BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VÕ LÊ THẢO CHÂU
KHẢO SÁT MỘT SỐ THÔNG SỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
VÙNG CỬA SÔNG CÁI – NHA TRANG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP HỆ ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
Ngành: Quản Lý Môi Trường Và Nguồn Lợi Thủy Sản Nha Trang, tháng 6 năm 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
- Quý thầy cô Khoa Nuôi trồng thủy sản, trường Đại học Nha Trang đã
cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại
trường để tôi có đủ kiến thức để hoàn thành đợt thực tập và bài báo cáo
này.
- Thầy giáo Nguyễn Văn Quỳnh Bôi – Bộ môn Quản lý môi trường và
nguồn lợi thủy sản cũng đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình trong suốt quá
trình thực tập.
- Thầy giáo Nguyễn Đình Trung – Bộ môn Quản lý môi trường và nguồn
lợi thủy sản đã chỉ dẫn tận tình và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt
quá trình phân tích mẫu.
- Với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các cán bộ
thuộc Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Thọ, Vĩnh Phước, Vạn Thạnh,
Xương Huân, các anh chị ở Ban quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang
đã cung cấp cho tôi những thông tin và tài liệu quý báu.
Xin chân thành cảm ơn
Võ Lê Thảo Châu
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ CÁC HÌNH vi
I. Danh mục các bảng: vi
1. Sơ đồ khối nghiên cứu: 23
2. Mục tiêu nghiên cứu: 24
3. Nội dung nghiên cứu: 24
4. Phương pháp thu thập số liệu: 25
a) Thu thập số liệu thứ cấp: 25
b) Thu thập số liệu sơ cấp: 25
5. Phương pháp thu mẫu: 26
6. Phương pháp bảo quản và phân tích mẫu: 26
a) Phương pháp bảo quản mẫu: 26
b) Phương pháp phân tích mẫu: 26
7. Phương pháp xử lý số liệu: 27
PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
I. Sơ lược về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu: 28
1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu: 28
a) Vài nét về sông Cái Nha Trang: 28
b) Khí hậu: 29
c) Thủy văn: 34
2. Tình hình kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu: 35
a) Phường Vĩnh Phước: 35
b) Phường Vĩnh Thọ: 36
c) Phường Xương Huân: 36
d) Phường Vạn Thạnh: 37
II. Kết quả khảo sát chất lượng môi trường nước khu vực nghiên cứu: 38
III. Đánh giá sơ bộ hiện trạng chất lượng môi trường nước khu vực nghiên cứu:
46
iv
1. Đánh giá sơ bộ hiện trạng chất lượng môi trường nước từng điểm trong
khu vực nghiên cứu: 46
a) Chất lượng nước ở điểm 1: 47
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ CÁC HÌNH
I. Danh mục các bảng:
Bảng 1: Ý nghĩa các phân tích thông số chất lượng nước 9
Bảng 2: Nhiệt độ trung bình các tháng trong các năm tại trạm Nha Trang 30
Bảng 3: Nhiệt độ trung bình các năm tại trạm Nha Trang 31
Bảng 4: Phân bố lượng mưa các tháng trong các năm tại trạm Nha Trang 32
Bảng 5: Giá trị thông số thủy lý môi trường nước tại các điểm thu mẫu 39
Bảng 6: Giá trị thông số thủy hóa môi trường nước tại các điểm thu mẫu 40
Bảng 7: Giá trị COD/BOD
5
tại điểm 1 49
Bảng 8: Giá trị COD/BOD
5
độ ô nhiễm ngày càng tăng. Cũng như các quốc gia đang phát triển khác, nguồn gây
ô nhiễm chính ở Việt Nam là do chất thải sinh hoạt, chất thải nông nghiệp (phân
bón, hóa chất bảo vệ thực vật), chất thải công nghiệp (dầu mỡ từ hoạt động giao
thông thủy).
Xem xét cụ thể, có thể nói hiện nay khu vực cửa sông Cái – Nha Trang đang
chịu sức ép mạnh mẽ từ các hoạt động của con người như việc neo đậu tàu thuyền,
tình trạng xả nước thải và rác thải bừa bãi xuống dòng sông của các hộ gia đình,
ngư dân và các nhà hàng xung quanh khu vực. Chính vì những nguyên nhân này đã
làm cho chất lượng nước vùng cửa sông Cái có nhiều thay đổi.
Do đó, kiểm soát chất lượng nước ở đây là một công việc hết sức cần thiết,
để từ đó có thể giúp đưa ra các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm nước có
hiệu quả. Trên cơ sở này, tôi đã quyết định thực hiện đề tài “Khảo sát một số thông
số chất lượng nước vùng cửa sông Cái – Nha Trang” với mục tiêu: tìm hiểu sự biến
động một số thông số chất lượng nước tại khu vực cửa sông Cái – Nha Trang dưới
tác động của hoạt động con người.
2
Với mục tiêu trên, đề tài của tôi bao gồm các nội dung sau:
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu.
- Khảo sát một số thông số chất lượng nước ở khu vực nghiên cứu.
Tôi hy vọng việc thực hiện đề tài này sẽ cung cấp được những thông tin hữu
ích giúp hiểu rõ tình trạng chất lượng nước ở khu vực cửa sông Cái – Nha Trang
hiện nay. Mặc dù bản thân đã cố gắng để thực hiện đề tài đạt hiệu quả tốt nhất
nhưng do còn hạn chế về trình độ, kinh nghiệm, thời gian và kinh phí nên trong khi
thực hiện không khỏi mắc phải các sai sót, kính mong thầy cô và các bạn đóng góp
ý kiến để báo cáo của tôi hoàn thiện hơn.
Nha Trang, tháng 6 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Võ Lê Thảo Châu
liệu khác; riêng nước thì chưa có một loại nguyên liệu nào có thể thay thế
được.
Nước có tầm quan trọng đặc biệt. Nước là thành phần không thể thiếu
trong ăn uống sinh hoạt của con người, là thành phần cần thiết trong nhiều
quy trình sản xuất công, thương, dịch vụ, du lịch, giao thông, thể thao,…;
nước còn được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp với lượng rất
lớn (Nguyễn Ngọc Dung, 2008).
Tài nguyên nước gồm nhiều nguồn nước khác nhau hợp thành:
- Tài nguyên nước ngọt là một trong nhiều yếu tố cơ bản nhất trong
quá trình phát triển cơ thể con người, động vật, thực vật. Nước ngọt là yếu tố
không thể thiếu trong phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Theo đà
phát triển của nhân loại, nhu cầu nước ngọt cho sinh hoạt, sản xuất công –
4
nông - ngư nghiệp ngày càng tăng. Do vậy, tình trạng thiếu nước ngọt đã và
đang xảy ra ở nhiều nơi, nhất là ở cùng núi phía Bắc và đồng bằng ven biển
miền Trung (Lê Quốc Hùng, 2006).
- Tài nguyên nước mặn cũng giữ vị trí hết sức quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế. Tài nguyên nước mặn bao gồm các đầm phá, các vùng đất
thấp ở bờ biển, là nơi cung cấp hải sản, muối ăn, có thể làm bãi tắm hay nơi
du lịch, nghỉ ngơi cho con người (Nguyễn Ngọc Dung, 2008).
Con người đã sớm nhận thức được vai trò quan trọng của tài nguyên
nước và có nhiều cố gắng để bảo vệ nguồn tài nguyên này. Tuy nhiên, gần
đây do khai thác, sử dụng nước quá tải và không có biện pháp phòng ngừa
hiệu quả nên tình trạng ô nhiễm nước ngày càng trầm trọng.
2. Khái niệm ô nhiễm môi trường nước:
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa:
"Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng
nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công
nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các
-
, SO
4
2-
, NO
3
-
, PO
4
3-
, Na
+
, K
+
, NH
4
+
. Trong nước thải công
nghiệp ngoài các ion trên còn có các chất độc vô cơ có tính độc cao như
Hg
2+
, Pb
2+
, Cd
2+
, Cr
6+
, F
-
sẽ gây hại tài nguyên thủy sinh và sức khỏe con
nên có tính axit vì thối rữa. Nước thải sinh hoạt chứa hàm lượng dinh dưỡng
khá cao đôi khi vượt quá nhu cầu cho quá trình xử lý sinh học.
+ Nước thải công nghiệp: Đặc điểm chung của nước thải này là
chứa các hóa chất độc hại (kim loại nặng Pb, Hg, Cd, Cr,…), các chất hữu cơ
khó phân hủy sinh học (phenol, chất hoạt động bề mặt,…), chất hữu cơ dễ
phân hủy sinh học từ các cơ sở sản xuất công nghiệp thực phẩm.
+ Nước thải nông nghiệp: Xét về nước tưới tiêu, 2/3 lượng nước
tưới bị tiêu hao do bốc hơi lên mặt lá, phần còn lại chảy ra các kênh dẫn hoặc
thấm xuống nước ngầm. Về chất thải động vật nuôi, phân và nước tiểu của
7
chúng là nguồn gây ô nhiễm khá lớn đối với các nguồn nước, chất thải động
vật có chứa hàm lượng chất hữu cơ dễ phân hủy và mang nhiều loại vi sinh
gây bệnh. Nước chảy tràn trên mặt đất do nước mưa hoặc từ đồng ruộng
thường cuốn theo thuốc trừ sâu, phân bón là nguồn gây ô nhiễm nước sông,
hồ.
4. Các thành phần gây ô nhiễm nước:
Theo giáo trình Ô nhiễm môi trường nước, Đại học Quốc gia Hà Nội,
1998, nước bị xem là ô nhiễm khi chứa các thành phần sau:
- Các chất thải hữu cơ nguồn gốc động hay thực vật làm cho nồng độ
oxy hòa tan trong nước bị giảm hay mất đi do quá trình phân hủy sinh học.
- Các vi sinh vật gây bệnh có trong nước thải sinh hoạt và nước thải
của một số ngành công nghiệp.
- Các chất dinh dưỡng cho thực vật (các chất hòa tan của nitơ,
photpho, kali,…) làm cho tảo, cỏ nước phát triển quá mức.
- Các hóa chất hữu cơ tổng hợp bao gồm những chất diệt sâu bệnh, trừ
cỏ, các chất tẩy rửa có tính độc hại đối với các loài thủy sinh vật có thể gây
hại đối với sức khỏe con người.
- Các hóa chất vô cơ tạo ra từ các quá trình sản xuất, khai thác mỏ,
phân bón hóa học nông nghiệp,…gây cản trở cho quá trình làm sạch của
, COD, BOD
5
, H
2
S, NH
3
, NH
4
+
,
NO
2
-
, PO
4
3-
. Các thông số được lựa chọn dựa theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia về chất lượng nước biển ven bờ (QCVN 10: 2008/BTNMT).
9
Bảng 1: Ý nghĩa các phân tích thông số chất lượng nước
Thông số Ý nghĩa phân tích
Nhiệt độ
Đóng vai trò quan trọng đối với các quá trình sinh hóa diễn ra trong
nước. Nó có ảnh hưởng đến sự hoà tan oxy, đến khả năng tổng hợp
Số liệu đo đạc độ kiềm được dùng để kiểm soát việc xả thải. Thường
quy định không được xả thải nước thải có độ kiềm hydroxit lớn vào
các thể nước mà không thông qua xử lý.
Cùng với pH, độ kiềm là một yếu tố dùng để chọn phương pháp xử lý
nước thải.
pH
pH là một trong những thông số quan trọng và được sử dụng thường
xuyên nhất trong hoá nước, dùng để đánh giá mức độ ô nhiễm của
nguồn nước, chất lượng nước thải, đánh giá độ cứng của nước, khả
năng ăn mòn và trong nhiều tính toán về cân bằng axit-bazơ.
DO
DO là yếu tố quyết định các quá trình phân hủy sinh học các chất ô
nhiễm trong nước diễn ra trong điều kiện yếm khí hay hiếu khí.
Số liệu đo đạc DO rất cần thiết để có biện pháp duy trì điều kiện hiếu
khí trong nguồn nước tự nhiên tiếp nhận chất ô nhiễm.
Trong kiểm soát ô nhiễm các dòng chảy, đòi hỏi phải duy trì DO
trong giới hạn thích hợp cho các loại động vật thủy sinh.
Việc xác định DO được dùng làm cơ sở cho việc xác định BOD để
đánh giá mức độ ô nhiễm do các hợp chất hữu cơ dễ bị phân hủy
trong nước thải.
CO
2
Khí CO
2
đóng vai trò quan trọng trong đời sống của vùng nước. CO
2
là bộ phận cơ bản tham gia vào sự tạo thành chất hữu cơ trong quá
trình quang hợp. CO
2
5
được dùng để xác định mức độ ô nhiễm của các chất hữu cơ dễ
phân hủy trong chất thải sinh hoạt và công nghiệp.
Nó là một trong những thông số dùng để kiểm soát ô nhiễm, khả
năng tự làm sạch của thủy vực, cũng là cơ sở để đánh thuế việc xả
nước thải của các nguồn gây ô nhiễm.
Ngoài ra, nó còn được sử dụng trong công tác thiết kế các công trình
xử lý và đánh giá các công đoạn xử lý trong quá trình vận hành.
H
2
S
Đây là loại khí tan trong nước có mùi trứng thối, nó hình thành trong
lớp bùn đáy dưới điều kiện yếm khí và là chất có độc tính cao đối với
thủy động vật. Trong môi trường nước có pH thấp sẽ phát huy tính
độc của H
2
S, do trong điều kiện đó tỷ lệ của H
2
S cao.
NH
3
, NH
4
+
Amoniac là sản phẩm chuyển hoá của các hợp chất chứa niơ trong
nước tự nhiên, do các chất thải sinh hoạt và công nghiệp. Amoniac
rất độc với cá và các động vật thuỷ sinh khác. Để kiểm soát ô nhiễm
nước thải và quan trắc nguồn nước uống, amoniac cần được giám sát
NO
2
-
là dấu hiệu ô nhiễm của chất hữu cơ.
PO
4
3-
Nó thường phát sinh trong nước thải của một số ngành công nghiệp
như sản xuất phân lân, thực phẩm và cũng là nguyên nhân gây nên
hiện tượng phú dưỡng. Việc xác định hàm lượng PO
4
3-
là điều cần
thiết trong vận hành các nhà máy xử lý nước thải.
(Nguồn: Sổ tay quan trắc và phân tích môi trường, 12/2002; Giáo trình Ô nhiễm
môi trường, 1998; Quản lý chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản, 2004)
III. Sơ lược về tình hình ô nhiễm môi trường nước trên thế giới và Việt
Nam:
Phát triển kinh tế xã hội sẽ làm gia tăng sức ép lên tài nguyên nước do
nhu cầu sử dụng cho các hoạt động: sinh hoạt dân cư, nhu cầu nước sản xuất
công nghiệp, dịch vụ, du lịch,…
1. Thế giới:
Tình hình dân số thế giới ngày càng tăng đã làm cho vấn đề về môi
trường nước trở nên hết sức cấp bách đối với tất cả các quốc gia.
Trong các năm 1979 - 1984 khoảng 25% số trạm quan trắc trên thế
giới phát hiện được hóa chất hữu cơ chứa clo như DDT, aldrin, dieldrin và
PCB với nồng độ thường nhỏ hơn 10 nanogram/L (ng/L). Tuy nhiên, ở một
số dòng sông nồng độ các hóa chất này khá cao (100 – 1000 ng/L) như sông
Trent ở Anh, hồ Biwa và Yodo ở Nhật Bản. Ô nhiễm do clo hữu cơ nặng
phát triển, tải lượng BOD đưa vào nguồn nước ngày càng tăng (Lê Trình,
1997).
Nói đến rác thải và vật liệu phóng xạ thì chúng là những nguồn phát
thải phóng xạ dưới nhiều hình thức và nhiều cấp độ, có ảnh hưởng tới sức
khoẻ con người. Chất thải từ quá trình gia công và khai thác các mỏ urani là
một ví dụ. Urani chủ yếu được khai thác từ những nước có thu nhập thấp. Nó
chủ yếu thuộc các nước đang phát triển như: Kazakhstan, Nga, Niger,
Namibia, Uzbekistan, Ukraina, Thông thường hàm lượng urani trong quặng
chỉ xấp xỉ mức 0,1 - 0,2%, điều đó có nghĩa là trên 99% lượng đất đá sau
khai thác quặng được thải loại. Sau khi khai thác, urani được làm giàu và
chiết xuất thành dạng urani nguyên liệu có thể sử dụng. Các quá trình này
thường sử dụng đến các loại axit như H
2
SO
4
. Ngoài ra, quá trình khai thác và
làm giàu quặng urani còn thải ra các chất độc như asen và chì. Loại bùn thải
độc hại chứa cả chất phóng xạ và các kim loại nặng này làm cho nhiều vùng
khai thác mỏ bị ô nhiễm nặng nề. Chúng có thể theo các dòng nước và làm ô
nhiễm một vùng rộng lớn.
( />d=3982).
2. Việt Nam:
Môi trường Việt Nam đang chịu sức ép của việc gia tăng dân số, sản
xuất nông nghiệp, công nghiệp, khai thác khoáng sản, dịch vụ với tốc độ cao,
đặc biệt ở lưu vực sông Hồng, sông Đồng Nai - Sài Gòn, đồng bằng sông
Cửu Long và ven biển miền Trung. Ở các vùng này mật độ dân cư cao nhưng
chưa có hệ thống xử lý chất thải, phần lớn lượng nước thải sinh hoạt, công
nghiệp và một phần chất thải rắn đổ vào sông, hồ gây ô nhiễm nguồn nước
(Lê Trình, 1997).
(
Bên cạnh đó, tại các vùng ven biển hiện tượng xâm nhập mặn là khá
phổ biến. Do chế độ khai thác không hợp lý, lượng nước khai thác vượt quá
khả năng cung cấp của tầng chứa nước làm nước mặn xâm nhập vào phá
16
hỏng tầng chứa nước ngọt. Những hiện tượng trên đã xảy ra không ít ở các
đô thị như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa, Vinh, Huế, Đà
Nẵng, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Minh Hải,
Kiên Giang (Nguyễn Ngọc Dung, 2008).
Việt Nam cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường
biển và ngày càng trở nên nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê cho thấy,
khoảng 70% ô nhiễm biển và đại dương có nguồn gốc từ đất liền, xuất phát
từ các chất xả thải của các thành phố, thị xã, thị trấn, từ các ngành công
nghiệp, xây dựng, hoá chất Trong đó đáng kể nhất và nguy hại nhất là các
chất thải từ các nhà máy thông qua hệ thống cống rãnh, xả thải ra biển và đại
dương một lượng lớn các chất bồi lắng, hoá chất, kim loại, nhựa, cặn dầu và
thậm chí cả các chất phóng xạ. Ngoài ra, hàng năm, trên 100 con sông ở
nước ta thải ra biển 880 km
3
nước, 270 - 300 triệu tấn phù sa, kéo theo nhiều
chất có thể gây ô nhiễm biển như các chất hữu cơ, dinh dưỡng, kim loại nặng
và nhiều chất độc hại khác từ các khu dân cư tập trung; từ các khu công
nghiệp và đô thị; từ các khu nuôi trồng thuỷ sản ven biển và từ các vùng sản
xuất nông nghiệp. Đến năm 2010, dự tính lượng chất thải sẽ tăng rất lớn ở
vùng nước ven bờ, trong đó dầu khoảng 35.160 tấn/ngày, nitơ tổng số 26 - 52
tấn/ngày và tổng amonia 15 - 30 tấn/ ngày.
( />m_ngay_cang_nghiem_trong).
3. Tình hình ô nhiễm môi trường nước ở Nha Trang - Khánh Hòa:
a) Nước thải sinh hoạt:
Theo thống kê của Chi cục Thú y Khánh Hòa, toàn tỉnh Khánh Hòa
hiện có 173 cơ sở giết mổ gia súc gia cầm. Phần lớn các cơ sở giết mổ nằm
xen kẽ trong khu dân cư và hầu như hông có hệ thống xử lý nước thải, thu
gom chất rắn theo quy định. Hoạt động của các cơ sở này đã và đang gây ra