1
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ DANH MỤC ĐẦU TƯ
& MÔ HÌNH ĐA NHÂN TỐ.
1. Danh mục đầu tư chứng khoán (DMĐT) là gì:
Hiểu một cách khái quát thì DMĐT là một tập hợp gồm ít nhất 2 loại chứng
khoán trở lên. Các loại tài sản trong DMĐT có thể là cổ phiếu, trái phiếu, chứng
chỉ quỹ đầu tư.
Một nhà đầu tư, nếu đầu tư vào chứng khoán thì luôn mong muốn lợi nhuận
cao nhất mà rủi ro thua lỗ là thấp nhất. Nếu dồn toàn bộ khoản tiền mình có vào
một loại cổ phiếu thì nguy cơ thua lỗ khi cổ phiếu đó giảm giá là rất rõ ràng.
Nhưng nếu khoản tiền được dàn trải ra thay vì đầu tư vào một loại cổ phiều, nhà
đầu tư đem đầu tư vào nhiều loại cổ phiếu, thì rủi ro thua lỗ là rất thấp. Trong rổ
đầu tư gồm nhiều loại cổ phiếu, khi tính tổng khoản đầu tư việc thua lỗ cổ phiếu
này được bù đắp lại bằng khoản lãi của cổ phiếu khác do tăng giá. Đó chính là
mục đích của việc lập ra DMĐT.
2. Tỷ suất sinh lợi và rủi ro từng chứng khoán riêng lẻ:
Để đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ phần hay thu nhập vốn chủ sở hữu,
nhà đầu tư phải đánh giá 2 thành phần quan trọng của giá trị cổ phần đó là rủi ro
và tỷ suất sinh lợi. Tất cả các quyết định tài chính đều cân nhắc dưới góc độ rủi ro
và tỷ suất sinh lợi mong đợi cùng những tác động của chúng đến giá của cổ phần
cũng như các kết quả cuối cùng của các chứng khoán.
2.1. Rủi ro:
Rủi ro được định nghĩa là điều không chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai.
Còn rủi ro chứng khoán được định nghĩa là khả năng xảy ra nhiều kết quả ngoài
dự kiến, hay nói cách khác là mức sinh lời thực tế nhận được trong tương lai có
thể khác so với dự tính ban đầu. Lợi suất đầu tư càng cao thì rủi ro càng cao và
2
ngược lại. Theo các lý thuyết trước đây, người ta quan niệm rủi ro là những yếu tố
làm cho mức sinh lời giảm đi nhưng hiện nay quan niệm này đã thay đổi. Người ta
quan niệm rằng tất cả các yếu tố làm cho mức sinh lời thay đổi so với dự kiến, dù
làm tăng hay giảm, đều được gọi là rủi ro.
hệ số nhạy cảm của một chứng khoán trước những biến động của thị trường. Beta
của một chứng khoán được tính thông qua mối liên hệ (chính xác là hệ số tương
quan) giữa suất sinh lợi của chứng khoán đó và suất sinh lợi của thị trường mà
chứng khoán đó giao dịch.
Các nhà đầu tư nhận thấy hệ số beta rất hiệu dụng trong việc xác định rủi ro
hệ thống và biết được mức độ ảnh hưởng của thị trường đến suất sinh lợi của từng
cổ phiếu. Chẳng hạn như, nếu thị trường được dự báo là sẽ có mức suy giảm là
10% trong năm tới thì một cổ phiếu có hệ số beta là 1,2 sẽ có mức lỗ là 12% (tức
là 1,2 *(-10%)) .
Cách thống kê rủi ro tổng thể của một chứng khoán:
Trong tài chính người ta thường sử dụng toán xác suất thống kê để đo
lường rủi ro trong mức sinh lời của một chứng khoán bằng cách sử dụng thước đo
phương sai và độ lệch chuẩn. Ta có thể ký hiệu phương sai là Var hay
2
, độ lệch
chuẩn (rủi ro)là
.
Phương sai và độ lệch chuẩn được tính theo công thức tổng quát như sau:
NR
N
i
t
/
1
22
222
)916()917(920918910
]/5 = 231.8
Độ lệch chuẩn
Var
= 15.22%
Để tiện cho việc tính toán ta sử dụng phần mền Excel với hàm tài chính
VARP để tính phương sai và STDEV để tính độ lệch chuẩn.
VARP : hàm thông dụng để tính phương sai trên máy tính.
Công thức : VARP (number1,number2,…)
STDEV: là hàm dùng để ước lượng độ lệch chuẩn của một mẫu cho trước.
Công thức : STDEV(number1,number2,…)
2.2. Tỷ suất sinh lời kỳ vọng:
Tỷ suất sinh lời của một chứng khoán được đo lường như là tổng các khoản
thu nhập lời hay lỗ của chủ sở hữu trong một thời kỳ. Để tính tỷ suất sinh lời của
một chứng khoán có thể thông qua hệ số beta.
)(
fmsfS
RRRR
(1.4)
Trong đó:
S
R
: suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán S.
f
R
: suất sinh lời của đầu tư phi rủi ro ( thường là lãi suất của tín phiếu Kho
tính hiệp phương sai giữa hai chứng khoán là:
Cov(
SA
RR ,
) =
NRR
SSAA
/)]()[(
(1.5)
Trong đó:
A
R
là tỷ suất sinh lời của cổ phiếu A
S
R
là tỷ suất sinh lời của cổ phiếu S
A
Là mức sinh lời bình quân trong kỳ của cổ phiếu A
S
Là mức sinh lời bình quân trong kỳ của cổ phiếu S
N Là số tháng trong kỳ
6
Trong Excel ta dùng hàm COVAR để tính, COVAR (number1, number 2, )
3.2. Lợi nhuận kỳ vọng của DMĐT
Lợi nhuận kỳ vọng của DMĐT là bình quân gia quyền ( theo tỷ trọng vốn
được các nhà thống kê lượng hóa bằng độ lệch chuẩn của lợi suất thu được (σ).
Cũng giống như từng chứng khoán riêng lẻ, rủi ro tổng thể của danh mục
được định nghĩa là khả năng biến động trong tương lai về kết quả thu được của
việc đầu tư. Tuy nhiên khi phân tích một DMĐT, chúng ta phải quan tâm đến rủi
ro cả danh mục chứ không chỉ đơn thuần của từng loại chứng khoán. Một nguyên
tắc cơ bản trong đầu tư chứng khoán cho rằng, việc đánh giá rủi ro cả danh mục là
7
sự đo lường mức độ ảnh hưởng của từng loại chứng khoán riêng lẻ đó đối với
DMĐT và giữa chứng khoán đó với toàn bộ chứng khoán của thị trường. Với cách
tiếp cận có áp dụng thống kê học, hệ số hiệp phương sai (covarian) sẽ được áp
dụng. Một hệ quả khó chấp nhận nhưng lại rất thực tế, đó là việc những chứng
khoán có tính rủi ro có khả năng là những thành tố làm ổn định cho toàn DMĐT,
nghĩa là góp phần làm giảm rủi ro của toàn DMĐT .Đây là lý do tại sao người đầu
tư cần quan tâm đến việc đa dang hóa DMĐT cũng như xác định phần rủi ro hệ
thống của chứng khoán.
4.2. Phương sai – độ lệch chuẩn của DMĐT gồm hai chứng khoán
Khi hai chứng khoán với phương sai tương ứng và được kết hợp trong một
DMĐT với trọng số tương ứng thì phương sai DMĐT được tính như sau:
),cov(2
2121
2
2
2
2
2
1
2
1
2
rrwwww
j
w
là tỷ trọng chứng khoán j trong DMĐT
Cov(
),
ji
rr
:hiệp phương sai giữa 2 chứng khoán i và j , được tính
theo công thức(1.5)
8
Công thức trên có thể diễn giải bằng ma trận như sau:
Bảng 1:Ma trận phương sai của DMĐT
Chứn
g
khoán
1
2
3
…
n
1
2
1
2
1
w
),cov(
2121
rrww
3
2
3
w
),cov(
33 nn
rrww
…
N
),cov(
211 nn
rrww
),cov(
22 nn
rrww
),cov(
33 nn
rrww
22
nn
w
Nếu cộng tất cả các ô trong bảng ma trận trên sẽ cho ra kết quả phương sai
của từng chứng khoán, ta thấy các ô nằm trên đường chéo Tây Bắc – Đông Nam
của ma trận là phương sai của từng chứng khoán. Các ô còn lại là hiệp phương sai
của các cặp chứng khoán trong danh mục. Mỗi hiệp phương sai của mỗi cặp chứng
khoán xuất hiện hai lần trong ma trận. Vậy hiệp phương sai của các cặp chứng
khoán trong danh mục nhiều hơn phương sai của các chứng khoán. Ta nói phương
sai của DMĐT phụ thuộc nhiều vào hiệp phương sai giữa các chứng khoán hơn là
21
rr
Cov(
),
31
rr
Cov(
),
1 n
rr
2
Cov(
),
21
rr
2
2
Cov(
),
32
rr
Cov(
),
2 n
rr
3
Cov(
),
31
2
n
Như vậy để có đầy đủ các nhân tố như trong bảng 1.1 thì ở mỗi dòng còn
thiếu tỷ trọng của mỗi chứng khoán. Ta chỉ việc lấy tỷ trọng từng chứng khoán
ứng với mỗi dòng nhân với SUMPRODUCT (array1, array2) ta được phương sai
toàn danh mục .
Ví dụ: Có tỷ trọng 6 loại cổ phiếu và Ma trận hiệp phương sai của 6 cổ
phiếu đó như trong Hình 1.1. Tỷ suất sinh lợi yêu cầu là 17%, tỷ trọng đầu tư vào
mỗi chứng khoán không quá 75% sao cho tổng tỷ trọng đầu tư là 100%.
10
Ma trận hiệp phương sai được tính theo công thức sau:
B15 = Covar(A,A) = (B2:B11(lấy F4),B2:B11), kéo hết đến G15.
B16 = Covar(B,A) = (C2:C11(lấy F4),B2:B11), kéo hết đến G16
Tương tự cho đến B20.
Phương sai danh mục đầu tư:
I21 =
P
SUMPRODUCT(MMULT(B21:G21,B15:G20),B21:G21).
Sau đó ta chạy SLOVE cho kết quả như hình dưới đây.
Hình 1: Hình chạy excel tính phương sai danh mục đầu tư.
11
5. Đa dạng hóa DMĐT
Một trong các phương pháp được căn cứ để kiểm soát rủi ro là “ đa dạng
hóa đầu tư”. Theo đó, việc đầu tư nên được thực hiện qua nhiều loại tài sản vốn
khác nhau tạo thành một DMĐT sao cho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục sẽ
được giới hạn lại. Tại Mỹ, ý tưởng đầu tư theo phương pháp đầu tư theo danh mục
được hình thành từ câu ngạn ngữ “ không nên bỏ tất cả trứng vào một rổ”. Nếu
6. Giới thiệu mô hình đa nhân tố
Theo CAMP tỷ suất sinh lợi của chứng khoán phụ thuộc vào tỷ suất sinh lợi
thị trường, nhưng qua kiểm nghiệm thực tiễn thì cho thấy rằng tồn tại những bằng
chứng cho thấy tỷ suất sinh lợi của chứng khoán là hàm số của các yếu tố đa rủi ro
chứ không phải chỉ có tỷ suất sinh lợi thị trường như trong mô hình CAPM. Thập
niên 1970 S.A Ross đã triển khai một mô hình nổi tiếng gọi là kinh doanh chênh
lệch giá (APT) bằng cách sử dụng các yếu tố đa rủi ro giải thích tỷ suất sinh lợi
của chứng khoán. Trong khi CAPM cho rằng hệ số beta là công cụ đo lường rủi ro
chủ yếu thì theo APT, beta chỉ là điểm khởi đầu và tỷ suất sinh lợi của chứng
khoán có liên hệ chặt chẽ với các biến đổi trong các nhân tố kinh tế vĩ mô. Do đó
lý thuyết kinh doanh chênh lệch APT (Arbitrage Pricing Theory) là một trong
những lý thuyết quan trọng trong lĩnh vực Đầu tư tài chính và Tài chính quốc tế.
Để hiểu APT, ta cần phải nghiên cứu kỹ các mô hình nhân tố. Các mô hình nhân
tố không chỉ diễn tả mức độ ảnh hưởng của những thay đổi trong các nhân tố kinh
tế vĩ mô đối với tỷ suất sinh lợi của chứng khoán mà còn đưa ta các dự báo về tỷ
13
suất sinh lợi mong đợi của việc đầu tư. Nắm rõ lý thuyết và vận dụng được nó vào
thực tiễn là vấn đề cần thiết đối với mỗi nhà đầu tư tài chính.
Do điều kiện hạn chế là sinh viên, mối quan hệ chưa rộng, kiến thức còn
hạn hẹp, với thời gian ngắn em không thể tìm hiểu và nghiên cứu sâu được. Do
vậy đề tài nghiên cứu của em chỉ đề cập đến hai nội dung sau (1) Tóm tắt lý thuyết
APT; (2) Vận dụng APT vào thị trường chứng khoán Việt Nam để xây dựng mô
hình cho tỷ suất sinh lợi (TSSL) của các chứng khoán niêm yết với sự thay đổi của
ba biến vĩ mô là lãi suất (LS); lạm phát (LP) và chỉ số S&P 500 của thị trường
chứng khoán Mỹ.
6.1. Mô hình một nhân tố
Mô hình đơn giản nhất là mô hình một nhân tố. Mô hình một nhân tố diễn
tả tỷ suất sinh lợi của chứng khoán i (
i
r
còn gọi là
14
nhân tố phổ biến, các cổ phiếu khác nhau có độ nhạy cảm khác nhau thể hiện qua
các beta.
iKiKiiii
FFFr
2211
Thông tin về các biến số kinh tế vĩ mô – là những biến số có thể giải thích – được
các nhà đầu tư tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau.
6.3. Mô hình đa nhân tố đối với DMĐT
Các beta đa nhân tố, giống như các beta trong mô hình một nhân tố, có tính
chất như sau: beta danh mục là bình quân gia quyền của beta các chứng khoán
trong danh mục. Ví dụ như nếu beta cổ phiếu A đối với nhân tố lạm phát là 2 và cổ
phiếu B là 3, một danh mục có tỷ trọng 0,6 trên cổ phiếu A và 0,4 trên cổ phiếu B
sẽ có beta nhân tố là 2,4 trên nhân tố này.
Tóm lại: beta nhân tố của một danh mục đối với một nhân tố nào đó chính
là bình quân gia quyền beta của các chứng khoán riêng lẻ đối với nhân tố đó.
Giả dụ chúng ta có mô hình với K nhân tố cho mỗi cổ phiếu i và một danh
mục đầu tư có N chứng khoán với tỷ trọng đầu tư có giá trị là
i
x
cho cổ phiếu i thì
tỷ suất sinh lợi mong đợi của danh mục đầu tư
NNp
rxrxrxr
2211
có
phương trình nhân tố như sau:
FFr
FFr
FFr
21
21
21
05,11,0
2305,0
403,0
thì
667,0)0(
3
1
)2(
3
1
)4(
3
1
833,1)5,1(
3
1
)3(
3
FFr
3
1
3
1
3
1
667,0833,106,0
21
6.4. Dùng mô hình đa nhân tố để tính Cov và Var
Tính toán hiệp phương sai Cov từ beta nhân tố trong mô hình đa nhân tố
Giả sử có K nhân tố cùng tác động lên tỷ suất sinh lợi của hai chứng khoán
i và j như sau:
jKjKjjjj
iKiKiiii
FFFr
FFFr
2211
2211
Như vậy hiệp phương sai của hai chứng khoán sẽ được tính :
Dùng mô hình nhân tố để tính var:
Trong mô hình một nhân tố cũng tương tự như đối với các mô hình thị
trường, các mô hình nhân tố chia phương sai tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán
ra thành hai phần đa dạng hóa vá không đa dạng hóa được.
iiii
Fr
Từ tính chất của phương sai ta có :
)var()var()var(
2
iii
Fr
Vế thứ nhất trong phương trình phương sai ở trên về phương diện đại số
chính là rủi ro nhân tố,còn vế thứ hai gọi là rủi ro đặc thù của Công ty
Trong mô hình đa nhân tố khi K nhân tố không có mối quan hệ với nhau và
chứng khoán i được mô phỏng bởi mô hình nhân tố:
iKiKiiii
FFFr
2211
Phương sai của r
i
có thể được phân thành (K+1) thành phần
)var()var( )var()var(
2
A. Giới thiệu khái quát về Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán TP Hồ Chí Minh:
1. Qúa trình hình thành và phát triển :
TRỤ SỞ CHÍNH
Tên đầy đủ : Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán TP HCM.
Tên tiếng Anh: Ho Chi Minh Securities Corporation.
Tên viết tắt: HSC.
Địa chỉ: Tầng 1,2 & 3 Cao Ốc Capital Place
6 Thái Văn Lung, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (+84 4) 3 933 4693
Fax: (+84 8) 3 823 3301
Website: www.hsc.com.vn
CHI NHÁNH HÀ NỘI
Địa chỉ: 6 Lê Thánh Tông, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: (+84 4) 3 933 4693
Fax: (+84 4) 3 933 4822
Logo của Công ty:
18
1.1. Lịch sử hình thành của Công ty:
HSC được thành lập ngày 23/04/2003 theo giấy phép hoạt động số
4103001573/GPHĐKD của Sở kế hoạch Đầu tư Thành Phố Hồ Chí Minh, giấy
phép thành lập và hoạt động số 11/UBCK – GPHĐKD ngày 29 /04/2003 với vốn
điều lệ ban đầu là 50 tỷ đồng. Đến 31/12/2008, HSC có vốn điều lệ 395 tỷ đồng và
vốn chủ sở hữu 1.323 tỷ đồng. Các cột mốc chính trong quá trình hoạt động của
Công ty:
04-2003 Thành lập với vốn điều lệ 50 tỷ đồng.
10-2006 HSC tăng vốn điều lệ lên 200 tỷ đồng từ việc phát hành thêm cổ
phiếu với tổng mệnh giá phát hành là 100 tỷ đồng.
10-2007 Chi nhánh Hà Nội được thành lập và đi vào hoạt động.
06/2008 HSC tăng vốn điều lệ lên 395 tỷ đồng từ việc phát hành thêm cổ phiếu
với tổng mệnh giá phát hành là 195 tỷ đồng.
nhất tại Việt Nam - Tập đoàn Dragon Capital của Anh Quốc, HSC thừa hưởng
những thế mạnh về chuyên môn và thế mạnh về tài chính của hai tổ chức này
trong việc cung cấp các dịch vụ đầu tư tài chính chuyên nghiệp một cách toàn
diện.
Bảng 2.1: Danh sách thành viên trong HĐQT của công ty:
Chức vụ
Tên
Năm sinh
Chủ tịch
Bà Ngô Kim Liên
06/01/1960
Phó chủ tịch
Ông Đỗ Hùng Việt
10/10/1954
Phó chủ tịch
Ông Lê Anh Minh
25/12/1969
Uỷ viên
Ông Nguyễn Quyết Chiến
06/11/1956
Uỷ viên
Ông Phạm Nghiêm Xuân Bắc
13/08/1961
Uỷ viên
Ông Nguyễn Hữu Thành
18/10/1953
Uỷ viên
Ông Johan Nyvene
29/06/1965
Uỷ viên
trong ngành, tập trung vào các ngành quan trọng có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc
độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế.
Báo cáo phân tích chiến lược được xuất bản hai lần một năm, bao
gồm phân tích và bình luận về các vấn đề thời sự và cung cấp rõ các chỉ số mẫu.
21
2.4. Hoạt động tự doanh
HSC dùng nguồn vốn chủ sở hữu để đầu tư vào chứng khoán gồm cổ phiếu
niêm yết, cổ phiếu OTC, trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp. HSC
không đầu tư vào bất động sản, vàng, ngoại tệ và các hàng hóa khác
HSC thực hiện chính sách sử dụng vốn thận trọng và xác định được một
chiến lược đầu tư thích hợp. Bên cạnh đó, HSC đã ban hành các quy trình hướng
dẫn thực hiện và giám sát hoạt động đầu tư để đảm bảo hoạt động đầu tư phù hợp
với chính sách quản lý rủi ro của HSC đối với từng ngành nghề và từng loại chứng
khoán đầu tư. Danh mục đầu tư của HSC là các khoản đầu tư dài hạn mang tính
chiến lược.
Với phương châm tổ chức hoạt động tự doanh minh bạch, tránh xung đột
lợi ích giữa Công ty và khách hàng, HSC đã xây dựng một đội ngũ cán bộ đầu tư
chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp cao. Đây là một yêu cầu khắt khe nhằm
hướng tới xây dựng HSC trở thành một nhà đầu tư có tổ chức, hiệu quả.
3. Cơ cấu tổ chức quản lý:
Hội đồng Quản trị
Hội đồng Quản trị do Đại hội cổ đông bầu ra, là cơ quan quản lý cao nhất
của Công ty có nghĩa vụ quản trị Công ty giữa hai kỳ đại hội. Hội đồng quản trị có
tối đa là 11 thành viên. Số lượng thành viên Hội đồng quản trị mỗi nhiệm kỳ do
Đại hội đồng cổ đông quyết định. Nhiệm kỳ hoạt động của Hội đồng quản trị là 5
năm.
22
Hình 3: SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ
Phân Tích
Đại Hội Đồng
Quản Lý
Rủi Ro
Hành Chính
Kiểm soát
nội bộ - Pháp
chế
Dịch vụ &
Giao Dịch
Môi Giới
Phòng Quan
Hệ Cộng
Đồng
Nhân Sự
23
Ban Kiểm soát
Ban Kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, có quyền hạn và trách nhiệm
chủ yếu như sau:
Thực hiện giám sát Hội đồng Quản trị và Tổng Giám đốc trong việc quản lý
và điều hành hoạt động kinh doanh Công ty.
Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong
việc quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh Công ty, trong việc tổ chức công
tác kế toán và lập báo cáo tài chính.
Kiến nghị các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý và
điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty.
Chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong việc thực hiện các
nhiệm vụ được giao.
Hiện tại Ban Kiểm soát Công ty gồm 3 thành viên. Nhiệm kỳ của Ban
Kiểm soát và của mỗi thành viên là 5 năm.
Ban Tổng Giám đốc
Ban Tổng Giám đốc do Hội đồng Quản trị bổ nhiệm, có nhiệm vụ tổ chức
Bộ phận đầu tư tài chính
Bộ phận đầu tư tài chính có chức năng quản lý và tổ chức thực hiện các
hoạt động đầu tư tự doanh được sử dụng nguồn vốn của Công ty. Chức năng hoạt
động :
- Thu nhập thông tin và thực hiện phân tích đầu tư.
- Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư cổ phiếu và trái phiếu
25
Bộ phận kinh doanh Môi giới Khách hàng Cá nhân
Bộ phận này có chức năng môi giới cổ phiếu niêm yết và cổ phiếu OTC cho
khách hàng cá nhân. Có đội ngũ chuyên viên môi giới và chuyên viên quản lý tài
khoản khách hàng cho các nhà đầu tư.
Bộ phận Kinh doanh Mội giới Khách hàng Tổ chức
Bộ phận này có chức năng môi giới cổ phiếu niêm yết, cổ phiếu OTC và trái
phiếu cho các tổ chức tài chính và các Công ty. Bộ phận này quản lý các tài khoản
của các khách hàng tổ chức, cung cấp các dịch vụ cho khách hàng như: làm thủ
tục mở tài khoản, nhận lệnh, xác nhận giao dịch, phát triển tài khoản mới. Ngoài ra
bộ phận này còn cung cấp cho khách hàng các sản phẩm phân tích do HSC thực
hiện để tư vấn cho khách hàng.
Bộ phận phân tích
Bộ phận Phân tích viết các báo cáo phân tích và nghiên cứu nhằm phục vụ
cho các bộ phận Môi giới Khách hàng Tổ chức và Khách hàng Cá nhân. Các sản
phẩm phân tích bao gồm:
Phân tích chiến lược.
Phân tích kinh tế vĩ mô, thị trường ngoại hối, tiền tệ và trái phiếu.
Phân tích ngành.
Phân tích Công ty.
Bình luận thị trường hàng ngày.
Các nhóm bộ phận hỗ trợ
Bộ phận Dịch vụ- Giao dịch Môi giới
Phòng dịch vụ Môi giới: