nguyên liệu (toàn cây hương nhu trắng chỉ bỏ rễ) thu hái tại các
thời điểm khác nhau (vào lúc 8 giờ, 12 giờ 30 phút hoặc 17 giờ) được xay nhuyễn vào
bình cầu đáy tròn và chọn thời gian chưng cất tối ưu là 4 giờ ở trên để chưng cất. Theo
dõi lượng tinh dầu cất ra, tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.2. Hàm lượng tinh dầu theo thời điểm thu hái mẫu
Nguyên liệu (g) 300 300 300
Thời điểm thu hái mẫu (h)

8 12h30

17
Khối lượng tinh dầu (g) 0,83 0,65 0,53
Hàm lượng tinh dầu (%) 0,277 0,217 0,177
19
Khối lượng tinh dầu (g)
0
0.1
0.2
0.3
0.4
0.5
0.6

đi cân được kết quả G
1
. Sau đó, đổ hết nước đi, vẩy cho khô. Hút tinh dầu vào ống
tiêm cũng đến vạch 0,1ml. Đặt ống tiêm ổn nhiệt ở 25
0
C rồi đem cân được kết quả G
2
.
Tiến hành 3 lần, ghi giá trị trung bình.
Tính kết quả:
20
2
1
G G
d
G G




G – Khối lượng của ống tiêm không, tính bằng (g)
G
1
– Khối lượng của ống tiêm khi có nước (g)
G
2
– Khối lượng của ống tiêm khi có tinh dầu (g)

Chỉ số xà phòng là số miligam KOH cần thiết để trung hòa tất cả các axit tự do
và axit kết hợp dưới dạng este trong 1 gam chất béo.
- Cách tiến hành: lấy 2 eclen 100ml dán nhãn là bình 1 và bình 2.
+ Cho vào bình 1 (bình kiểm tra) 1ml nước cất và 15ml KOH 0,5N.
+ Cho vào bình 2 (bình thí nghiệm) 1g tinh dầu và 15ml KOH 0,5N.
Đun sôi 2 bình trong nồi cách thủy trong 50 phút, sau đó để nguội. Thêm vào
mỗi bình 15ml nước cất và 3 giọt phenolphtalein, lắc đều, dung dịch có màu hồng.
21
Chuẩn độ 2 bình bằng dung dịch HCl 0,5N đến khi mất màu hồng. Tiến hành chuẩn độ
3 lần, ghi thể tích HCl đã chuẩn độ, lấy giá trị trung bình.
- Tính kết quả:
T K
X
(V -V )×28,05
I =
g

Trong đó:
I
X
: chỉ số xà phòng (mgKOH/g).
V
T
: số ml HCl 0,5N chuẩn độ bình thí nghiệm (ml).
V
K
: số ml HCl 0,5N chuẩn độ bình kiểm tra (ml).
g: khối lượng tinh dầu đem phân tích.
28,05: số mg KOH tương đương với 1ml KOH 0,5N.


A
)
Chỉ số xà
phòng
(I
x
)
Chỉ số este
(I
E
)
Chỉ số khúc
xạ
(n
26.5
)
Giá trị 1.1656 0.75 11.34 11.45 1.5025
Các chỉ số hóa lý được tính từ thực nghiệm với tỉ trọng như trên cho thấy tinh dầu
hương nhu trắng nặng hơn nước, chỉ số axit trong khoãng cho phép tiêu chuẩn Việt
Nam (0,5-0,8) do đó tinh dầu hương nhu đảm bảo an toàn sử dụng.
3.2. Khảo sát thành phần một số hợp chất trong tinh dầu hương nhu trắng
Sau khi thu được tinh dầu, chúng tôi tiến hành xử lý để loại nước và phần bã.
Qua kết quả kiểm tra cảm quan về tinh dầu hương nhu nhận thấy tinh dầu có phẩm
chất tốt, trong suốt, màu vàng có mùi thơm đặc trưng và nặng hơn nước. Mẫu tinh dầu
được gửi xác định bằng phổ GC/MS ở Viện Công nghệ Hóa học Thành Phố Hồ Chí
Minh. Máy đo là sắc kí khí ghép khối phổ (GC-MS) Hewlett-packard HP 6890N, cột
HP-5MS (dài 30mm; đường kính cong 0,25mm; lớp phim dày 0,25m), liên hợp với
HP 5973, khí mang He. Thư viện phổ NIST (1998). Kết quả thu được như sau:

Hình 3.1. Sắc kí đồ tinh dầu hương nhu trắng

16

4 9.51 0,61 (3Z)-3,7-dimethylocta-1,3,6-triene C
10
H
16

5 11.68 4,20 3,7-dimethylocta-1,6-dien-3-ol C
10
H
18
O
6 13.29 0,43 # #
7 13.48 0,28
(3Z)-2-(hex-1-yn-1-yl)-3-
(methoxymethylidene)oxirane
C
10
H
14
O
2
8 13.58 0,98 # #
9 13.76 1,05
1-[2-methyl-5-(prop-1-en-2-
yl)cyclopentyl]ethanone
C
10
H
16


16 19.57 31,08 1,2-dimethoxy-4-(prop-2-en-1-yl)benzene C
11
H
14
O
2
17 20.48 0,27
(6,6-dimethylbicyclo[3.1.1]hept-2-yl)methyl
acetate
C
12
H
20
O
2
24
18 21.49 0,22 (2Z)-(3,3-dimethylcyclohexylidene)ethanal C
10
H
16
O
19 23.14 4,17 (2Z)-3,7-dimethylocta-2,6-dienal C
10
H
16
O
20 23.23 0,18
4-ethoxy-2,6,6-trimethylbicyclo[3.1.1]hept-
2-ene

1-ethenyl-1-methyl-2,4-di(prop-1-en-2-
yl)cyclohexane
C
15
H
24

26 25.25 3,16 (2E)-3,7-dimethylocta-2,6-dienal C
10
H
16
O
27 25.76 4,11
(4Z)-4,11,11-trimethyl-8-
methylidenebicyclo[7.2.0]undec-4-ene
C
15
H
24

28 26.48 1,03
2,6-dimethyl-6-(4-methylpent-3-en-1-
yl)bicyclo[3.1.1]hept-2-ene
C
15
H
24

29 26.78 0,27
(2E)-1,1-diethoxy-3,7-dimethylocta-2,6-

24

33 30.16 0,26
4,7-dimethyl-1-(propan-2-yl)-1,2,4a,5,8,8a-
hexahydronaphthalene
C
15
H
24

34 31.00 2,44
(1Z,4Z,7Z)-1,5,9,9-tetramethylcycloundeca-
1,4,7-triene
C
15
H
24

35 32.55 0,63
4,12,12-trimethyl-9-methylidene-5-
oxatricyclo[8.2.0.0
4,6
]dodecane
C
15
H
24
O
25
Theo sắc kí đồ có 35 điểm pic tương ứng với việc có 35 cấu tử được nhận danh,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status