TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
oOo
TIỂU LUẬN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Đề tài:
HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ MỚI TRONG NÔNG NGHIỆP
Ở VIỆT NAM
GVHD: PGS.TS. Đinh Phi Hổ
HVTH: Lê Thị Mỹ Tiên
Lớp: KTPT Đêm – Khóa: K21
Tp. Hồ Chí Minh, năm 2013
1. Đặt vấn đề:
Đến thời điểm này, quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam diễn ra một
cách mạnh mẽ. Bên cạnh nỗi lo cạnh tranh của các doanh nghiệp, nông dân nước ta cũng
đang đứng trước một thách thức không nhỏ. Nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng
nông sản hàng hóa là biện pháp sống còn để hội nhập, trong đó, không thể thiếu vai trò
của công nghệ. Làm thế nào để đưa sản phẩm công nghệ đến tay nông dân là một thực tế
gắt gao đang đặt ra. Theo đánh giá của các nhà khoa học, trong vòng 5 năm gần đây,
công nghệ đã đóng góp khoảng 30% trong giá trị tăng trưởng của nông nghiệp ở nước ta.
Trên cơ sở xây dựng mối liên kết giữa các nhà khoa học và nông dân, các cơ quan nghiên
cứu đã nắm bắt được những đòi hỏi của thực tế sản xuất và nhu cầu của xã hội, nên đã có
những định hướng nghiên cứu phù hợp và thu được những thành tựu nổi bật. Khoa học -
công nghệ đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả, năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, kinh phí đầu tư cho khoa học -
công nghệ đang ngày càng được chú trọng. Tuy nhiên, thực tế hoạt động khoa học - công
nghệ vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và còn có sự thấp kém so với các nước trong khu vực.
Việt Nam được thế giới biết đến là một nước nông nghiệp với những bước tiến
vượt bậc. Nông nghiệp không chỉ góp phần xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an ninh lương
thực quốc gia mà còn đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản
Nghiên cứu những quan điểm, quy định của pháp luật liên quan đến an ninh lương
thực, đất trồng lúa nước, tiêu chí xác định đất chuyên trồng lúa nước.
Phân tích, đánh giá tổng quan về phát triển nông nghiệp trên thế giới.
Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng các tiêu chí xác định các tiêu chí, biện
pháp áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp.
Nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới trong việcáp dụng khoa học
công nghệ mới vào nông nghiệp.
Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng khoa học kỹ thuật ở nước ta.
Đánh giá tình hình sử dụng khoa học, công nghệ mới của nông dân hiện nay.
Đề xuất các tiêu chí, các biện pháp ưu việt hơn trong quá trình phát triển nông
nghiệp gắn liền với khoa học kỹ thuật.
Đánh giá hiệu quả kinh tế khi áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp.
3. Tổng quan lý thuyết:
Áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp là hướng đi tất yếu để có một
nền nông nghiệp hiện đại, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, cho đến nay,
các mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta vẫn chưa nhiều; còn ít doanh nghiệp
tham gia; nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước chưa đi vào thực tiễn
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu trong phát triển nông nghiệp, nhưng việc ứng
dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún, chưa có định hướng
cụ thể và đồng bộ. Sản phẩm nông nghiệp làm ra chưa ổn định về số lượng và chất lượng,
giá thành cao, khó cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Do đó, việc phát triển
nông nghiệp công nghệ cao là rất cần thiết, nhằm tạo ra những bước đột phá mới trong
sản xuất nông nghiệp, đưa nền nông nghiệp nước ta chuyển nhanh theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Với một đất nước nông nghiệp, có hơn 70% dân số sinh sống ở nông thôn cũng
như lao động nông nghiệp, để phát triển nông nghiệp công nghệ cao cần đề ra các tiêu chí
và có những giải pháp, chính sách cụ thể trong từng lĩnh vực, từ trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi, đến bảo quản và chế biến sản phẩm
Lâu nay, thu hút đầu tư vào nông nghiệp hạn chế, nhất là nông nghiệp công nghệ
cao, vì vậy phải có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút các nhà khoa học, cũng như
Sự xuất hiện của khu nông nghiệp công nghệ cao sẽ tạo ra môi trường thích hợp
cho những sáng tạo khoa học và công nghệ đào tạo nhân lực cho ngành sản xuất nông
nghiệp công nghệ cao mới, thuận tiện cho sự chuyển hóa tri thức thành sức sản xuất,
thành ưu thế thị trường, tạo cơ hội việc làm và đem lại lợi ích cho đất nước. Phát triển
khu nông nghiệp công nghệ cao góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá nông nghiệp, công
trường hoá các trang trại nông nghiệp, hình thành lớp công nhân nông nghiệp với tác
phong công nghiệp, tay nghề cao, làm chủ được công nghệ mới.
Thời gian qua, sản xuất nông nghiệp ở nước ta phát triển khá nhanh, với những
thành tựu trong các lĩnh vực chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác…, tạo ra khối lượng sản
phẩm, hàng hoá đáng kể góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân.
Áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp sẽ đem lại hiệu quả lớn trong việc
phát triển kinh tế, đem lai lợi ích, cải thiện đời sống cho người nông dân cũng như là lợi
ích cho kinh tế nước nhà.
6. Kết luận:
Thực tế cho thấy, việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ thời gian qua vẫn
còn những vấn đề cần quan tâm giải quyết, đó là có nhiều đề tài khoa học - công nghệ
khảo nghiệm thành công và được nghiệm thu nhưng chưa được áp dụng vào sản xuất, có
những mô hình áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ rất thành công nhưng khó mở rộng
ra sản xuất đại trà do hạn chế nguồn vốn. Do đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ
chuyển giao kết quả của các dự án đã kết thúc vào sản xuất nông nghiệp trên diện rộng.
Bên cạnh đó, lực lượng khoa học - công nghệ trên địa bàn chưa thực sự làm tốt vai
trò “cầu nối” giữa nhà khoa học - công nghệ với nhà sản xuất kinh doanh, nhất là việc
tiếp thu và chuyển giao các công nghệ từ bên ngoài vào còn thiếu sự tác động tích cực
của các nhà khoa học - công nghệ, nên một số cơ sở sản xuất đã nhập về những công
nghệ ít mang lại hiệu quả cao. Do đó, cần có hệ thống chính sách liên kết nhiều “nhà”
tham gia sản xuất kỹ thuật cao. Chẳng hạn, trong lĩnh vực nông nghiệp cần tập hợp nông
dân trong từng vùng sản xuất để xây dựng “Cụm liên kết sản xuất theo nông nghiệp kỹ
thuật cao” hoặc những hợp tác xã nông nghiệp có khả năng tạo ra những sản phẩm có
thương hiệu mạnh, đồng thời đẩy mạnh công tác tập huấn cho nông dân về kỹ năng sử
dụng máy móc, đào tạo các ngành nghề cơ khí nông nghiệp theo mô hình liên kết 4 nhà:
người và áp dụng khoa học - công nghệ có hiệu quả. Đây là động lực chính cho tăng
trưởng nông nghiệp tương lai, tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng của nông sản;
tăng khả năng cạnh tranh ở trong nước và ngoài nước.
Công nghệ cao là hướng đi duy nhất để nâng cao giá trị gia tăng của nông sản
hàng hóa, khi mà các động lực khác cho phát triển như đất đai, lao động đều bị giới hạn.
Vì vậy, nếu doanh nghiệp không tham gia vào quá trình này e rằng sẽ khó thành công.
Tuy nhiên, do nông nghiệp là lĩnh vực rủi ro cao, phụ thuộc lớn vào vùng nguyên liệu và
thời tiết…nên Đảng và Chính phủ cần rà soát, ban hành đồng bộ các chính sách để thu
hút doanh nghiệp về nông thôn.
Thứ hai, có chính sách bảo hộ hợp lý đối vối nông sản trên cơ sở tuân thủ các quy
định của WTO cùng các chính sách hỗ trợ khác. Chính sách hỗ trợ trong nông nghiệp
gồm 2 loại: hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu. Nông dân Việt Nam vẫn cần tiếp tục
nhận được những hỗ trợ khác để giúp đỡ họ trong phát triển sản xuất nông sản nhằm xóa
đói giảm nghèo. Nhà nước cần hỗ trợ mạnh cho các hợp tác xã, hội nông dân để giúp các
tổ chức này hoạt động tốt trong vai trò cung ứng vật tư nông nghiệp thiết yếu, đào tạo,
dạy nghề, cung cấp thông tin, hỗ trợ kinh phí, điều kiện sinh hoạt, buôn bán xuất khẩu
nông sản, bảo vệ lợi ích của người nông dân.
Thứ ba, cần xem xét và thực hiện có hiệu quả chính sách dồn điền đổi thửa.
Nghiên cứu cho thấy, diện tích ruộng đất bình quân ở Việt Nam chỉ có 0,6 ha/hộ vào loại
thấp nhất thế giới. Tình trạng này dẫn đến sản xuất phân tán manh mún, năng suất không
cao, không hiệu quả. Chính sách dồn điền đổi thửa cho phép xử lý vấn đề đất đai manh
mún, song cần có những tác động hỗ trợ cần thiết của Chính phủ trong tiến trình này và
nên tiến hành từng bước tích tụ ruộng đất gắn với phân công lại lao động trong nông
thôn, nông nghiệp trên cơ sở phát triển kinh tế hộ gia đình.
Thứ tư, tạo điều kiện cho nông dân, khu vực kinh tế tập thể, doanh nghiệp nông
nghiệp mở rộng sản xuất, Nhà nước cũng cần sớm rà soát, điều chỉnh để nâng cao chất
lượng tín dụng nông nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để nông dân, các doanh
nghiệp nông nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn. Vì hiện nay, tuy đã có chính sách về
vấn đề này, nhưng còn chưa đồng bộ, nhiều điểm thiếu hợp lý. Điển hình như Nghị định
41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thì