Các biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng nông sản xuất khẩu tại công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I - Pdf 22

Website: Email : Tel : 0918.775.368Lời nói đầu
Ngày nay thị trờng thế giới đang mở ra nhiều triển vọng lớn, cùng với
chính sách mở cửa của Nhà nớc đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng xuất khẩu
phát triển và đủ khả năng hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Kinh nghiệm của
các nớc đi trớc cộng với lợi thế của mình, Việt nam đã chọn xuất khẩu nông
sản là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn trong chiến lợc phát triển
kinh tế xã hội. Xét tơng quan trong toàn nghành nông nghiệp, xuất khẩu nông
sản chiếm một vị trí quan trọng về tổng sản lợng, nộp ngân sách và đặc biệt đã
thu hút hơn 70%lực lợng lao động của cả nớc.
Bên cạnh những thuận lợi cũng nh những thời cơ nói trên, xuất khẩu
nông sản cũng gặp nhiều thách thức, khó khăn. Các đơn vị kinh doanh xuất
khẩu nông sản luôn luôn mất ổn định và trải qua những thăng trầm diễn biến
của thị trờng. Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I với tên giao dịch quốc tế
GENERALEXIM cũng trải qua những thách thức đó.
Trong thời gian qua cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở các nớc Châu
á và lan rộng ra một số nớc phơng Tây cũng làm thu hẹp thị trờng hàng nông
sản xuất khẩu của công ty. Trong thời gian tới đất nớc gia nhập AFTA đặt ra
cho công ty bài toán làm sao để khỏi bị loại khỏi thị trờng quốc tế, đứng vững
và kinh doanh có lãi. Cả thị trờng trong nớc và ngoài nớc đều có những vấn đề
khó khăn cho công ty khi tiếp cận. Đối với thị trờng nớc ngoài ngời tiêu dùng
là ngời khó tính, họ có nhiều khả năng lựa chọn từ lựa chọn chủng loại đến
kiểu cách tiêu chuẩn chất lợng... nhng họ là những ngời có vai trò quan trọng.
Bên cạnh đó việc xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nớc làm
cho cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn.
Tình hình đó đòi hỏi nhà quản lý công ty phải làm sao giữ đợc bạn hàng
cũ, mở rộng quan hệ tìm kiếm khách hàng mới tiềm năng. Muốn đạt đợc điều
đó, công ty phải hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lợng, vận chuyển giao
hàng đúng thời hạn, phù hợp với thị hiếu của ngời tiêu dùng ở từng khu vực.

các phòng nghiệp vụ.
Sinh viên thực hiện: Trân Nam Trung
Phần I- Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng

2
Website: Email : Tel : 0918.775.368I-Cạnh tranh và các hình thức cạnh tranh trong nền kinh tế thị tr-
ờng
Nền kinh tế thị trờng là sự phát triển cao hơn của nền kinh tế hàng hoá,
đặc trng cơ bản nhất của kinh tế hàng hoá là sản phẩm đợc sản xuất ra với mục
đích để bán chứ không phải dành cho tiêu dùng cá nhân ngời sản xuất, trong
quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá thì giữa những ngời sản xuất luôn có sự
ganh đua nhau nhằm giành lợi thế cho mình, trong nền kinh tế thị trờng thì sự
ganh đua giữa các chủ thể kinh tế diễn ra gay gắt hơn do tính chất và trình độ
của nền kinh tế thị trờng quyết định và đây chính là mầm mống của cạnh
tranh. Cạnh tranh ra đời và phát triển trong lòng kinh tế thị trờng và chỉ trong
Kinh tế thị trờng cạnh tranh mới có thể phát triển tới đỉnh điểm cả về quy mô,
tính chất và trình độ. Khi nói tới cơ chế thị trờng là nói tới môi trờng cạnh
tranh. Do đó bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trờng dù
muốn hay không muốn đều ít nhiều chịu tác động của cạnh tranh ở các mức
độ khác nhau. Các doanh nghiệp thành công trong cơ chế thị trờng là các
doanh nghiệp biết thích nghi với cạnh tranh và luôn cố gắng giành lấy thế chủ
động cho mình trong các quan hệ kinh tế-xã hội bằng các yếu tố thích hợp.
Một số doanh nghiệp để giành thắng lợi trong cạnh tranh ngoài việc sử dụng
các kỹ năng và kinh nghiệm trong việc tạo ra các lợi thế cạnh tranh, họ đã
không ngần ngại sử dụng cả những âm mu và thủ đoạn tuy nhiên không phải
các doanh nghiệp này lúc nào cũng thành công, điều kiện qua trọng dẫn tới

mua, ngời cung ứng và các nhà sản xuất sản phẩm thay thế .
Hai là : Đối tợng của cạnh tranh . Đối tợng của cạnh tranh có thể là sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ hay khách hàng.
Ba là : Môi trờng cho cạnh tranh : là các yếu tố cần thiết cho qúa trình
cạnh tranh nh là cơ chế kinh tế , hệ thống luật pháp.
Khi nghiên cứu về cạnh tranh ta thấy rằng giữa sự phát triển của nền kinh tế và
sự phát triển của cạnh tranh có mối liên hệ tác động qua lại với nhau thể hiện ở

4
Website: Email : Tel : 0918.775.368chỗ cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, khi sản xuất phát triển
tạo ra những thay đổi trong cạnh tranh cả về quy mô, hình thức và tính chất.
Kết quả của cạnh tranh sẽ loại bỏ các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả,
đó là sự sàng lọc cần thiết, là quy luật của sự phát triển, là tiền đề cho sự thành
công của mỗi quốc gia trên con đờng phát triển.
2. Đặc điểm cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam
Trong cạnh tranh bao giờ cũng có các chủ thể cạnh tranh cùng với công cụ
cạnh tranh và môi trờng cạnh tranh là tất cả các yếu tố có tác động tới cạnh
tranh.
2.1. Đặc điểm về môi trờng cạnh tranh
Môi trờng cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam có thể nói là lộn xộn và không
lành mạnh do cha có Luật về cạnh tranh và còn có một số doanh nghiệp hiện
vẫn đang hoạt động sản xuất kinh doanh theo kiểu thơng vụ mà cha có chiến l-
ợc kinh doanh ổn định, cha thực sự coi trọng lợi ích và vai trò của khách hàng.
Điều này đã ảnh hởng xấu đến các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh một cách
lành mạnh và xâm phạm tới lợi ích của khách hàng . Trong thời gian tới đây
Quốc Hội sẽ ban hành Luật cạnh tranh và khi đó tình hình sẽ đợc cải thiện một
bớc và khi đó các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh thực sự sẽ bị

3. Các loại cạnh tranh
Với mỗi vấn đề, đứng trên các giác độ khác nhau ngời ta có những cách
nhìn nhận khác nhau với những mục đích khác nhau. Với cách phân loại cạnh
tranh cũng vậy, với mỗi tiêu thức khác nhau ngời ta có cách phân loại khác
nhau:
3.1. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế có :
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành .
- Cạnh tranh giữa các ngành .
Cạnh tranh trong nội bộ ngành : là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong cùng một ngành, cùng sản xuất và tiêu thụ 1 loại hàng hoá . Các doanh
nghiệp này có đặc trng về mặt kinh tế-kỹ thuật giống nhau hoặc tơng tự nhau

6
Website: Email : Tel : 0918.775.368thể hiện ở công nghệ, nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm và công dụng cụ
thể của sản phẩm. Trong cuộc cạnh tranh này thì hầu hết là bản thân mỗi
doanh nghiệp là một đối thủ cạnh tranh và biện pháp cạnh tranh chủ yếu là cải
tiến kỹ thuật, tăng năng suất, hạ giá thành .
Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong các ngành kinh tế khác nhau . Giữa các doanh nghiệp này có sự khác
nhau về công nghệ hay nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm hoặc công dụng
cụ thể của sản phẩm, nhng giữa các doanh nghiệp này có một điểm giống nhau
rất lớn đó là về mục đích của mọi hoạt động đều nhằm đạt đợc lợi nhuận cao.
Do đó các doanh nghiệp trong ngành có lợi nhuận thấp có xu hớng chuyển
sanh hoạt động trong các ngành có lợi nhuận cao hơn . Kết quả của sự chuyển
dịch này tạo ra sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành và hình thành tỷ suất
lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành . Trong cuộc cạnh tranh này luôn có
sự hợp tác nhất định giữa các doanh nghiệp trong ngành trên một số lĩnh vực

sự cố gắng lớn lao, chi phí lớn và có rủi ro cao . Khi có đối thủ mới ra nhập
hay rút lui thì ngay lập tức các đối thủ hiện tại sẽ nhận ra điều này và đa ra các
hành động phù hợp một cách nhanh chóng . Giá cả có thể đợc sử dụng làm
công cụ cạnh tranh nhng không phải là công cụ hàng đầu, mà công cụ hàng
đầu có thể là tính độc đáo của sản phẩm hay chất lợng sản phẩm và dịch vụ.
Thờng thì các doanh nghiệp trong thị trờng này luôn cố gắng tạo ra hình ảnh
của riêng mình và sử dụng nó để lôi kéo khách hành về phía mình . Loại cạnh
tranh này rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
Cạnh tranh độc quyền : là loại hình cạnh tranh mà trên thị trờng có một số
ít ngời bán những sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều ngời mà mỗi ngời chỉ bán
một loại sản phẩm mang nhãn hiệu và có một số thuộc tính duy nhất . Những
ngời bán này gần nh có thể kiểm soát toàn bộ số lợng sản phẩm hàng hoá bán
ra trên thị trờng . Thị trờng này có sự pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh do
vậy đợc gọi là cạnh tranh độc quyền . Đây là loại cạnh tranh mà Nhà nớc cố
gắng tác động để đảm bảo luôn có tính cạnh tranh bởi lẽ loại cạnh tranh này

8
Website: Email : Tel : 0918.775.368rất dễ dẫn đến độc quyền và khi đã dẫn đến độc quyền thì nó sẽ làm tổn hại
đến lợi ích xã hội và làm chậm lại sự phát triển của nền kinh tế . Điều kiện ra
nhập và rút lui trong thị trờng này có rất nhiều trở ngại không thuận lợi nh
trong hai loại cạnh tranh trên, ngoài những đòi hỏi về tiềm lực tài chính và
những thế mạnh về sản phẩm và dịch vụ ra nó còn đòi hỏi doanh nghiệp cần
phải có bí quyết công nghệ và khải năng chịu đựng trong một khoảng thời gian
đủ dài. Thị trờng cạnh tranh độc quyền không có sự cạnh tranh về giá cả mà
mỗi ngời bán toàn quyền quyết định giá cả sản phẩm của mình, tuỳ thuộc vào
đặc điểm của mỗi loại sản phẩm và đặc điểm của các phân đoạn thị trờng cũng
nh mức độ độc quyền trên thị trờng . Công cụ cạnh tranh đợc sử dụng trong thị

nh: đồ cổ hay những bức tranh nổi tiếng của các hoạ sỹ nổi tiếng và lúc này c-
ờng độ cạnh tranh là cao nhất, giá cả của hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng vọt nhng
ngời mua vẫn sẵn sàng chấp nhận mua. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là ng-
ời bán sẽ đợc lợi và ngời mua nhận đợc thứ mà mình cần với chi phí cao hơn
nhng vẫn chấp nhận.
Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau : đây là cuộc cạnh tranh chính
trên thị trờng, mang tính gay go khốc liệt nhất và có ý nghĩa sống còn đối với
doanh nghiệp . Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau , thủ tiêu nhau nhằm
giành giật khách hàng và thị trờng , giành giật những điều kiện thuận lợi trong
sản xuất tiêu thụ cũng nh trong các mối quan hệ kinh tế . Kết quả của cuộc
cạnh tranh này là một sự đào thải có chọn lọc và các doanh nghiệp chiến thắng
có cơ hội để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận mở rộng quy mô sản xuất và tăng
thị phần tạo ra sự phát triển vững chắc. Thực tế cho thấy, khi sản xuất hàng
hoá càng phát triển, số ngời bán tăng lên thì cạnh tranh cũng ngày càng quyết
liệt và các doanh nghiệp thành công là các doanh nghiệp giám đối đầu với
cạnh tranh, tạo đợc vũ khí cạnh tranh có hiệu quả và giám chấp nhận luật
chơi.
4. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng.

10
Website: Email : Tel : 0918.775.368* Cạnh tranh buộc doanh nghiệp sử dụng tài nguyên một cách tối u và
khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.
Chỉ có nh vậy các doanh nghiệp mới có thể giảm bớt chi phí, giảm giá thành
sản phẩm để giành thị phần với các đối thủ cạnh tranh. áp dụng khoa học công
nghệ mới không những cho phép doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực một
cách tối u nhất mà còn cho phép hiện đại hoá dây chuyền sản xuất tăng năng
suất góp phần hiện đại hoá sản phẩm.

lịch sử hoạt động một cách thực sự trôi chảy thì còn rất nhiều việc phải làm.
Một trong số những việc cha làm và rất khó làm nhng không thể không làm
chính là tạo lập môi trờng có tính cạnh tranh và những điều kiện pháp lý đảm
bảo cho sự cạnh tranh công bằng, lành mạnh.
Nền kinh tế Việt Nam có kế thừa nền kinh tế tập trung với tính độc
quyền nằm ngay trong cơ chế quản lý nên chính sách cạnh tranh chống độc
quyền trớc hết nhằm hạn chế các yếu tố độc quyền trong cơ chế quản lý kinh
tế của Nhà nớc. Thực chất của quá trình đổi mới kinh tế là quá trình giải độc
quyền của cơ chế quản lý tập trung. Sự hiển thị độc quyền ở Việt Nam là sự
tồn tại của một số Tổng công ty Nhà nớc. Chính sự vận hành của cơ chế Tổng
công ty đã triệt tiêu tính cạnh tranh của thị trờng mặc dù ý đồ thiết lập những
tập đoàn kinh tế mạnh để tăng sức cạnh tranh là hoàn toàn chính đáng. Nhng
khác với điều mong đợi là trở thành đội quân chủ lực, lôi kéo doanh nghiệp
vừa và nhỏ khác thành một đội hình tăng mạnh, tăng khả năng cạnh tranh với
tập đoàn kinh tế nớc ngoài thì các Tổng công ty lại cạnh tranh với ngời nhà
ngay trên sân nhà bằng chính lợi thế độc quyền của cơ chế. Những Tổng
công ty có mức lãi trớc thuế cao nhất, những sản phẩm kém sức cạnh tranh
phần lớn là những sản phẩm mang tính độc quyền dới 2 dạng chính: hoặc là
sản phẩm của một hay một số ít nhà cung cấp nh Tổng công ty 90- 91 hoặc
là sản phẩm đợc bảo hộ thậm chí cả hai hình thức đó.
Tóm lại, tình trạng kém sức cạnh tranh của nền kinh tế hiện nay không
chỉ biểu hiện ở khía cạnh những thông số kỹ thuật của sản phẩm nh giá cả cao,

12
Website: Email : Tel : 0918.775.368chất lợng thấp, chủng loại, kiểu dáng, bao bì kém hấp dẫn. Điều đáng nói là sự
thiếu vắng một môi trờng trong đó các yếu tố độc quyền bị hạn chế. Sự tồn tại
cơ chế xin cho kết hợp với kiểu hình thành và vận hành của mô hình tổng công

doanh nghiệp luôn cố gắng nhiều hơn để có đợc phần bánh của mình. Kết
cấu ngành thể hiện ở mối tơng quan lực lợng giữa các doanh nghiệp trong
ngành, nếu nh số lợng các doanh nghiệp trong ngành ít nhng tơng quan lực l-
ợng giữa các doanh nghiệp là ngang nhau thì cờng độ cạnh tranh cũng lớn do
các doanh nghiệp luôn có tham vọng vơn lên dẫn đầu trong ngành và họ cho
rằng cơ hội cho mỗi doanh nghiệp là gần ngang nhau.
Thứ hai là tốc độ tăng trởng của ngành: thờng thì khi tốc độ tăng trởng của
ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động cao thì cờng độ cạnh tranh trong
ngành là thấp, nhng cờng độ cạnh tranh giữa các ngành khác với ngành này thì
lại cao do sự chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận đã nghiên cứu ở trên. Ngợc lại khi
tốc độ tăng trởng của ngành thấp thì cờng độ cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong ngành là rất cao do các doanh nghiệp đã nhận thấy đợc sự suy
thoái của ngành mình, cái bánh còn lại thì quá bé mà ai cũng muốn phần
bánh to để sớm thu hồi vốn đầu t và chuyển sang kinh doanh trong những
ngành có tốc độ tăng trởng cao hơn.
Thứ ba là tỷ trọng giữa chi phí cố định và chi phí dự trữ trên tổng vốn kinh
doanh : đối với các ngành có tỷ lệ chi phí cố định trên tổng vốn kinh doanh
cao thì thờng có áp lực thu hồi vốn lớn, tỷ lệ chi phí dự trữ trên tổng vốn kinh
doanh cao thì thờng rủi ro lớn, tốc độ quay vòng vốn chậm và cờng độ cạnh
tranh mạnh hơn trong các ngành có hai tỷ lệ này thấp .
Thứ t là sự khác biệt giữa các đối thủ cạnh tranh về văn hoá phong tục tập
quán, trình độ quản lý và ngôn ngữ : về các nhân tố này giữa các doanh nghiệp
có sự khác nhau càng lớn thì cờng độ cạnh tranh càng giảm . Về văn hoá và
phong tục tập quán, giữa các doanh nghiệp mà có sự khác nhau lớn thì họ khó
có thể có sự hiểu biết sâu sắc về nhau và do đó có cách nhìn khác nhau về một
vấn đề và tơng tự cũng có những cách giải quyết khác nhau và cờng độ cạnh

14
Website: Email : Tel : 0918.775.368


Website: Email : Tel : 0918.775.368nhân. các quản trị viên cấp cao có ảnh hởng lớn đến các quyết định quản lý
của doanh nghiệp. Nếu họ có trình độ quản lý cao, có nhiều kinh nghiệm kinh
doanh trên thơng trờng, khả năng đánh giá và khả năng đối ngoại tốt thì doanh
nghiệp sẽ có sức cạnh tranh lớn hơn. Đội ngũ quản lý cấp doanh nghiệp là
những nhà quản lý chủ chốt nếu nh có kinh nghiệm công tác, phong cách quản
lý, khả năng ra quyết định, khả năng xây dựng ê kíp quản lý và sự hiểu biết về
kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi. Họ sẽ có đầy nhiệt huyết
với doanh nghiệp. Mặt khác các cán bộ quản lý với trình độ hiểu biết khác
nhau có thể tạo ra nhiều ý tởng chiến lợc sáng tạo. Đội ngũ công nhân cũng có
ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố về
năng suất, trình độ tay nghề và ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động và sự sáng
tạo của họ.
Nhân tố thứ hai: khả năng tổ chức quản lý
Khả năng tổ chức quản lý đợc thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, bộ máy
quản trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí đặc biệt nề nếp hoạt động
của doanh nghiệp.
Nề nếp tổ chức định hớng cho phần lớn công việc trong doanh nghiệp. Nó
ảnh hởng tới phơng thức ra quyết định của nhà quản trị, quan điểm của họ với
các chiến lợc và điều kiện môi trờng của doanh nghiệp. Nề nếp đó có thể là
nhợc điểm gây cản trở cho việc hoạch định và thực hiện chiến lợc hoặc là u
điểm thúc đẩy các hoạt động đó. Các công ty có nề nếp mạnh, tích cực thì sẽ
có nhiều cơ hội để thành công hơn các công ty có nề nếp yếu kém hoặc tiêu
cực. Nề nếp của tổ chức là tổng hợp các kinh nghiệm, cá tính bầu không khí
làm việc của doanh nghiệp mà khi liên kết với nhau tạo thành phơng thức mà
chúng ta hoàn thành công việc ở đó. Thực chất nề nếp của doanh nghiệp là cơ
chế tơng tác với môi trờng. Do vậy, doanh nghiệp cần phải xây dựng đợc một
nề nếp tốt khuyến khích các nhân viên tiếp thu các chuẩn mực đạo đức và thái

năng lực sản xuất lớn sẽ có nhiều lợi thế hơn so với doanh nghiệp có quy mô
và năng lực sản xuất nhỏ vì quy mô và năng lực sản xuất sẽ tạo ra sản phẩm

17
Website: Email : Tel : 0918.775.368với khối lợng lớn , nhờ đó mà hạ đợc giá thành sản phẩm, đồng thời khi mà
sản phẩm đã phù hợp với ngời tiêu dùng thì với khối lợng lớn sẽ cho phép
doanh nghiệp chiếm lĩnh và giữ vững thị trờng trên nhiều khu vực khác nhau,
tránh sự xâm nhập của đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp có quy mô và năng
lực sản xuất lớn sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc với khách hàng hơn, nên dễ nắm
bắt và thoả mãn nhu cầu của khách hàng, còn khách hàng thì càng tín nhiệm
doanh nghiệp hơn.
+ Nguồn cung cấp nguyên vật liệu: Nếu một doanh nghiệp có nguồn
cung cấp nguyên vật liệu không tin cậy sẽ không có chơng trình kiểm tra chất
lợng hiệu quả hoặc không thể kiểm tra chi phí của họ thì sẽ đặt doanh nghiệp
vào vị trí bất lợi khi cạnh tranh.
+ Vị trí địa lý: Việc lựa chọn vị trí mặt bằng sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp là vô cùng quan trọng. Vị trí của doanh nghiệp có đảm bảo
nguồn điện cung cấp đầy đủ cho sản xuất hay không. Vị trí địa lý còn ảnh h-
ởng đến các yếu tố chi phí nh đất đai, nhà cửa lao động, chi phí vận chuyển.
Các bộ phận chi phí này đều tham gia cấu thành vào trong giá thành của sản
phẩm. Việc lựa chọn vị trí địa lý của doanh nghiệp còn tạo thuận lợi hoặc gây
khó khăn cho doanh nghiệp trong việc liên hệ hoặc giao dịch với đối tác.
Nhân tố thứ năm: Hoạt động Marketing
Nền kinh tế thị trờng với sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
không thể không có hoạt động Marketing. Bộ phận quản lý Marketing phân
tích các nhu cầu thị hiếu , sở thích của thị trờng và hoạch định các chiến lợc
hữu hiệu về sản phẩm, giá cả, giao tiếp và phân phối phù hợp với thị trờng mà

doanh nghiệp so với các doanh nghiệp nớc ngoài.
- Tỷ giá hối đoái và giá trị đồng tiền trong nớc : trong cuộc cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp trong nớc với các doanh nghiệp nớc ngoài thì tỷ giá
hối đoái và giá trị đồng tiền trong nớc có tác động mạnh tới khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nớc . Khi tỷ gía hối đoái giảm
thì khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nớc cao hơn các

19
Website: Email : Tel : 0918.775.368doanh nghiệp nớc ngoài vì có thuận lợi hơn trong sự so sánh về giá cả
và ngợc lại .
Thứ hai là các nhân tố chính trị và pháp luật : chính trị và pháp luật chính
là những yếu tố chính tạo nên môi trờng kinh doanh của các doanh nghiệp .
Môi trờng chính trị ổn định , hệ thống luật pháp rõ ràng sẽ tạo ra một môi tr-
ờng kinh doanh thuận lợi với sự công bằng và bình đẳng cho các doanh nghiệp
, các nỗ lực của các doanh nghiệp đợc ghi nhận và bảo hộ tốt khuyến khích
các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh .
Thứ ba là các nhân tố về khoa học, kỹ thuật và công nghệ : nhóm nhân tố
này có tác động mạnh mẽ tới hai nhân tố cơ bản tạo nên khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp trên thị trờng là giá cả và chất lợng sản phẩm dịch vụ .
Trong bất kỳ giai đoạn nào thì tiến bộ khoa học kỹ thuật là giới hạn trên của
chất lợng sản phẩm và dịch vụ , các doanh nghiệp muốn nâng cao chất lợng
sản phẩm dịch vụ thì phải áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật và
trình độ khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp quyết định chất lợng và giá cả
sản phẩm hàng hoá từ đó tác động tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp .
Khoa học kỹ thuật tác động tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp theo
các hớng sau :
- Tạo ra những phơng pháp công nghệ mới góp phần nâng cao chất lợng


21
Website: Email : Tel : 0918.775.368Chính sức ép của các đối thủ này đối với doanh nghiệp làm cho giá cả
các yếu tố đầu vào và đầu ra biến động theo những xu hớng khác nhau. Doanh
nghiệp phải linh động điều chỉnh các hoạt động của mình giảm thách thức,
tăng thời cơ chiến thắng cạnh tranh để nhanh chóng chiếm lĩnh thị trờng, đa ra
thị trờng những sản phẩm mới có chất lợng cao, mẫu mã đa dạng, phù hợp, giá
cả phải chăng. Theo mô hình Micheal Porter có 5 tác lực cạnh tranh là đối thủ
tiềm ẩn, ngời cung cấp, ngời mua, sản phẩm, dịch vụ thay thế và sự cạnh tranh
của các công ty hiện tại.
3.3.1. Sự đe doạ từ các đối thủ tiềm ẩn.
Các đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp cha có mặt trong ngành nhng
có khả năng tham gia vào ngành.
Sự xuất hiện đối thủ này phụ thuộc vào những điều kiện và khả năng
của doanh nghiệp tính riêng biệt của một thị trờng nào đó nh các rào cản mang
bản chất kỹ thuật, phơng tiện kỹ thuật.
Khả năng về mặt tài chính là một rào cản nhập cuộc. Sẽ có một số
ngành đòi hỏi khi tham gia phải đợc đầu t lớn ngay từ đầu hoặc doanh nghiệp
phải có lợi thế quy mô.

22
Các doanh nghiệp mới
tham gia vào thị trường
nhưng có tiềm năng lớn
Các doanh nghiệp cạnh
tranh hiện tại
Người bán

của doanh nghiệp.
Sức ép của khách hàng tuỳ thuộc vào một số tiêu thức sau:
- Quy mô tơng đối của khách hàng.

23
Website: Email : Tel : 0918.775.368- Ngành hoạt động có phải là nhà cung cấp chủ yếu không.
- Khách hàng có khả năng tìm sản phẩm thay thế hay không.
- Chi phí chuyển đổi có cao không.
- Khả năng hội nhập dọc, xuôi chiều của doanh nghiệp.
- Thông tin của khách hàng.
3.3.4. Sự đe doạ từ đối thủ hiện tại
Các đối thủ hiện tại : là các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành và
đã có những vị trí nhất định trên thị trờng. Họ tham gia cạnh tranh cũng cùng
mục đích nh chúng ta đó là tồn tại và phát triển : tăng doanh thu , tăng lợi
nhuận, mớ rộng thị phần, nâng cao uy tín. Khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp mình còn phụ thuộc vào năng lực nhận biết và các năng lực tiềm ẩn của
các đối thủ hiện tại . Khi năng lực nhận biết của các đối thủ hiện tại là cao thì
mọi đờng đi nớc bớc của ta đều có thể bị nhận ra một cách dễ dàng . Khi các
đối thủ đã nhận ra sự di chuyển của doanh nghiệp mình thì không có nghĩa là
họ sẽ phải ứng ngay lập tức và tạo ra đợc những bất lợi cho mình thông qua
các hoạt động trả đũa, mà điều đó còn phụ thuộc vào năng lực tiềm tàng và thế
mạnh điểm yếu cũng nh là chiến lợc phát triển của các đối thủ .
3.3.5. Sự đe doạ từ sản phẩm thay thế
Xét một cách chung nhất thì các doanh nghiệp trong một ngành phải
cạnh tranh với các ngành sản xuất các sản phẩm thay thế . Các sản phẩm thay
thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của một ngành bằng cách đặt ngỡng tối
đa cho mức giá mà các doanh nghiệp trong ngành có thể kinh doanh có lãi từ

Người cung ứng .
5. Đối thủ sản xuất hàng thay thế
Các nhân tố bên trong :
Nguồn lực tài chính
Nguồn nhân lực
Khả năng tổ chức quản lý
Nguồn lực vật chất kỹ thuật
Hoạt động Marketing

Trích đoạn Thị trờng xuất khẩu hàng nông sản của Công ty Cải tiến các cơ chế trong hoạt động xuất khẩu nông sản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status