Nông thôn Việt Nam dưới triều vua Gia Long ( 1802 1820) - Pdf 22


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HOÀNG THỊ HUYỀN VŨ NÔNG THÔN VIỆT NAM
DƢỚI TRIỀU VUA GIA LONG (1802 – 1820)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thái Nguyên, 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

i

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS. TS
Nguyễn Thị Phương Chi đã tận tình hướng dẫn và động viên tinh thần cho tác
giả trong quá trình hoàn thành luận văn.
Tác giả xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử trường
ĐHSP Thái Nguyên, Phòng tư liệu Viện sử học Việt Nam, Thư viện Quốc
gia… đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành
luận văn này.
Tác giả xin cảm ơn những đánh giá, nhận xét của Hội đồng khoa học bảo
vệ luận văn.

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013
Tác giả Hoàng Thị Huyền Vũ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CẤU TRÚC XÃ HỘI – CHÍNH TRỊ Ở NÔNG THÔN
VIỆT NAM THỜI GIA LONG 12
1.1. Bối cảnh chính trị, xã hội Việt Nam thời Gia Long 12
1.2. Tổ chức chính quyền ở nông thôn. 21
1.3. Các tầng lớp xã hội ở nông thôn 26
Tiểu kết 27
Chƣơng 2. KINH TẾ Ở NÔNG THÔN THỜI GIA LONG 29
2.1. Chế độ ruộng đất của làng xã ở nông thôn 29
2.2. Sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. 43
2.3. Nghề thủ công và buôn bán nhỏ. 54
2.4. Giao thông và phương tiện đi lại. 60
Chƣơng 3. VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN THỜI GIA LONG 63
3.1. Phong tục, tập quán và tín ngưỡng, tôn giáo ở nông thôn 63
3.2. Nghệ thuật và giáo dục ở nông thôn 68
3.3. Nhà ở, ăn, mặc của người dân ở nông thôn 72
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 89
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

2
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII: Phát triển nông - lâm – ngư nghiệp
gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây
dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh
tế - xã hội , phát triển một số ngành công nghiệp nặng trước hết để phục vụ
cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp,
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII: Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư
nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp và nông thôn Tiếp tục phát triển và đưa nông, lâm, ngư
nghiệp lên một trình độ mới
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: Đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông
nghiệp, nông thôn và nông dân Phát triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp
toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn
đề nông dân, nông thôn.
Như vậy, từ thực tiễn và yêu cầu phát triển của đất nước, nhận thức của
Đảng và Nhà nước là ngày càng quan tâm chú ý tới phát triển nông nghiệp,
nông dân, nông thôn trong tổng thể sự phát triển chung của đất nước. Vì sao
vậy? điều đó không chỉ bởi nông dân là một lực lượng quan trọng của cách
mạng và hiện còn đang chiếm tỷ lệ lớn trong dân số, mà chính nông nghiệp,
nông dân Việt Nam luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong sự
nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Nông nghiệp đã mở đường trong quá
trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan
trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Việt Nam là nước có nền kinh tế nông nghiệp đóng vai trò then chốt. Đi


4
Trong số các nguồn tư liệu đề cập đến tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa,
giáo dục …thời Nguyễn, trước tiên phải kể bộ quốc sử, sách, địa chí do Quốc sử
Quán triều Nguyễn biên soạn như: Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội
điển sự lệ, Minh Mệnh chính yếu, Đại Nam nhất thống chí, Quốc triều chính biên,
Việt sử thông giám cương mục, “Đại Nam thực lục”, xuất bản năm 2007 – là bộ
biên niên sử do Quốc sử Quán triều Nguyễn biên soạn. Bộ sử gồm hai phần
Tiền biên và Chính biên, biên soạn dưới thời Tự Đức và các đời vua sau tiếp
tục bổ sung cho đến triều vua Khải Định. Bộ sử ghi chép những sự kiện quan
trọng xảy ra trên khắp cả nước trong thời gian một năm, một tháng, một ngày,
cung cấp cho người đọc những tư liệu lịch sử quan trọng xảy ra trong cả nước
trên tất cả các mặt. Bên cạnh đó, tác phẩm đã cung cấp những tư liệu lịch sử
quan trọng và khá toàn diện giúp người đọc hiểu được tình hình nông thôn Việt
Nam đây là nguồn tư liệu gốc chính mà tác giả sử dụng chủ yếu trong quá trình
làm luận văn. Tuy nhiên, do cách viết theo lối biên niên cho nên những vấn đề
nghiên cứu nằm rải rác ở nhiều tập sách khác nhau nên khó theo dõi.
Bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” do Nội Các triều Nguyễn biên
soạn dưới thời Thiệu Trị (1843) và hoàn thành dưới triều Tự Đức (1851). Bộ
sách này cho chúng ta cái nhìn toàn diện về tình hình, kinh tế, chính trị, xã hội
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.
Cuốn “Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước1858
(sơ khảo)”, của tác giả Trần Văn Giàu, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1958. Tác phẩm
nghiên cứu khá toàn diện mọi mặt của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước
năm 1858 về chính trị, kinh tế, xã hội…
Tác giả Trần Trọng Kim với tác phẩm “Việt Nam sử lược”, NXB Tổng
hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005 (in lần thứ năm). Tác phẩm nghiên cứu
lịch sử Việt Nam từ thời thượng cổ đến khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách
cai trị trên nước ta (1902). Tác giả biên soạn lịch sử theo thứ tự thời gian các
triều đại, trong từng triều đại tác giả không ghi chép sự kiện theo trình tự thời

ruộng đất khẩn hoang dưới thời Nguyễn” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

6
sử, số 5/6/1987 đã đề cập đến vấn đề sở hữu ruộng đất trực tiếp của nhà nước,
trong đó có vấn đề sở hữu ruộng đất đồn điền và tô thuế đối với ruộng đất này.
Năm 1997, hai tác giả Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang đã xuất bản tác
phẩm: “Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều
Nguyễn”, NXB Thuận Hóa. Tác giả vẽ lại bức tranh cụ thể về tình hình nông
nghiệp và đời sống nông dân dưới các vua triều Nguyễn.
Năm 1980, tác phẩm “Lịch sử Việt Nam, tập 2 (1427 – 1858)” của tác
giả Nguyễn Phan Quang, Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh, NXB Giáo
Dục. Năm 1990, cuốn “Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại, tập 1” của
Viện sử học, NXB Khoa học xã hội Hà Nội. Đã có những tư liệu bổ ích về kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hóa… cho tác giả trong việc nghiên cứu vấn đề này.
Về kinh tế có các công trình nghiên cứu sau: Kinh tế thương nghiệp Việt
Nam dưới triều Nguyễn. NXB Thuận Hóa (1977) của tác giả Đỗ Bang. Kinh tế
thủ công nghiệp và phát triển công nghệ dưới triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa
(1998) của tác giả Bùi Thị Tân và Vũ Huy Phúc. Kinh tế và xã hội Việt Nam
dưới các vua triều Nguyễn. NXB Văn học (2008). Làng nghề thủ công huyện
Thanh Oai (Hà Nội), NXB Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội của
tác giả Bùi Xuân Đính (Chủ biên) (2009), đã cung cấp cho tác giả những tư liệu
quý về tình hình kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp thời Nguyễn nói
chung và thời Gia Long nói riêng.
Về chính trị- xã hội có các công trình nghiên cứu sau: Kinh nghiệm tổ
chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội của tác giả Phan Đại Doãn (chủ biên) (1994). Một số vấn đề về quan chế
triều Nguyễn. NXB Thuận Hóa (1997) của tác giả Phan Đại Doãn và Nguyễn
Ngọc Quỳnh.
Ở mảng đề tài về văn hóa có các công trình nghiên cứu sau: Việt Nam

Đại học Sư phạm Hà Nội. Đây là công trình tập hợp nhiều bài nghiên cứu của
các nhà sử học và nhiều nhà giáo giảng dạy lịch sử Việt Nam thời đại nhà
Nguyễn (1802 – 1945). Sự tồn tại của nhà Nguyễn suốt 143 năm trong dòng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

8
chảy lịch sử dân tộc đã gây ra nhiều tranh cãi trong giới sử học nói riêng và
trong giới khoa học xã hội Việt Nam nói chung. Từ những cách tiếp cận khác
nhau đã tạo ra cái nhìn và đánh giá vai trò của triều Nguyễn cũng khác nhau.
Tác phẩm giúp người đọc có cái nhìn khách quan về lịch sử triều Nguyễn, tuy
nội dung của đề tài tác giả không được đề cập nhiều song cũng giúp người viết
có những quan điểm và nhận định đúng đắn, khách quan hơn về triều Nguyễn.
Năm 2008, Kỷ yếu hội thảo khoa học về Chúa Nguyễn và vương triều
Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, tại Thanh Hóa,
tháng 10 năm 2008, NXB Thế giới cũng giành một số ít trang viết tình hình
giáo dục, thi cử với bài viết của Tiến sĩ Hoàng Thanh Hải có nhan đề giáo dục
khoa cử Thanh Hóa từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, bài viết của Tiến sĩ Hà Mạnh
Khoa: Vài nét về chính sách đào tạo và tuyển dụng và sử dụng nhân tài thời
Nguyễn. Viết về tư tưởng, tôn giáo có các bài của các tác giả như: Triều
Nguyễn với chính sách cấm đạo thiên chúa của Tiến sĩ Mai Thị Phú Phương,
bài viết: Mấy nhận xét về Nho giáo thời Nguyễn của PGS. TS Chương Thâu.
Về bộ máy hành chính làng xã với nhan đề Bộ máy hành chính làng xã thời
Nguyễn (nửa đầu thế kỉ XIX) của PGS.TS Vũ Duy Mền. Ngoài những công
trình chuyên khảo kể trên cũng có rất nhiều giáo trình khác cũng góp phần đề
cập một cách gián tiếp đến tình hình nông thôn Việt Nam triều Nguyễn như
cuốn: Tiến trình lịch sử Việt Nam (Nguyễn Quang Ngọc chủ biên), cuốn Lịch
sử Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1858 (Trương Hữu Quýnh chủ biên), giáo
trình Lịch sử Việt Nam (tập 3) của Nguyễn Cảnh Minh chủ biên….
Về Nam Bộ thời Nguyễn có các công trình nghiên cứu sau: Văn hóa dân
gian người Việt Nam bộ, NXB Khoa học và xã hội (1992) Nhiều tác giả. Chế

Về thời gian: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu tình hình kinh tế chính trị, xã hội,
văn hóa ở nông thôn Việt Nam thời vua Gia Long từ năm 1802 đến năm 1820.
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình kinh tế, chính trị,
xã hội và văn hóa nông thôn trên phạm vi cả nước Đại Nam thời kỳ trị vì của
vua Gia Long .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

10
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ nội dung sau:
- Đề tài đi sâu vào nghiên cứu nội dung kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa
của thời Nguyễn dưới thời trị vì của vua Gia Long (1802 – 1820). Trên cơ sở đó
rút ra một số nhận xét, đánh giá về nông thôn Việt Nam đầu thời Nguyễn.
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để nghiên cứu về vấn đề nông thôn Việt Nam thời Gia Long (1802 –
1820), tác giả dựa vào một số nguồn tư liệu chủ yếu sau đây:
- Các loại tư liệu gốc: bao gồm các bộ sử của vương triều Nguyễn biên
soạn, trong đó quan trọng nhất là bộ “Đại Nam thực lục”, NXB Giáo Dục, Hà
Nội, 2007. Bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” do Viện sử học dịch của
NXB Thuận Hóa, Huế, xuất bản năm 2005. Bộ Minh Mệnh chính yếu, bộ Quốc
triều chính biên biên toát yếu….
Ngoài ra, cũng có các công trình sử học khác như “Đại Việt sử kí toàn
thư” do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn; bộ “Khâm định Việt sử
thông giám cương mục” của Quốc sử Quán triều Nguyễn; “Lịch triều hiến
chương loại chí” của Phan Huy Chú; bộ “Đại Nam nhất thống chí ” của Quốc
sử quán triều Nguyễn….
Các giáo trình, sách chuyên khảo về nhà Nguyễn. Các bài nghiên cứu
trên các tạp chí chuyên ngành như: Nghiên cứu lịch sử, Dân tộc học…Ngoài ra,
một số tư liệu và thông tin về lịch sử triều Nguyễn trên mạng Internet.

6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục phần
nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chƣơng 1: CẤU TRÚC XÃ HỘI - CHÍNH TRỊ Ở NÔNG THÔN VIỆT
NAM THỜI GIA LONG
Chƣơng 2: KINH TẾ Ở NÔNG THÔN THỜI GIA LONG
Chƣơng 3: VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN THỜI GIA LONG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

12

Chƣơng 1
CẤU TRÚC XÃ HỘI – CHÍNH TRỊ Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
THỜI GIA LONG

1.1. Bối cảnh chính trị, xã hội Việt Nam thời Gia Long
Năm 1802, sau khi đánh bại phong trào Tây Sơn, làm chủ toàn bộ lãnh
thổ đất Đàng Trong và Đàng Ngoài cũ, Nguyễn Ánh tự đặt niên hiệu là Gia
Long lập ra nhà Nguyễn. Các vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802 – 1819),
Minh Mạng (1820 - 1840) đến Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883) kế
tiếp nhau xây dựng đất nước.
Gia Long lên ngôi đã thừa hưởng một đất nước thống nhất từ mục Nam
Quan đến Mũi Cà Mau do công sức bảo vệ, mở mang, khai phá của nhiều thế
hệ, đặc biệt là ở phía Nam dưới thời các chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng
(1556-1613) đến Nguyễn Phúc Thuần (1765-1776). Lãnh thổ nước ta cho đến
cuối thế kỉ XVIII được chia thành nhiều lộ, trấn, dinh có thay đổi tách nhập ít
nhiều bao gồm 24 trấn, lộ, dinh và một phủ Trung Đô (Thăng Long).
Để xây dựng một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền quản lý có
hiệu lực quốc gia thống nhất gồm các đơn vị hành chính trên, ngay từ đầu
vương triều Nguyễn Gia Long phải đương đầu với nhiều khó khăn lớn. Trước

Ở phía Bắc – Đàng Ngoài, tư tưởng “hoài Lê” vẫn còn in dấu khá đậm
trong tâm tư tình cảm của người dân Bắc Hà, đặt biệt là hàng ngũ quan lại cựu
triều và những trí thức nho sĩ cũ. Gia Long lên ngôi, không phải ông không
nhận thức được vấn đề này – tư tưởng “hoài Lê” là một cản trở rất lớn đối với
ông trên con đường xây dựng chế độ mới.
Gia Long cùng với những quần thần của ông không phải là không có
nhiều mưu lược trong việc chinh chiến giành quyền đế vương, nhưng bước vào
công cuộc xây dựng chính quyền mới đã gặp nhiều lúng túng, thậm chí còn
thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức, xây dựng đất nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

14
Ở buổi ban đầu xây dựng chính quyền, vì việc phải trả “món nợ” cũ cho
những người nước ngoài đã từng giúp nhiều cho ông trong công cuộc tranh
giành quyền lực từ nhà Tây Sơn, Gia Long đã phải chấp nhận cho một số người
Pháp vào làm quan trong triều đình nhà Nguyễn như Jean Baptiste Chaigneau
Philippe Vannier De Forsans và Despians những người này được Gia Long đãi
ngộ hậu hĩnh và phong cho những chức võ quan cao cấp, rồi cấp thêm cho họ
mỗi người một đội lính hầu gồm 50 người được toàn quyền sai phái. Tuy được
đãi ngộ hậu hĩnh và làm quan trong triều đình nhà Nguyễn, nhưng dù thế nào đi
chăng nữa thì họ vẫn không thể quên được “mẫu quốc” và chỉ chờ có cơ hội
thuận lợi là tinh thần “ái quốc” của họ sẽ trỗi dậy. Đây phải chăng là một trong
những mầm họa sau này đối với triều đình Nguyễn.
Đối với những người phò tá Gia Long trước khi lên ngôi, có nhiều công
lao chinh chiến chống lại Tây Sơn, bên cạnh việc thưởng công, Gia Long cũng
cất nhắc họ vào làm quan trong triều đình, càng làm gia tăng số quan lại xuất
thân từ hàng võ trong buổi đầu xây dựng chính quyền.
Ngoài số này ra, Gia Long muốn thu dụng nhân tài, trong buổi đầu
không còn cách nào khác, đã hạ lệnh cho các bộ, viện trong triều đều được đề
cử những người mình biết để bổ vào các ty ở bộ các viện Hàn lâm và Thị

quan cho giặc, mà ôm đức giữ tài để chờ thời cơ. Nay đảng giặc dẹp yên, võ
công cả định, chính là buổi đầu chấn hưng văn hóa, xây dựng trị bình. Nhân
tài trong đời há chịu cùng với cỏ cây mục nát sao? Vậy nên báo cáo cho nhau,
đều đến hành tại để bọn Chưởng tiền quân Nguyễn Văn Thành, Lể bộ Đặng
Đức Siêu, Tán Lý Đặng Trần Thường, Tham tri Đặng Như Đăng, Học sĩ
Nguyễn Văn Viên, lần lượt dẫn vào yết kiến. Ta sẽ nghe lời nói thử việc làm,
tùy tài bổ dụng, cho người hiền được có vị, người tài được có chức, đẹp lòng
nghĩ, chia mưu làm, để cùng nên đạo trị nước” [61, tr.507]. Nhân có lời chiếu
dụ như vậy, những người ở Bắc Hà đã “tranh nhau ra giúp việc” và đã có hàng
loạt người đứng vào hàng ngũ quan lại của triều đình Nguyễn trong buổi đầu
như: Nguyễn Duy Hợp làm Thị trung trực học sĩ, lãnh chức Hiệp trấn Kinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

16
Bắc, Lê Duy Đảng làm Kim Hoa điện trực học sĩ, lãnh chức Hiệp trấn Lạng
Sơn. Lê Duy Trầm, Ngô Xiêm và Nguyễn Đình Tứ làm Thái hòa điện học sĩ,
Nguyễn Đường làm Kim hoa điện học sĩ, Phạm Tích, Võ Trinh làm Thị trung
học sĩ; Vũ Đình Tử, Nguyễn Huy Thảng làm Cẩm chính điện học sĩ… Trong số
những người này chỉ có một người là Hương cống còn toàn bộ đổ Tiến sĩ.
Ngoài ra còn một số nho sĩ khác ở Bắc Hà khi nghe tin Gia Long trọng
dụng trở lại, đã dâng trình phong bì kín và được tuyển dụng tới 32 người, trong
đó có: Phan Chính Thể, Nhữ Công Thiệu, Nguyễn Duy Cung, Bùi Phổ
Như vậy số quan lại cựu triều xuất thân từ khoa bảng đã gia nhập hàng
ngũ quan lại của triều đình nhà Nguyễn với một số lượng tương đối lớn và đa
phần họ lại có học vấn hơn số quan lại xuất thân từ hàng võ thân cận với Gia
Long. Đây cũng là một vấn đề tương đối nan giải đối với Gia Long.
Thực ra Gia Long muốn dùng người của mình vào làm ở chính quyền
mới, nhưng một phần vì chưa đủ, một phần vì chưa có thời gian để đào tạo
tuyển dụng quan lại lớp mới và quan trọng hơn là xét về nhân tình thế thái lúc
đó Gia Long không thể nào làm khác hơn được mà phải tiếp tục sử dụng không

Như vậy là tuy được thừa hưởng một thành quả to lớn của Phong trào
nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước là làm chủ một đất
nước thống nhất từ ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, nhưng triều Nguyễn đã phải
tồn tại trong một bối cảnh xã hội hết sức đặc biệt của đất nước vào đầu thế kỉ
XIX. Đó là những hậu quả về mặt chính trị hết sức nặng nề như đã nêu ở trên.
Mặc dù vậy, ở thời kỳ đầu, các vua triều Nguyễn tỏ ra hết sức cố gắng và có nhiều
đóng góp đáng kể trong công cuộc kiện toàn bộ máy hành chính quốc gia.
Trước những khó khăn chồng chất đó, Gia Long đã chọn Phú Xuân, đặt
dinh Quảng Đức tách từ trấn Thuận Hóa làm kinh đô. Trên cơ sở các đơn vị
hành chính đã có, Gia Long sắp đặt lại. Lấy Phú Xuân làm trung tâm, Gia Long
đặt miền Trung từ Thanh Hoa ngoại đến Bình Thuận dưới quyền quản lý trực
tiếp của triều đình. Phía Bắc từ Sơn Nam hạ trở ra bao gồm 11 trấn gọi là Bắc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

18
Thành. Phía Nam từ Trấn Biên trở vào gồm 5 biên, trấn gọi là Gia Định thành,
do một viên võ quan đại thần đứng đầu với chức danh Tổng trấn, có Hiệp trấn,
Phó Tổng trấn giúp việc thay mặt nhà vua quản lý mọi việc. Ngoài ra ở mỗi
thành còn có ba tào: Binh, Hộ, Hình chia nhau chuyên trách từng phần kiêm cả
Lại, Lễ, Công.
Dưới thời Gia Long, bộ máy nhà nước Nguyễn về cơ bản kế thừa mô
hình tổ chức trước đó. Ở cấp trung ương đặt đủ sáu bộ gồm: Lại, Hộ, Lễ, Binh,
Hình, Công do thượng thư đứng đầu, cấp phủ có Tả Tham tri và Hữu Tham tri
và bộ phận giúp việc như Thiêm sự, Câu kê, Cai hợp…Tại triều đình có một số
cơ quan chức năng khác như Quốc tử giám, Viện hàn lâm, Viện thái y…
Ở các cấp hành chính địa phương dưới thời Gia Long và đầu thời Minh
Mạng hầu như không có thay đổi đáng kể nào so với trước. Cả nước chia thành
27 doanh (Đàng Trong cũ) và trấn (Đàng Ngoài cũ) Đàng ngoài cũ gồm 13
doanh trấn và một phủ Phụng Thiên (năm 1805 đổi là phủ Hoài Đức). Đàng
Trong có 14 doanh (năm 1808) đổi hầu hết thành trấn trừ doanh Quảng Đức

Dưới trấn, dinh là các phủ, huyện, tổng, xã. Đứng đầu là các chức Tri
phủ, Tri huyện, Cai Tổng và Xã trưởng, cơ bản chưa có thay đổi so với trước.
Thời Gia Long, mỗi phủ, huyện đều có hai viên Tri phủ, Tri huyện đứng đầu.
Đối với dân tộc thiểu số buổi đầu nhà Nguyễn vẫn duy trì cơ cấu tổ chức
truyền thống và sử dụng đội ngũ tù trưởng cai quản các vùng thiểu số. (Từ thời
Minh Mạng nhằm tiến tới sự thống nhất về mặt hành chính, tăng cường quyền
kiểm soát của nhà nước hạn chế thế lực của các thổ tù, hàng loạt cải cách quan
trọng được thi hành). Khi nhà Nguyễn mới được thiết lập, quan lại phần lớn là
những người từng theo Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn, trong đó chủ yếu
là các võ quan. Về sau việc tuyển chọn quan lại chủ yếu thông qua khoa cử.
Năm 1807, Gia Long mở khoa thi hương đầu tiên. Phần lớn những người đổ đạt
đều được bổ dụng vào các chức vụ của bộ máy nhà nước và trở thành bộ phận
nòng cốt của nền hành chính quốc gia.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

20
Pháp luật: trong những năm đầu mới cầm quyền, Gia Long sai đình thần
tham khảo bộ luật Hồng Đức triều Lê sở định ra một số điều lệ về kiện tụng, về
trừng phạt quan lại nhũng nhiễu dân, ăn hối lộ. Năm 1811 Gia Long ban chỉ dụ
“bọn khanh (các đình thần soạn thảo bộ luật mới của triều đình nhà Nguyễn)
nên hết lòng khảo xét những pháp lệnh điển lệ của triều đình, tham hợp luật với
điều luật đời Hồng Đức và nước Đại Thanh, lấy bỏ cân nhắc mà làm thành
sách. Trẫm sẽ tự sửa chửa cho đúng để ban hành [61, tr. 808]. Năm 1815, bộ
luật được ban hành, gồm có 398 điều, chia làm 22 quyển. Tên là Hoàng triều
luật lệ (còn gọi là Hoàng Việt luật lệ hay luật Gia Long). Cách cấu trúc của luật
Gia Long giống phần nào trong cấu trúc của bộ luật Hồng Đức.
Mặc dù trong một số không nhiều điều luật của bộ luật Gia Long có tham
khảo bộ luật Hồng Đức thời Lê sơ như một số điều luật về bộ máy quan lại, về
việc xử lí và trừng phạt các quan lại nhũng nhiễu, hạch sách, đục khoét dân
chúng, ăn hối lộ, nhưng một số điều luật tích cực, tiến bộ của luật Hồng Đức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status