1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như ngày
hôm nay thì sự cạnh tranh được coi là yếu tố khắc nghiệt nhất, tình trạng “cá lớn
nuốt cá bé” xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Các doanh nghiệp không chỉ cạnh
tranh với nhau trong quốc gia mà còn phải cạnh tranh với các công ty nước ngoài.
Mặt khác, kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức Thương Mại Thế
Giới (WTO) thì đã có rất nhiều tập đoàn kinh tế nước ngoài với tiềm lực về con
người, tài chính, quản lý…luôn tìm cách chiếm lĩnh thị trường đầy tiềm năng và
rất béo bở này. Các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp nước
ngoài kinh doanh tại Việt Nam luôn tìm kiếm cho mình những cơ hội kinh doanh
mới. Tuy nhiên, để thực hiện tất cả các mục tiêu đó không phải là điều đơn giản,
đôi khi phải trả những cái giá rất đắt, thậm chí có thể thất bại dẫn đến phá sản.
Nhưng cạnh tranh cũng mang lại lợi ích không nhỏ cho các công ty như: giúp tìm
ra những chiến lược phù hợp với thực trạng của công ty, không ngừng cải tiến kỹ
thuật, chủ động và linh hoạt trong sản xuất. Từ đó có thể nâng cao sức cạnh tranh,
giành lấy ưu thế trên thị trường.
Và ngành thủy sản cũng không nằm ngoài quy luật đó, đối với lĩnh vực sản
xuất nước mắm hiện nay thì sự cạnh tranh hầu như chỉ có các doanh nghiệp trong
nước với nhau. Ở Khánh Hòa, nghề làm nước mắm đã có cách đây hàng trăm năm
và đã có nhiều vùng làm nước mắm có tiếng trong tỉnh như là Bình Ba, Bình
Hưng, Cam Linh ở Cam Ranh; Cửa Bé, Chụt ở Nha Trang. Tại Nha Trang ngoài
một số doanh nghiệp mạnh như: Công ty Cổ phần Thủy Sản 584 Nha Trang,
doanh nghiệp tư nhân Chín Tuy, Châu Sơn,…thì nhiều doanh nghiệp cũng đang
dần chiếm lĩnh thị trường, nên sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Tuy
nước mắm Nha Trang đã có thương hiệu của mình nhưng do không có sự kiểm
soát chặt chẽ, tình trạng hàng thật, hàng giả trôi nổi ngoài thị trường đã ảnh hưởng
nghiêm trọng đến thương hiệu nước mắm Nha Trang.
Nhận thấy được thực tế này và qua quá trình thực tập tìm hiểu tại Công ty Cổ
5. Nguồn tƣ liệu: Trong khóa luận sử dụng các nguồn số liệu sau:
+ Nguồn số liệu thứ cấp:
- Số liệu về tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh do phòng tài
chính- kinh doanh của công ty cung cấp.
3
- Số liệu về cơ cấu tổ chức, lao động và các chính sách liên quan đến người lao
động do phòng nhân sự của công ty cung cấp.
- Số liệu về hoạt động Marketing do phòng Marketing cung cấp
- Một số số liệu khác có liên quan được thu thập từ các website
+ Nguồn số liệu sơ cấp:
- Số liệu từ điều tra, phỏng vấn cán bộ nhân viên trong công ty.
6. Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về cạnh tranh và
năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang.
- Về mặt thực tiễn:
Đề tài này sẽ giúp cho Ban lãnh đạo công ty có cái nhìn khái quát hơn về đối
thủ cạnh tranh trực tiếp và nhận thức được năng lực cạnh tranh của công ty, cũng
như xác định được điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và thách thức mà công ty có
thể gặp phải trong quá trình kinh doanh. Từ đó có những biện pháp để nâng cao
năng lực cạnh tranh của công ty.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo thì bài luận gồm có 3
chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh.
Chương II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần Thủy sản
584 Nha Trang.
Chương III: Một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực canh tranh tại Công
ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang.
cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo.
Với những quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh được hiểu là: quan hệ kinh
tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn
thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường,
giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục
đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi
ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi
ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
1.1.2 Các loại hình cạnh tranh
Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều loại
5
* Căn cứ vào tính chất cạnh tranh: Cạnh tranh được phân làm 2 loại:
- Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition): là hình thức cạnh tranh mà ở
đó có nhiều người bán và người mua, giá cả, số lượng hàng hóa sẽ do quan hệ
cung- cầu trên thị trường quyết định. Các sản phẩm bán ra trên thị trường đều phải
đồng nhất với nhau. Khi hoạt động trong thị trường này các doanh nghiệp phải bán
sản phẩm của mình theo giá thị trường.
- Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition): Đây là hình thức
cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất kinh doanh, là hình thức cạnh
tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi sản
phẩm đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau. Ở đó các nhà sản xuất đủ mạnh để
chi phối thị trường.
- Cạnh tranh độc quyền (Monopolisic Competition): Trên thị trường chỉ có
một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, giá cả của sản
phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào
quan hệ cung cầu
* Căn cứ vào chủ thể tham gia cạnh tranh: Cạnh tranh được phân làm ba loại:
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm
giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho
những biện pháp cạnh tranh hợp pháp, được xã hội thừa nhận. Cạnh tranh một
cách công bằng và lành mạnh.
- Cạnh tranh không lành mạnh (Unfair Competition): Các chủ thể kinh tế
dùng các thủ đoạn phi pháp nhằm tiêu diệt đối phương bất chấp pháp luật, lương
tâm, đạo đức nghề nghiệp. Hình thức cạnh tranh này trái với chuẩn mực xã hội và
bị xã hội lên án.
1.2 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và những đặc điểm
cạnh tranh trong lĩnh vực thủy sản
a. Khái niệm
Thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh” được sử dụng rất rộng rãi, nhưng đến nay
vẫn chưa có một định nghĩa, tiêu thức để đo lường rõ ràng. Năng lực cạnh tranh
được định nghĩa trên ba cấp độ khác nhau: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực
cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ. Chúng
có mối quan hệ mật thiết với nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Nhưng trong đề tài này
năng lực cạnh tranh dùng để nghiên cứu trong phạm vi doanh nghiệp.
7
Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế thế giới
(WEF) năm 1997 đã nêu ra: “Năng cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao
trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh
tế khác”.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện khả năng của doanh nghiệp
trong việc duy trì lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị phần tạo ra thu nhập và phát triển
bền vững (Tuấn Sơn, 2006, Sức cạnh tranh, Nxb Lao động-Xã hội, Hà Nội).
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa là khả năng sản phẩm đó tiêu
thụ được nhanh chóng khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị
trường. Hay nói một cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng
thị phần của sản phẩm đó, năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất
Mặt khác, trên thị trường nhiều doanh nghiệp chế biến khác cũng đang rất
cần nguồn nguyên liệu nên việc cạnh tranh về nguồn nguyên vật liệu là vấn đề
không thể tránh khỏi. Các doanh nghiệp không những phải chịu áp lực cạnh tranh
từ các doanh nghiệp trong tỉnh mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp ngoài
tỉnh. Bên cạnh việc cạnh tranh trong khâu tìm nguồn nguyên vật liệu thì các doanh
nghiệp còn phải đối đầu với việc cạnh tranh về sản phẩm, giá bán…
Do đó vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp cần phải làm sao để vừa đảm bảo
nguồn nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, mà vẫn đầu tư đổi mới công
nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó mới có thể nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
1.2.2 Các tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong
ngành thủy sản
1.2.2.1 Nhóm các yếu tố đầu vào
Năng lực tài chính
Vốn là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và các doanh nghiệp trong ngành thủy sản cũng không ngoại lệ. Vì
doanh nghiệp cần phải có vốn để mua các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
như: sức lao động, nguyên vật liệu và tư liệu lao động. Bên cạnh nguồn vốn của
chủ sở hữu thì các doanh nghiệp còn phải huy động rất nhiều từ nguồn vốn vay
bên ngoài, vì vậy mới có thể đảm bảo được hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra
liên tục.
9
Nhưng hiện nay các doanh nghiệp trong ngành thủy sản đang trong tình trạng
cạn vốn, nợ trong - nợ ngoài đều “vướng”, trong khi đó khả năng tiếp cận vốn vay
ngân hàng hiện nay đang bị hạn chế do lãi suất và cơ chế vay vốn còn có nhiều
điểm chưa phù hợp. Nếu các ngân hàng chỉ hướng đến các doanh nghiệp lớn, thì
các doanh nghiệp nhỏ sẽ trông chờ nguồn vốn từ đâu trong khi số lượng doanh
nghiệp nhỏ và vừa lại chiếm một phần rất lớn. Mặc dù, mặt bằng lãi suất cho vay
đã giảm, nhưng việc tiếp cận vốn vay của không ít doanh nghiệp vẫn rất khó khăn.
một đơn vị sản phẩm sẽ giảm, tăng khả năng cạnh tranh về giá cho doanh nghiệp,
dễ dàng thực hiện mục tiêu phát triển quy mô thị trường. Vì vậy, hiện nay các
doanh nghiệp trong ngành đang đầu tư mở rộng các dây chuyền máy móc, thiết bị
trong sản xuất.
Bí quyết công nghệ
Hiện nay công nghệ là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của
doanh nghiệp trong ngành thủy sản, đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến. Công
nghệ thay đổi nhanh chóng buộc các doanh nghiệp cũng phải không ngừng vận
động sáng tạo mới có thể sống sót. Yếu tố quan trọng nhất của công nghệ là bí
quyết công nghệ. Bí quyết công nghệ tạo ra cho sản phẩm những nét khác biệt và
khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng cao. Doanh nghiệp càng tạo ra được nhiều
sự khác biệt của sản phẩm so với đối thủ thì doanh nghiệp càng có nhiều ưu thế
trong cạnh tranh. Với sự khác biệt hóa của sản phẩm, doanh nghiệp sẽ tạo được
một hình ảnh riêng của mình trong tâm trí người tiêu dùng mà không thể lẫn với
các đối thủ khác. Vì vậy mỗi doanh nghiệp phải có một bí quyết công nghệ riêng,
để tạo ra những sản phẩm có tính khác biệt hóa so với sản phẩm của các đối thủ
cạnh tranh.
Hiện nay, có nhiều doanh nghiệp đã áp dụng thành công bí quyết công nghệ
của mình vào trong sản xuất. Nhất là các doanh nghiệp chế biến nước mắm, mỗi
doanh nghiệp đều có một bí quyết làm mắm khác nhau, nên nước mắm làm ra đều
mang một hương vị riêng và đã được người tiêu dùng ưa chuộng như: nước mắm
Nha Trang, nước mắm Phú Quốc, nước mắm Nam ngư,…
Nguồn nhân lực
Lao động được coi là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi hoạt động
của doanh nghiệp. Lực lượng lao động lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó chất lượng lao động thể hiện ở năng lực lãnh
11
đạo, khả năng đưa ra các quyết định đúng đắn của đội ngũ lãnh đạo, trình độ
12
nước lại đang vơi dần đi do đã qua vụ thu hoạch tại các vùng nguyên liệu. Kèm
theo đó với sự biến động của nền kinh tế như hiện nay thì giá nguyên vật liệu cũng
không ngừng tăng lên.
Do đó việc tính toán lượng nguyên vật liệu dự trữ hợp lý là điều cần thiết đối
với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành thủy sản, để đảm bảo cho quá trình
sản xuất diễn ra liên tục với chi phí hợp lý. Bên cạnh đó, thì số vốn bỏ ra để mua
nguyên vật liệu chiếm một tỷ lệ lớn trong vốn lưu động (khoảng 40%-60%), trong
khi đó thì các doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng thiếu vốn. Vì vậy, việc sử
dụng hợp lý tiết kiệm nguyên liệu là biện pháp chủ yếu tiết kiệm chi phí sản xuất,
hạ giá thành, nâng cao lợi nhuận và nâng cao khả năng cạnh tranh, góp phần nâng
cao danh tiếng của doanh nghiệp.
1.2.2.2 Nhóm các yếu tố đầu ra
Sản phẩm
Sản phẩm luôn đóng một vai trò quan trọng trong cạnh tranh của doanh
nghiệp. Chất lượng sản phẩm tốt, có nhiều điểm khác biệt và thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng sẽ có lợi thế rất lớn trong cạnh tranh. Nhưng trong các ngành chế biến
thủy sản thì các sản phẩm thường có tính đồng dạng, do đó các doanh nghiệp cần
phải tạo ra nét khác biệt trong sản phẩm của doanh nghiệp mình so với đối thủ
cạnh tranh. Bên cạnh đó để sản xuất ra sản phẩm có chất lượng, tính năng sử dụng
cao thì đòi hỏi chi phí sản xuất nhiều, vì vậy doanh nghiệp cần phải tính đến chi
phí sản xuất sao cho hợp lý, thể hiện ở chi phí đơn vị của doanh nghiệp.
Nếu chi phí đơn vị của doanh nghiệp thấp thì giá thành trên một đơn vị sản
phẩm giảm, và giá bán sẽ rẻ hơn sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, như vậy sẽ
giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh về giá của sản phẩm.
Sản phẩm bao gồm chất lượng bên trong, hình thức bên ngoài và nhiều yếu
tố khác nữa. Do đó để đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm cần phải đánh
giá tổng hợp nhiều yếu tố.
Giá cả
trong ngành phải không ngừng hoàn thiện và mở rộng kênh phân phối của mình.
Thị phần
Thị phần là chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này mà các doanh nghiệp trong ngành
sẽ biết mình đang ở vị trí nào trên thị trường. Có hai cách tính thị phần:
14
Thị phần thể hiện khả năng chiếm lĩnh, khai phá và thâm nhập thị trường,
đồng thời cũng phản ánh sự phát triển quy mô thị trường của doanh nghiệp. Tuy
nhiên, chỉ tiêu này khó đảm bảo tính chính xác do phạm vi nghiên cứu rộng và
thường xuyên biến động. Chỉ tiêu này bao gồm:
Thứ nhất là thị phần so với toàn bộ thị trường: Được tính bằng tỷ lệ giữa
doanh thu của doanh nghiệp trên tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.
Chỉ tiêu này cho biết vị trí, mức độ ảnh hưởng của doanh nghiệp trên thị trường,
doanh nghiệp có khả năng chi phối thị trường hay chịu sự chi phối của thị trường.
Thứ hai là thị phần so với đối thủ cạnh tranh chính: Chỉ tiêu này tính bằng tỷ
lệ giữa doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp trên doanh thu tiêu thụ của đối thủ
cạnh tranh chính. Nó phản ánh vị trí của doanh nghiệp, sức mạnh cạnh tranh của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh chính.
Hoạt động Marketing
Hoạt động Marketing ngày càng được các doanh nghiệp chú trọng đầu tư
nhiều hơn, nó như là một công cụ cạnh tranh quan trọng. Hoạt động marketing bao
gồm các hoạt động nghiên cứu thị trường, các hoạt động xúc tiến bán hàng như:
quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng và các dịch vụ khách hàng…
Doanh nghiệp nào trong ngành đầu tư nhiều cho hoạt động Marketing thì sản
phẩm của họ sẽ được người tiêu dùng biết đến nhiều, tuy nhiên cùng với việc đầu
tư cho hoạt động Marketing thì xây dựng chiến lược Marketing hợp lý sẽ tạo được
thương hiệu mạnh và sản lượng tiêu thụ cũng cao hơn so với đối thủ, từ đó tạo
được vị thế cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường.
Để đầu tư cho các hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải có nguồn vốn
Gía cả đầu vào tăng làm tăng giá thành sản phẩm, gây khó khăn cho việc sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất
phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên vật liệu như các doanh nghiệp chế biến nước
mắm, thủy hải sản,…
Môi trường chính trị-pháp luật
Bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ
thống luật pháp hiện hành, các xu hướng chính trị ngoại giao của chính phủ và
những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới.
Các yếu tố chính trị và pháp luật có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động
của các doanh nghiệp trong ngành thủy sản. Tùy theo chính sách mà tác động tích
16
cực hay tiêu cực đến doanh nghiệp. Có những chính sách tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp này nhưng lại bất lợi cho doanh nghiệp khác. Do đó một thể chế chính trị
pháp luật ổn định, rõ ràng sẽ là cơ sở đảm bảo cho sự thuận của doanh nghiệp khi
tham gia vào thị trường và cạnh tranh một cách bình đẳng.
Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải kết hợp những quy định của chính phủ với
sức mạnh của công ty để tạo cơ hội cho doanh nghiệp mình. Các doanh nghiệp cần
phải thường xuyên tìm hiểu một số quy định của Chính phủ về chiến lược phát
triển ngành thủy sản, chẳng hạn như: Nghị định 14/2009/NĐ-CP ngày 13/02/2009
về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản, Quyết định số
3156/QĐ-BNN-CB, ngày 14/11/2005 về việc phê duyệt "Kế hoạch kiện toàn quản
lý chất lượng chuyên ngành của Cục Chế biến nông lâm sản và nghề muối". Nghị
định 79/2008/NĐ-CP ngày 17/07/2008 Quy định hệ thống tổ chức quản lý, thanh
tra và kiểm nghiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm,… để từ đó các doanh nghiệp có
thể đưa ra các chiến lược sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp. Các yếu tố văn hóa, xã hội
Bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà được xã hội hay một nền văn hóa
chưa tạo ra được những sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Nhưng dần dần các
doanh nghiệp đã áp dụng máy móc, khoa học công nghệ hiện đại vào trong sản
xuất nên đã giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, giảm bớt các
khoảng chi phí không cần thiết, tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt, góp phần
nâng cao khả năng cạnh tranh trước các đối thủ.
Nếu trong chiến lược kinh doanh không thể hiện được chiến lược công nghệ
trong từng thời kỳ thì nguy cơ có thể làm cho vòng đời sản phẩm của doanh
nghiệp bị suy thoái trực tiếp hay gián tiếp, khi đó sản phẩm sản xuất ra sẽ không
đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong từng thời kỳ, đó sẽ là một sai lầm rất
lớn ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2.3.2 Môi trƣờng vi mô
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối
với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất
kinh doanh đó. Có 5 yếu tố cơ bản sau: 18
Hình 1.1 : Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Micheal Porter Đe dọa của đối
thủ chưa xuất hiện
Quyền lực Quyền lực
Khách hàng
Nhà phân
phối
Nhà
cung
cấp
Sản phẩm thay thế
19
doanh nghiệp hiện tại, vì vậy các doanh nghiệp cần phải ngăn chặn sự gia nhập
ngành của các đối thủ tiềm ẩn, bằng cách tạo ra các rào cản gia nhập như sự khác
biệt hóa và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm
Áp lực từ nhà cung cấp
Ngành sản xuất nào cũng đòi hỏi phải có nguyên vật liệu, lao động và các
yếu tố đầu vào khác. Đối với các doanh nghiệp chế biến thủy sản thì nguyên vật
liệu là yếu tố đầu vào quan trọng nhất, nếu không có nguồn nguyên vật liệu thì
doanh nghiệp không thể hoạt động được. Từ các yêu cầu đó buộc doanh nghiệp
phải thiết lập mối quan hệ với các nhà cung cấp mà ở đó có sự mặc cả về giá bán,
khối lượng, chất lượng, số lượng Nếu nhà cung cấp có lợi thế hơn trong đàm
phán thì có thể có những tác động quan trọng vào ngành sản xuất như việc ép giá
nguyên vật liệu, không cung cấp đầy đủ kịp thời nguyên vật liệu,… để khắc phục
tình trạng này doanh nghiệp cần phải xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với nhà
cung cấp, tìm kiếm thông tin về nhà cung cấp khác nhau và các nguồn nguyên liệu
mới.
Áp lực từ khách hàng
Khách hàng là một phần của công ty, khách hàng trung thành là một lợi thế
lớn của công ty. Sự trung thành của khách hàng được tạo dựng bởi sự thỏa mãn
những nhu cầu mong muốn của khách hàng.
Một vấn đề liên quan đến khách hàng là khả năng mặc cả giá của họ, khách
hàng là người luôn muốn mua những sản phẩm có chất lượng tốt, giá rẻ và có
mà tại đó doanh nghiệp có khả năng tác động đến các lực lượng cạnh tranh một
cách hiệu quả. Khi tốc độ hội nhập càng nhanh, mức độ cạnh tranh càng gia tăng
thì sự quan tâm đến vấn đề năng lực cạnh tranh càng cần thiết. Việc nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của
toàn ngành, góp phần giúp cho nền kinh tế hoạt động một cách có hiệu quả hơn,
tạo ra sản phẩm tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn… làm cho đời sống xã hội
ngày càng phong phú hơn.
1.2.5 Các chiến lƣợc cạnh tranh chủ yếu
Micheal Porter đã đề xuất ba chiến lược cạnh tranh chung để giành được lợi
thế cạnh tranh.
21
Ba chiến lược cạnh
tranh chung có liên quan
mật thiết tới quy mô hoạt
động của doanh nghiệp
cũng như mức độ khác biệt
sản phẩm mà doanh nghiệp
đang tìm kiếm
1.2.5.1 Chiến lƣợc khác biệt hóa
Là chiến lược tạo ra sự khác biệt hóa cho sản phẩm hay dịch vụ mà công ty
cung cấp ra ngoài thị trường. Có nhiều hình thức khác biệt hóa như: đặc trưng của
thiết kế, uy tín của nhãn hiệu, hệ thống phân phối, thái độ phục vụ của nhân viên,
quảng cáo ấn tượng…Tức là công ty phải làm cho mình khác người ở một phương
diện nào đó. Chính tính khác biệt của sản phẩm mà các đối thủ không thể nào bì
cạnh tranh thậm chí có thể cao hơn nhưng giá bán phải thấp hơn hẳn. Chiến lược
này có hai ưu điểm sau:
Thứ nhất, Vì chi phí thấp nên doanh nghiệp có thể định giá bán sản phẩm
thấp hơn các đối thủ cạnh tranh nhưng vẫn thu lợi nhuận ngang bằng họ. Trong
trường hợp có cuộc chiến tranh về giá thì doanh nghiệp vẫn thu được lợi nhất định
trong khi lợi nhuận của đối thủ bằng không.
Thứ hai, Doanh nghiệp có vị trí thuận lợi hơn so với các đối thủ cạnh tranh
trước sức ép của khách hàng nếu cuộc chiến tranh về giá xảy ra. Hơn nữa, lợi thế
về chi phí hay tính kinh tế nhờ quy mô cũng là một trong các rào cản ngăn chặn
đối thủ mới gia nhập ngành.
Tuy nhiên khi sử dụng chiến lược này doanh nghiệp phải hết sức thận trọng
vì chiến lược này rất dễ bị đối thủ làm theo.
1.2.5.3 Chiến lƣợc tập trung vào trọng điểm
Đây là chiến lược mà doanh nghiệp dồn toàn bộ nguồn lực của mình tập
trung vào một hoặc một số phân khúc thị trường nào đó mà doanh nghiệp có lợi
hơn so với đối thủ cạnh tranh. Trong chiến lược tập trung vào trọng điểm, doanh
nghiệp hướng tới sự khác biệt về nhu cầu trong một hoặc một vài phân đoạn thị
trường mục tiêu.
Vấn đề quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào là khi áp dụng chiến lược
này, phải đảm bảo rằng các khách hàng thật sự có những nhu cầu và mong muốn
khác biệt mà sản phẩm của những đối thủ cạnh tranh hiện tại không thể đáp ứng
những nhu cầu và mong muốn đó.
Với chiến lược này công ty sẽ phục vụ nhóm khách hàng của mình tốt hơn so
với những đối thủ cạnh tranh phải phục vụ trong một thị trường rộng lớn.
23
Một số yêu cầu phổ biến với các chiến lƣợc chung
Bảng 1.1 Một số yêu cầu phổ biến với các chiến lược chung:
Chiến lƣợc
Những yêu cầu chung
hóa
- Khả năng Marketing cao.
- Thiết kế lắp đặt sản phẩm.
- Khả năng nhạy bén, sáng tạo.
- Khả năng mạnh về nghiên cứu.
- Nổi tiếng về chất lượng hoặc đi
đầu về công nghệ.
- Có truyền thống ngành nghề
hoặc sự kết hợp độc đáo các kỹ
năng có được từ các ngành kinh
doanh khác.
- Giữa các kênh phân phối có sự
hợp tác tốt.
- Sự phối hợp tốt giữa các chức
năng về nghiên cứu và phát triển,
phát triển sản phẩm và Marketing.
- Đo lường chủ quan và khuyến
khích thay vì những biện pháp
định lượng.
- Những thuận tiện để thu hút lao
động kỹ thuật cao, các nhà khoa
học, hoặc những người có khả
năng sáng tạo.
Tập trung vào
trọng điểm
- Kết hợp giữa các yêu cầu trên và
hướng vào thị trường chiến lược
cụ thể.
- Kết hợp giữa yêu cầu trên và
hướng vào thị trường chiến lược
tìm hướng đi mới là cắt giảm, loại bỏ những sản phẩm không có hiệu quả, chỉ đầu
tư vào sản xuất mặt hàng nước mắm để phù hợp với qui mô, năng lực sản xuất, sản
phẩm bán ra có giá trị và lợi nhuận không cao. Với tinh thần vượt khó, sự nổ lực
không ngừng của đội ngũ cán bộ, công nhân viên, hoạt động sản xuất của công ty
từng bước đi vào ổn định, tiếp tục trụ vững và ngày càng phát triển mạnh.
Năm 1991, xí nghiệp bắt đầu sản xuất các loại sản phẩm như cá khô, mắm
nêm, nước mắm… nhưng do nhu cầu thị trường về các loại sản phẩm mắm nêm,
mắm ruốc, cá khô hạn chế, thêm vào đó là sự hữu hạn về năng lực cũng nhu quy
mô nên xí nghiệp không đủ khả năng để tiếp tục phát triển sản phẩm này. Do đó,
công ty đã cắt giảm, loại bỏ những sản phẩm không có hiệu quả, chỉ sản xuất duy
nhất mặt hàng nước mắm.
25
Nhờ sự nổ lực không ngừng mà sản phẩm của xí nghiệp đã có mặt trên nhiều
tỉnh thành trong cả nước như: Thái Nguyên, Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẵng,…
Ngày 01/2/2004 Xí nghiệp Thủy sản Nha Trang chính thức được chuyển giao
từ công ty thủy sản khu vực II về Công ty Xuất nhập khẩu Thủy sản miền Trung.
Tháng 3/2006 do sự thay đổi lộ trình kinh tế thế, Nhà nước đã chủ trương
“rao bán khoán, cho thuê, giải thuê, sát nhâp”. Công ty Thủy sản khu vực II không
còn phù hợp với điều kiện mới nên Xí nghiệp Thủy sản Nha Trang đã chính thức
được cổ phần hóa và đổi tên là Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang.
Ngoài tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đổi mới mẫu mã, nâng
cao chất lượng sản phẩm, đơn vị luôn luôn năng động và linh hoạt trong việc mở
rộng thị trường. Và cho đến nay công ty đã đạt được nhiều thành tựu như: sản
phẩm mắm nhĩ của công ty đạt danh hiệu “hàng việt nam chất lượng cao” từ năm
2000-2009; “chất lượng vàng” tại hội chợ triển lãm du lịch và thương mại khánh
hoà;
“thực phẩm chất lượng và an toàn”; “cúp vàng” hội chợ triển lãm Festival Tây
Nguyên ; “sản phẩm chất lượng vì sức khoẻ cộng đồng” tại hội chợ triển lãm vì