Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển đa dạng và phức tạp của các hoạt động sản xuất kinh
doanh đòi hỏi phải có những hình thức và phơng pháp quản lý, kiểm soát phù hợp
để khắc phục những mặt trái của nó. Kiểm toán nội bộ ra đời là một trong những
xu hớng tất yếu để khắc phục những mặt trái đó. Nó là một trong những yếu tố
góp phần đảm bảo, duy trì tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực trong các
hoạt động kinh tế của các đơn vị, các doanh nghiệp thuộc các ngành ở các lĩnh vực
khác nhau trong xã hội.
Kiểm toán nội bộ ngày càng đợc hoàn thiện cùng với sự phát triên của công
tác kế toán. Sự ra đời và phát triển ngày càng mạnh mẽ của hệ thống kiểm toán nội
bộ đã và đang khẳng định vai trò cần thiết của nó trong nền kinh tế thị trờng, đặc
biệt là trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Kiểm toán nội bộ đã giúp cho các nhà quản
lý có đợc những thông tin xác thực và kịp thời, phục vụ tốt cho công tác quản lý và
hoạch định chính sách, hạn chế rủi ro. ở Việt Nam, Kiểm toán nội bộ mặc dù là
lĩnh vực còn mới mẻ song thực tế cho thấy công tác này cũng đã bớc đầu thu đợc
những kết quả tích cực, đã và đang làm cho công tác quản lý ngày càng hoàn thiện
hơn. Nhận thức đợc vai trò của kiểm toán nội bộ cũng nh thấy đợc sự cần thiết đó,
là sinh viên chuyên ngành kiểm toán tại trờng Đại học Kinh tế Quốc dân, đợc các
thầy cô trang bị cho những kiến thức cơ bản nhất em đã mạnh dạn đi sâu nghiên
cứu đề tài : Kiểm toán nội bộ- một nhân tố quan trọng cho quá trình phát triển
của các doanh nghiệp và tổ chức hiện nay
Do còn hạn chế về nhận thức, về thời gian nghiên cứu và sự mới mẻ của đề tài,
chuyên đề ây em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong có sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô giá.
Nội dung
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Phần I : Lý luận chung
1. Tổng quan về kiểm toán.
1.1. Khái niệm về kiểm toán
mối quan hệ phức tạp đòi hỏi kiểm toán phải hình thành một hệ thống ph-
ơng pháp kỹ thuật riêng bao gồm cả những phơng pháp kiểm toán chứng từ
( cân đối, đối chiếu lôgic, diễn giải thông tin, quy nạp nguồn thông tin )
và phơng pháp kiểm toán ngoài chứng từ ( điều tra, quan sát, kiểm kê, thử
nghiệm ) thích ứng với đối t ợng ( nội dung ) của kiểm toán và phù hợp với
các quy luật và quan hệ của phép biện chứng.
Kiểm toán là một hoạt động chuyên sâu, một khoa học chuyên ngành nên
hoạt động này phải đợc thực hiện bởi những ngời có trình độ nghiệp vụ
chuyên sâu về kiểm toán. Kiểm toán viên, giám định viên kiểm toán, thẩm
kế viên, kế toán viên công chứng. Đây là những kiểm toán viên chuyên
nghiệp hoạt động hay hành nghề theo pháp luật.
Từ những điều trình bày trên có thể kết luận : Kiểm toán là xác minh và bày tỏ
ý kiến về thực trạng hoạt động cần đợc kiểm toán bằng hệ thống phơng pháp kỹ
thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên
có trình độ nghiệp vụ tơng xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu
lực.
Kiểm toán không phải là hoạt động Tự thân và vị thân : Kiểm toán sinh ra từ
yêu cầu của quản lý và phục vụ cho yêu cầu của quản lý. Từ đó, có thể thấy rõ ý
nghĩa, tác dụng của kiểm toán trên nhiều mặt.
Thứ nhất: Kiểm toán tạo niềm tin cho những ngời quan tâm. Trong cơ chế
thị trờng, có nhiều ngời quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản ánh của
nó trong tài liệu kế toán. Trong Thế giới của những ngời quan tâm có cả
các cơ quan nhà nớc, các nhà đầu t, các nhà quản lý, khách hàng và ngời lao
động
Thứ hai: Kiểm toán góp phần hớng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt
động tài chính kế toán nói riêng vầ hoạt động quản lý nói chung.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thứ ba: Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý : Rõ
ràng, kiểm toán không chỉ xác minh rõ độ tin cậy của thông tin mà còn t
Theo đối tợng cụ thể, kiểm toán có thể phân thành kiểm toán ( báo
cáo ) tài chính, kiểm toán nghiệp vụ ( hoạt động ) và kiểm toán liên
kết.
Theo lĩnh vực cụ thể của kiểm toán có thể phân kiểm toán thành kiểm
toán thông tin, kiểm toán qui tắc ( tuân thủ ), kiểm toán hiệu năng và
kiểm toán hiệu quả.
Theo phạm vi tiến hành kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm
toán toàn diện và kiểm toán chọn điểm ( điển hình ).
Theo tính chu kỳ của kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm
toán thờng kỳ, kiểm toán định kỳ và kiểm toán bất thờng ( đột xuất ).
Theo quan hệ pháp lý của kiểm toán, có thể có kiểm toán bắt buộc
và kiểm toán tự nguyện.
Theo tổ chức bộ máy kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm
toán nhà nớc, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.
2. Khái quát chung về kiểm toán nội bộ (KTNB).
2.1. Khái niệm.
ở Australia, khái niệm về KTNB đợc nêu trong chuẩn mực kiểm toán AUS
104 là: KTNB đợc xem là hoạt động thẩm định độc lập, đợc thiết lập cùng với 1
tổ chức và là 1 dịch vụ đối với tổ chức đó. Chức năng của KTNB là xem xét, đánh
giá và thông báo tính thích hợp và tính hiệu quả của hệ thông kiểm soát nội bộ.
Đây là một quan điểm truyền thống, nó nhìn nhận KTNB từ góc độ của các
kiểm toán viên độc lập, bên ngoài tổ chức, vì vậy KTNB đợc coi nh là một bộ phận
hợp thành môi trờng kiểm soát. Khái niệm này còn đợc bổ sung thêm ở phần 2 -
chuẩn mực số 106 của AUS. Khi nó nêu lên vai trò của KTNB là xem xét và đánh
giá.
Hệ thống kiểm soát và thông tin nội bộ.
Thông tin tài chính và thông tin nghiệp vụ.
Tính kinh tế , tính hiệu quả và tính hiệu năng của hoạt động.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đây là khái niệm phản ánh cái nhìn mới , phù hợp hơn với vai trò đã phát
triển đến hiện nay của KTNB.
2.2. Đặc trng của KTNB .
2.2.1. Chủ thể KTNB .
Để thực hiện hoạt động KTNB , mỗi tổ chức phải thành lập bộ máy KTNB.
Bộ máy KTNB là hệ thống tổ chức của các kiểm toán viên do đơn vị tự lập
ra theo yêu cầu quản trị nội bộ và thực hiện nền nếp , kỷ cơng quản lý .
Để tổ chức và quản lý hoạt động KTNB trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của
đơn vị phải cử ra những ngời phụ trách công việc này . Theo yêu cầu đó , thông th-
ờng một uỷ ban kiểm toán đợc lập ra do một tẩp thể thờng bao gồm ba thành viên
hội đồng quản trị phụ trách . Trong trờng hợp cần thiết , hội đồng quản trị có thể
quyết định thuê các chuyên gia kiểm toán tham gia hoặc t vấn cho uỷ ban .
Uỷ ban kiểm toán , vừa có trách nhiệm trong tổ chức hoạt động KTNB
( nội kiểm ) , vừa có trách nhiệm tạo lập mối quan hệ với chủ thể kiểm toán tài
chính từ bên ngoài ( ngoại kiểm ) . Trong trờng hợp không có hội đồng quản trị ,
chủ đầu t hoạc ngời đựơc uỷ quyền phụ trách sẽ chỉ đạo công tác kiểm toán . Tất
nhiên , uỷ ban kiểm toán hoạc ngời phụ trách chỉ có chức năng tổ chức , chỉ đạo
công việc kiểm toán . Ngời thực hiện KTNB là những kiểm toán viên trong đơn vị
hoặc chuyên gia ( giám định viên kế toán ) từ bên ngoài . Từ đó có thể có hai mô
hình cơ bản là hội đồng hay bộ phận KTNB và giám định viên kế toán ( hoặc giám
sát viên nhà nớc ) .
Hội đồng hay bộ phận KTNB ( Internal Auditing Department ) là mô hình
phổ biến đặc biệt ở các nớc Bắc Mỹ . Thành viên của bộ phận này là các kiểm toán
viên nội bộ . Số lợng và cơ cấu các thành viên tuỳ thuộc vào qui mô của đơn vị ,
vào nhiệm vụ KTNB cụ thể trong từng thời kỳ . Hội đồng có nhiệm vụ thực hiện
tất cả các công việc do uỷ ban kiểm toán giao cho kể cả việc xây dựng hoặc hoàn
thiện qui chế KTNB ( nếu có ) , tổ chức thực hiện đều đặn và có hiệu lực qui chế
đã ban hành và cả công việc đột xuất khác .
Muốn trao đổi ý kiến có hiệu quả thì kiểm toán viên nội bộ phải là ngời khéo ứng
xử khi tiếp xúc , phải nắm vững và duy trì mối quan hệ thoả đáng với các bộ phận
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đợc kiểm toán . Để không bị lạc hậu hay đào thải của nghề này , kiểm toán viên
nội bộ phải không ngững học tập để duy trì trình độ thành thạo của mình trong thế
giới năng động và thờng xuyên thay đổi hiện nay . Bên cạnh đó kiểm toán viên
phải rèn luyện tính thận trọng nghề nghiệp đúng mực để có thể thích ứng với sự
phức tạp của nhiệm vụ kiểm toán .
Mô hình thứ hai là sử dụng giám định viên kế toán ( hoặc giám sát viên nhà
nớc ) là mô hình ứng dụng phổ biến ở các xí nghiệp nhà nớc và các doanh nghiệp
có qui mô nhỏ . Trong trờng hợp này , ngời thực hiện công việc kiểm toán có thể
là kiểm toán viên chuyên nghiệp ( hành nghề ) thậm chí ở một số nớc trong các xí
nghiệp công và doanh nghiệp nhà nớc đợc biên chế trong bộ máy kiểm toán nhà n-
ớc .
Mô hình này rất thích hợp với các xí nghiệp công , các doanh nghiệp có qui
mô nhỏ không cần biên chế kiểm toán viên nội bộ . Nó phát huy đợc thế mạnh
nghề nghiệp của các chuyên gia giỏi . Tuy nhiên trong trờng hợp này chi phí kiểm
toán thờng cao do phải thuê nhân viên . Mặt khác , do công việc KTNB cũng do số
ít chuyên gia có trình độ cao đảm nhiệm nên cần chú trọng đảm bảo tính khách
quan trung thực của kiểm toán viên bằng các phơng pháp bổ sung nh kiểm tra
chéo , định kỳ thay đổi nơi làm việc của các kiêmt toán viên tăng cờng trách
nhiệm của kiểm tra bên ngoài
Nh vậy chủ thể của KTNB là các kiểm toán viên nội bộ nằm trong bộ máy
KTNB cả đơn vị tổ chức đó hoặc là các giám định viên kiểm toán thuê ngoài . Dù
là một nhân viên của tổ chức hay ngời ngoài , dù đã có chứng chỉ kiểm toán viên
nội bộ hay cha thì họ cũng phải là ngời có sự thành thạo về mặt chuyên môn và
phải tuân thủ các yêu cầu đạo đức nghề nghiệp rất chặt chẽ . Điều đó giúp cho
công việc kiểm toán tiến hành hiệu quả hơn , phục vụ tót hơn cho nhu cầu quản lý
trong doanh nghiệp cũng nh các cơ quan chức năng của nhà nớc .
vụ hoặc chơng trình có thực hiện đúng kế hoạch không .
Nh vậy yếu tố chủ yếu liên quan tới các lĩnh vực hoạt động là việc hoàn
thành các mục tiêu của mình để hỗ trợ ban giám đốc thông qua việc xem xét ,
đánh giá các công việc kiểm soát nội bộ khác nhau . Tuỳ vào từng tổ chức , ban
giám đốc có thể thay đổi hoặc yêu cầu kiểm toán viên nội bộ thực hiện phạm vi
công việc khác nhau nhng kiểm toán viên nội bộ vẫn phải tập trung vào các khía
10