Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển đa dạng và phức tạp của các hoạt động sản xuất kinh
doanh đòi hỏi phải có những hình thức và phơng pháp quản lý, kiểm soát phù hợp
để khắc phục những mặt trái của nó. Kiểm toán nội bộ ra đời là một trong những
xu hớng tất yếu để khắc phục những mặt trái đó. Nó là một trong những yếu tố
góp phần đảm bảo, duy trì tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực trong các
hoạt động kinh tế của các đơn vị, các doanh nghiệp thuộc các ngành ở các lĩnh vực
khác nhau trong xã hội.
Kiểm toán nội bộ ngày càng đợc hoàn thiện cùng với sự phát triên của công
tác kế toán. Sự ra đời và phát triển ngày càng mạnh mẽ của hệ thống kiểm toán nội
bộ đã và đang khẳng định vai trò cần thiết của nó trong nền kinh tế thị trờng, đặc
biệt là trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Kiểm toán nội bộ đã giúp cho các nhà quản
lý có đợc những thông tin xác thực và kịp thời, phục vụ tốt cho công tác quản lý và
hoạch định chính sách, hạn chế rủi ro. ở Việt Nam, Kiểm toán nội bộ mặc dù là
lĩnh vực còn mới mẻ song thực tế cho thấy công tác này cũng đã bớc đầu thu đợc
những kết quả tích cực, đã và đang làm cho công tác quản lý ngày càng hoàn thiện
hơn. Nhận thức đợc vai trò của kiểm toán nội bộ cũng nh thấy đợc sự cần thiết đó,
là sinh viên chuyên ngành kiểm toán tại trờng Đại học Kinh tế Quốc dân, đợc các
thầy cô trang bị cho những kiến thức cơ bản nhất em đã mạnh dạn đi sâu nghiên
cứu đề tài : Kiểm toán nội bộ- một nhân tố quan trọng cho quá trình phát triển
của các doanh nghiệp và tổ chức hiện nay
Do còn hạn chế về nhận thức, về thời gian nghiên cứu và sự mới mẻ của đề tài,
chuyên đề ây em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong có sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô giá.
Nội dung
1
Phần I : Lý luận chung
1. Tổng quan về kiểm toán.
1.1. Khái niệm về kiểm toán
Thuật ngữ Kiểm toán thực sự xuất hiện và đợc sử dụng ở nớc ta từ hơn chục
năm cuối thế kỷ XX, vì vậy cách hiểu và cách dùng khái niệm cha hoàn toàn
và phơng pháp kiểm toán ngoài chứng từ ( điều tra, quan sát, kiểm kê, thử
nghiệm ) thích ứng với đối t ợng ( nội dung ) của kiểm toán và phù hợp với
các quy luật và quan hệ của phép biện chứng.
Kiểm toán là một hoạt động chuyên sâu, một khoa học chuyên ngành nên
hoạt động này phải đợc thực hiện bởi những ngời có trình độ nghiệp vụ
chuyên sâu về kiểm toán. Kiểm toán viên, giám định viên kiểm toán, thẩm
kế viên, kế toán viên công chứng. Đây là những kiểm toán viên chuyên
nghiệp hoạt động hay hành nghề theo pháp luật.
Từ những điều trình bày trên có thể kết luận : Kiểm toán là xác minh và bày tỏ
ý kiến về thực trạng hoạt động cần đợc kiểm toán bằng hệ thống phơng pháp kỹ
thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên
có trình độ nghiệp vụ tơng xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu
lực.
Kiểm toán không phải là hoạt động Tự thân và vị thân : Kiểm toán sinh ra từ
yêu cầu của quản lý và phục vụ cho yêu cầu của quản lý. Từ đó, có thể thấy rõ ý
nghĩa, tác dụng của kiểm toán trên nhiều mặt.
Thứ nhất: Kiểm toán tạo niềm tin cho những ngời quan tâm. Trong cơ chế
thị trờng, có nhiều ngời quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản ánh của
nó trong tài liệu kế toán. Trong Thế giới của những ngời quan tâm có cả
các cơ quan nhà nớc, các nhà đầu t, các nhà quản lý, khách hàng và ngời lao
động
Thứ hai: Kiểm toán góp phần hớng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt
động tài chính kế toán nói riêng vầ hoạt động quản lý nói chung.
3
Thứ ba: Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý : Rõ
ràng, kiểm toán không chỉ xác minh rõ độ tin cậy của thông tin mà còn t
vấn về quản lý. Có thể thấy đặc biệt rõ tác dụng của vai trò t vấn này trong
kiểm toán hiệu năng và hiệu quả quản lý. Vai trò này phát huy đặc biệt rõ
trong các đơn vị đợc kiểm toán thờng xuyên. Trong điều kiện đó, việc tích
luỹ kinh nghiệm qua thực tiễn sẽ là cơ sở cho những bài học cho tơng lai.
kiểm toán hiệu quả.
Theo phạm vi tiến hành kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm
toán toàn diện và kiểm toán chọn điểm ( điển hình ).
Theo tính chu kỳ của kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm
toán thờng kỳ, kiểm toán định kỳ và kiểm toán bất thờng ( đột xuất ).
Theo quan hệ pháp lý của kiểm toán, có thể có kiểm toán bắt buộc
và kiểm toán tự nguyện.
Theo tổ chức bộ máy kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm
toán nhà nớc, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.
2. Khái quát chung về kiểm toán nội bộ (KTNB).
2.1. Khái niệm.
ở Australia, khái niệm về KTNB đợc nêu trong chuẩn mực kiểm toán AUS
104 là: KTNB đợc xem là hoạt động thẩm định độc lập, đợc thiết lập cùng với 1
tổ chức và là 1 dịch vụ đối với tổ chức đó. Chức năng của KTNB là xem xét, đánh
giá và thông báo tính thích hợp và tính hiệu quả của hệ thông kiểm soát nội bộ.
Đây là một quan điểm truyền thống, nó nhìn nhận KTNB từ góc độ của các
kiểm toán viên độc lập, bên ngoài tổ chức, vì vậy KTNB đợc coi nh là một bộ phận
hợp thành môi trờng kiểm soát. Khái niệm này còn đợc bổ sung thêm ở phần 2 -
chuẩn mực số 106 của AUS. Khi nó nêu lên vai trò của KTNB là xem xét và đánh
giá.
Hệ thống kiểm soát và thông tin nội bộ.
Thông tin tài chính và thông tin nghiệp vụ.
Tính kinh tế , tính hiệu quả và tính hiệu năng của hoạt động.
5
Việc tuân thủ các quy tắc phù hợp của tổ chức.
ở một số nớc mà kiểm toán nội bộ cha phát triển thì quan điểm về
KTNB còn rất hạn chế . Nói chung KTNB đợc xem là hoạt động
kiểm tra.
KTNB là hoạt động kiểm tra , giám sát của bộ máy quản lý , điều hành
trong doanh nghiệp . Đó là công việc thờng xuyên , hàng ngày gắn liền với chức
Bộ máy KTNB là hệ thống tổ chức của các kiểm toán viên do đơn vị tự lập
ra theo yêu cầu quản trị nội bộ và thực hiện nền nếp , kỷ cơng quản lý .
Để tổ chức và quản lý hoạt động KTNB trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của
đơn vị phải cử ra những ngời phụ trách công việc này . Theo yêu cầu đó , thông th-
ờng một uỷ ban kiểm toán đợc lập ra do một tẩp thể thờng bao gồm ba thành viên
hội đồng quản trị phụ trách . Trong trờng hợp cần thiết , hội đồng quản trị có thể
quyết định thuê các chuyên gia kiểm toán tham gia hoặc t vấn cho uỷ ban .
Uỷ ban kiểm toán , vừa có trách nhiệm trong tổ chức hoạt động KTNB
( nội kiểm ) , vừa có trách nhiệm tạo lập mối quan hệ với chủ thể kiểm toán tài
chính từ bên ngoài ( ngoại kiểm ) . Trong trờng hợp không có hội đồng quản trị ,
chủ đầu t hoạc ngời đựơc uỷ quyền phụ trách sẽ chỉ đạo công tác kiểm toán . Tất
nhiên , uỷ ban kiểm toán hoạc ngời phụ trách chỉ có chức năng tổ chức , chỉ đạo
công việc kiểm toán . Ngời thực hiện KTNB là những kiểm toán viên trong đơn vị
hoặc chuyên gia ( giám định viên kế toán ) từ bên ngoài . Từ đó có thể có hai mô
hình cơ bản là hội đồng hay bộ phận KTNB và giám định viên kế toán ( hoặc giám
sát viên nhà nớc ) .
Hội đồng hay bộ phận KTNB ( Internal Auditing Department ) là mô hình
phổ biến đặc biệt ở các nớc Bắc Mỹ . Thành viên của bộ phận này là các kiểm toán
viên nội bộ . Số lợng và cơ cấu các thành viên tuỳ thuộc vào qui mô của đơn vị ,
vào nhiệm vụ KTNB cụ thể trong từng thời kỳ . Hội đồng có nhiệm vụ thực hiện
tất cả các công việc do uỷ ban kiểm toán giao cho kể cả việc xây dựng hoặc hoàn
thiện qui chế KTNB ( nếu có ) , tổ chức thực hiện đều đặn và có hiệu lực qui chế
đã ban hành và cả công việc đột xuất khác .
7
Mô hình này có nhiều u điểm và rất thích hợp với các doanh nghiệp có qui
mô lớn . Tuy nhiên , điều kiện tiên quyết để phát huy u việt này là chất lợng kiểm
toán viên nội bộ .
Kiểm toán viên nội bộ khi thực hiện công việc thì họ phải có tính độc lập .
Tính độc lập cho phép kiểm toán viên nội bộ có những phán đoán khách quan và
không thành kiến , cần thiết để tiến hành đúng đắn những cuộc kiểm toán . Nhng
Mô hình thứ hai là sử dụng giám định viên kế toán ( hoặc giám sát viên nhà
nớc ) là mô hình ứng dụng phổ biến ở các xí nghiệp nhà nớc và các doanh nghiệp
có qui mô nhỏ . Trong trờng hợp này , ngời thực hiện công việc kiểm toán có thể
là kiểm toán viên chuyên nghiệp ( hành nghề ) thậm chí ở một số nớc trong các xí
nghiệp công và doanh nghiệp nhà nớc đợc biên chế trong bộ máy kiểm toán nhà n-
ớc .
Mô hình này rất thích hợp với các xí nghiệp công , các doanh nghiệp có qui
mô nhỏ không cần biên chế kiểm toán viên nội bộ . Nó phát huy đợc thế mạnh
nghề nghiệp của các chuyên gia giỏi . Tuy nhiên trong trờng hợp này chi phí kiểm
toán thờng cao do phải thuê nhân viên . Mặt khác , do công việc KTNB cũng do số
ít chuyên gia có trình độ cao đảm nhiệm nên cần chú trọng đảm bảo tính khách
quan trung thực của kiểm toán viên bằng các phơng pháp bổ sung nh kiểm tra
chéo , định kỳ thay đổi nơi làm việc của các kiêmt toán viên tăng cờng trách
nhiệm của kiểm tra bên ngoài
Nh vậy chủ thể của KTNB là các kiểm toán viên nội bộ nằm trong bộ máy
KTNB cả đơn vị tổ chức đó hoặc là các giám định viên kiểm toán thuê ngoài . Dù
là một nhân viên của tổ chức hay ngời ngoài , dù đã có chứng chỉ kiểm toán viên
nội bộ hay cha thì họ cũng phải là ngời có sự thành thạo về mặt chuyên môn và
phải tuân thủ các yêu cầu đạo đức nghề nghiệp rất chặt chẽ . Điều đó giúp cho
công việc kiểm toán tiến hành hiệu quả hơn , phục vụ tót hơn cho nhu cầu quản lý
trong doanh nghiệp cũng nh các cơ quan chức năng của nhà nớc .
2.2.2. Lĩnh vực hoạt động của KTNB .
Theo chuẩn mực chung số 300 đã xác định rõ KTNB sẽ xem xét , đánh giá
tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức và chất lợng
thực hiện trách nhiệm đợc giao . Tuy nhiên , tuỳ theo yêu cầu của ban giám đốc và
9
hội đồng quản trị mà KTNB trong từng tổ chức sẽ phải tuân theo định hớng công
việc nhất định . Nhng có thể thấy các lĩnh vực công việc mà hầu hết các hệ thống
KTNB thờng có trách nhiệm thực hiện là:
Thẩm tra tính xác thực và tính toàn vẹn của thông tin tài chính , thông tin