LuËn v¨n tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Trước tình hình kinh tế xã hội đang có nhiều diễn biến phức tạp, đan
xen giữa khó khăn và thuận lợi, nguy cơ và thời cơ. Để tiến hành CNH - HĐH
đất nước phải đẩy mạnh cách mạng công nghệ, phát huy tối đa mọi nguồn lực
mà quan trọng nhất là vốn.
Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, có nước đã sử dụng nguồn
vốn bên ngoài làm chủ lực, nguồn vốn trong nước làm bổ trợ cho sự phát
triển, tận dụng được lợi thế chuyển giao công nghệ tiên tiến, rút ngắn thời
gian bắt kịp với các nước phát triển. Có nước lại lựa chọn nguồn vốn nội địa
làm chủ đạo, bằng cách này tốc độ phát triển thường chậm, nhưng hạn chế
được sự phụ thuộc vào bên ngoài, tạo thế chủ động trong việc thực hiện các
mục tiêu chiến lược, đảm bảo sự phát triển vững chắc của nền kinh tế xã hội
trong lâu dài.
Nằm trên vòng cung kinh tế đang phát triển năng động nhất thế giới,
Châu Á Thái Bình Dương, trong công cuộc đổi mới, Việt Nam còn vấp phải
nhiều khó khăn, trở ngại. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, lạc hậu, trình
độ đội ngũ cán bộ, lao động còn nhiều hạn chế, nền tảng cho mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh (vốn) còn thiếu rất nhiều. Đứng trước xu thế mở cửa hợp
tác của thế giới, để vững bước tiến lên CNXH theo định hướng của Đảng,
chúng ta phải biết nắm bắt thời cơ, đi tắt đón đầu, tận dụng khai thác mọi
nguồn lực trong và ngoài nước. Với chủ trương đề ra ở Đại Hội Đại Biểu toàn
quốc lần thứ 8 và được khẳng định lại ở Đại hội Đại Biểu toàn quốc lần 9:
“Vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn nước ngoài có ý nghĩa quan
trọng, kết hợp tiềm năng sức mạnh bên trong với khả năng có thể tranh thủ
bên ngoài”. Nhưng bằng cách nào để khơi thông, thu hút được nguồn lực
trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh hiện nay. Câu hỏi được giải đáp bằng
sự ra đời của các trung gian tài chính, đặc biệt là ngân hàng thương mại. Với
vai trò tập trung vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế vào mục đích cho vay, đầu
tư…đôi khi hoạt động ngân hàng còn làm thay đổi cơ cấu nguồn vốn xã hội,
cải biến dòng lưu chuyển và mục tiêu sử dụng vốn, góp phần giải quyết căn
được sự bổ sung, đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài viết của mình
được tốt hơn.
2
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Lời cảm ơn
Sau thời gian học tập và nghiên cứu dưới mái trường Kinh Tế
Quốc Dân, và khoa Ngân hàng – Tài chính, được sự giúp đỡ nhiệt
tình của thầy cô giáo, em đã có thêm nhiều hiểu biết về kinh tế xã
hội. Đặc biệt sau thời gian thực tập tại Ngân Hàng Nông Nghiệp và
Phát Triển Nông Thôn Hà Nội, một chi nhánh hàng đầu của hệ thống
Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển nông Thôn Việt Nam, được
sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của đội ngũ cán bộ ngân hàng, nhất
là các chú, các anh, các chị phòng Kế hoạch và phòng Kinh doanh,
em đã có thêm những hiểu biết về thực tế hoạt động ngân hàng, nhất
là hoạt động huy động vốn. Cùng với định hướng và sự chỉ bảo tận
tình của thầy giáo PGS – TS Nguyễn Văn Nam, người trực tiếp
hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy giáo
PGS – TS Nguyễn Văn Nam, cùng các cán bộ ngân hàng Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hà Nội, trong đó có các chú, các
anh chị phòng Kế Hoạch, đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn
này. Em xin gửi tất cả tình yêu thương nhất tới gia đình, bè bạn
những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ em về mọi mặt trong
quá trình học tập.
Sinh viên: Lương Thị Tâm, NH41A
3
LuËn v¨n tèt nghiÖp
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA
Trước thế kỷ 15: Là thời kỳ của “các ngân hàng vụ bản”. Trong thời
kỳ này các nhà kinh doanh vàng bạc đã phát triển một số hoạt động như: đổi
tiền, thanh toán hộ, giữ tiền hộ và cho vay, điều này chỉ thực hiện được với
những thợ vàng có uy tín lớn.
Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18: Đây là giai đoạn của những ngân hàng
cổ điển. Các ngân hàng thợ vàng phát triển cách mạng hoá thành các tổ chức
kinh doanh tiền tệ. Các ngân hàng tồn tại dưới dạng riêng lẻ, độc lập, cùng
tiến hành một hoạt động giống nhau như: đổi tiền, giữ hộ tiền, thanh toán, cho
vay và đặc biệt cùng phát hành ra một loại giấy bạc của ngân hàng để cho
vay. Trợ giúp thương nhân và hỗ trợ cho lưu thông.
Từ cuối thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ 19: Nền sản xuất tại các quốc gia
lớn đã đạt được những bước tiến vĩ đại, lưu thông hàng hoá được mở rộng
đáng kể. Trong điều kiện đó việc tồn tại một số lượng lớn các loại tiền giấy
khác nhau đã gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế. Do vậy chính
phủ đã can thiệp thông qua đạo luật về hạn chế số lượng các ngân hàng phát
hành. Các ngân hàng đã tồn tại với tư cách là một hệ thống có sự phân công
lao động rõ ràng. Trong hệ thống đó đã tách ra một số ngân hàng phát hành,
chuyên phát hành ra giấy bạc để cho vay. Đây là các ngân hàng lớn và chủ
yếu là các ngân hàng tư nhân. Các ngân hàng còn lại nằm trong hệ thống các
ngân hàng chuyên doanh, được phân công lao động xã hội sâu sắc vào các
lĩnh vực cụ thể: các ngân hàng công nghiệp chuyên cho vay trung và dài hạn;
các ngân hàng thương nghiệp cho vay vốn ngắn hạn; các ngân hàng địa ốc
cho vay lĩnh vực bất động sản; ngân hàng để dành, chỉ huy động vốn của dân
chúng sau đó cho vay hoặc mua chứng khoán; ngân hàng cầm cố cho vay
bằng nghiệp vụ cầm cố (gần giống cửa hiệu cầm đồ).
Trong thời kỳ này ngân hàng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất vật
chất, các ngân hàng phát triển rực rỡ và trở thành lực lượng có thế lực vạn
năng.
Từ cuối thế kỷ 19 đến nay: Cuộc khủng hoảng 1929- 1933 xảy ra do
nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân chủ yếu là công tác quản
XHCN, mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền
sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể đan xen với nhau
hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Theo hướng này nền kinh tế hàng
hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra tiền đề cần thiết đòi hỏi sự ra đời nhiều loại
6
LuËn v¨n tèt nghiÖp
hình ngân hàng và tổ chức tín dụng, tạo ra một môi trường cạnh tranh ngày
càng bình đẳng và gay gắt hơn.
Là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế
thị trường, một động lực quan trọng cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội,
ngân hàng không thể đứng ngoài hoạt động của bất cứ quốc gia nào. Vì vậy
mỗi nước đều xây dựng cho mình những khung pháp lý giới hạn hoạt động
của ngân hàng. Mỗi nước có một khái niệm khác nhau về ngân hàng :
Theo luật ngân hàng Ấn Độ năm 1959 bổ xung: “Ngân hàng là cơ sở
nhận các khoản tiền ký thác để cho vay, tài trợ, đầu tư ...”
Theo pháp luật Mỹ: “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền
gửi, cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức
kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là ngân hàng”.
Tựu chung lại tất cả đều có điểm chung là tổ chức nhận tiền ký thác,
tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, sử dụng cho vay chiết khấu và các nghiệp
vụ kinh doanh khác.
Việt Nam, pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài
chính năm 1990 quy định: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt
động thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay hay thực hiện các nghiệp vụ
chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định: “NHTM là loại hình tổ
chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh có liên quan”.
Trong đó “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng, với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó
cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ.
Nghiệp vụ huy động bằng cách phát hành giấy tờ có giá: Ngân
hàng sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính chất dài hạn đối
với ngân hàng vào nền kinh tế. Ngoài ra, nghiệp vụ này còn giúp NHTM tăng
cường tính ổn định của đồng vốn trong hoạt động kinh doanh của mình.
Nghiệp vụ huy động vốn khác: NHTM có thể tạo vốn cho mình
thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức cá nhân trong
và ngoài nước.
8
LuËn v¨n tèt nghiÖp
1.1.2.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn:
Ngân hàng là một tổ chức tài chính “đi vay để cho vay”. Do vậy mối
quan tâm hàng đầu của ngân hàng sau khi đã huy động được một lượng vốn là
làm sao sử dụng nguồn vốn để đạt được hiệu quả cao nhất mà không bị rơi
vào tình trạng kẹt vốn. Vì thế ngân hàng phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược
sử dụng vốn của mình, bằng các hoạt động:
Dự trữ: Với mục đích đảm bảo khả năng thanh toán của ngân
hàng. NHTM phải duy trì một lượng vốn bằng tiền mặt thực hiện nghĩa vụ dự
trữ, mức dự trữ này tuỳ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc (do nhà nước quy
định) và tỷ lệ dự trữ vượt quá mà ngân hàng giữ lại để đảm bảo khả năng chi
trả cũng như thực hiện hoạt động khác của mình.
Cho vay: Theo quy định “Cho vay là hình thức tín dụng mà trong
đó ngân hàng ký hợp đồng với người đi vay, cam kết cho người đó vay một
khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định, khách hàng có nghĩa vụ
hoàn trả vốn và lãi tại thời điểm đáo hạn của khoản cho vay”.
Đây là nghiệp vụ chủ yếu của các ngân hàng thương mại. Theo thống
kê, nhìn chung khoảng 65 - 70% thu nhập của ngân hàng từ hoạt động cho
vay. Thành công hay thất bại phụ thuộc vào chính sách cho vay của ngân
hàng. Đây cũng là hoạt động mang nhiều rủi ro và phức tạp nhất .
Nếu phân chia:
công chúng, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ trung gian và nhận thu nhập từ
nguồn phí hoặc hoa hồng.
Các hoạt động trung gian phản ánh mức độ phát triển của ngân hàng. Ở
các nước phát triển ngân hàng thương mại thực hiện rất nhiều hoạt động trung
gian, tức là luôn có dịch vụ cung cấp tiện nghi cho khách hàng. Thu nhập từ
các hoạt động trung gian chiếm khoảng 30% đến 35% tổng thu nhập của ngân
hàng. Nghiệp vụ trung gian phát triển còn giúp ngân hàng tránh được rủi ro,
ngân hàng sẽ được hoạt động ở vùng an toàn.
Ở Việt Nam các nghiệp vụ trung gian còn nghèo nàn, chưa phong phú,
đa dạng, chưa tạo ra tiện ích cho khách hàng. Vì thế cần phải phát triển các
dịch vụ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội đất
nước.
Ngân hàng thực hiện một số nghiệp vụ trung gian sau: Dịch vụ chuyển
tiền, chuyển khoản, thanh toán hộ, phát hành séc, bảo lãnh cho khách hàng,
10
LuËn v¨n tèt nghiÖp
thu chi hộ, quản lý tài sản hộ, mua bán hộ, các dịch vụ uỷ thác với các cá
nhân và tổ chức, doanh nghiệp.
Bên cạnh đó NHTM còn có các hoạt động ngoại bảng chưa được coi là
tài sản hay nguồn vốn như: bảo lãnh công nợ, hoạt động liên quan đến lãi suất
(SWAP lãi suất), các giao dịch về hối đoái như SWAP, OPTION, FUTURE
các chứng từ có giá. Là một nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh
doanh, nó có tác động mạnh mẽ tới độ an toàn của NHTM. Vì vậy khi phân
tích hoạt động của NHTM các nhà quản trị cần phải quan tâm tới hoạt động
này.
1.1.3. Vai trò của NHTM.
Khi nói về vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị thị trường nhiều nhà
kinh tế học đã ví NHTM là trái tim của nền kinh tế. Từ hoạt động của mình
ngân hàng thu hút vốn nhàn rỗi rồi cung cấp nguồn vốn đó cho nền kinh tế,
làm cho huyết mạch lưu thông tiền tệ được thông suốt, đồng thời thực hiện tốt
cung cấp các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, tư vấn đầu tư ... sẽ giúp cho các
doanh nghiệp có sự lựa chọn đúng đắn, tận dụng được thời cơ và khai thác hết
khả năng của mình trong kinh doanh, đồng thời họ phải ý thức được việc làm
ăn của mình để đảm bảo có lãi hoàn trả ngân hàng cả vốn lẫn lời. Bởi thế các
nhà kinh doanh phải tiết kiệm tối đa và có phương án sản xuất kinh doanh
hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng khả năng
sinh lợi. Một bộ phận của nền kinh tế khoẻ mạnh sẽ giúp cho cả nền kinh tế
phát triển.
Mặt khác ngân hàng còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân bổ và
phát triển kinh tế vùng, xoá dần sự cách biệt về kinh tế giữa các vùng lãnh
thổ.
1.1.3.3. Vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô:
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Hoạt động của NHTM
nếu có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết
vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các
NHTM trong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lượng
tiền trong lưu thông, thực hiện tốt chính sách tiền tệ góp phần vào việc ổn
định tiền tệ và kinh tế đất nước, trợ giúp chính phủ thực hiện tốt chính sách tài
khoá cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô khác.
12
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Hơn nữa, bằng việc cấp khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM thực
hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trường, điều
khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết vĩ mô đúng theo
phương châm “Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”.
1.1.3.4. Ngân hàng là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính
quốc tế:
Trong điều kiện hiện nay, kinh tế “đóng” đã phải nhường bước cho
kinh tế “mở”, bởi phát triển kinh tế luôn gắn liền với giao lưu trên thị trường
thế giới. NHTM với các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán, nghiệp
chủ sở hữu gồm:
Vốn tự có ban đầu: Nguồn vốn hỡnh thành từ ban đầu khi mới thành
lập. Tuỳ theo luật pháp các nước và loại hỡnh ngõn hàng nguồn vốn này cú
thể được hỡnh thành từ vốn gúp của cỏc cổ đông (vốn cổ phần) hay vốn ngân
sách cấp.
Nguồn vốn tự cú bổ sung trong quỏ trỡnh hoạt động: Trong quá
trỡnh hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều phương thức
khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể nguồn vốn có thể hỡnh thành từ:
+ Nguồn lợi nhuận: phần lợi nhuận để lại.
+ Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm để
mở rộng quy mô hoạt động, để đổi mới trang thiết bị hoặc để đáp ứng yêu cầu
gia tăng vốn của chủ do ngân hàng Nhà nước quy định. Đây là nguồn không
thường xuyên, song nó giúp ngân hàng có được lượng vốn sở hữu lớn vào lúc
cần thiết.
+ Nguồn bổ xung từ các quỹ: quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ dự
phũng rủi ro, quỹ thặng dư vốn (phần chênh lệch đánh giá tài sản mang lại).
Nó phụ thuộc vào khả năng đầu cơ của mỗi hoạt động ngân hàng.
Nguồn vay nợ chuyển đổi thành cổ phần:
Nguồn vốn này được hỡnh thành từ những khoản vay trung và dài hạn
của NHTM cú khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần. Nó có đặc điểm là sử
dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả
khi đến hạn.
14
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Thông thường tỷ lệ vốn chủ sở hữu/ tổng nguồn vốn = 1/20. Theo tiêu
chuẩn quốc tế hệ số Cook: Vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản rủi ro
= 8% là hệ số an toàn.
Ở Việt Nam vốn điều lệ (vốn chủ sở hữu) của ngân hàng Công Thương,
ngân hàng Ngoại Thương, ngân hàng Đầu Tư Phát Triển là 1100 tỷ VND,
ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn là 2200 tỷ VND, NHTM cổ
Trong bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, vốn cũng là yếu tố
hàng không thể thiếu. Như cây cần chất dinh dưỡng, các cơ sở sản xuất kinh
doanh muốn hoạt động phải có vốn để mua máy móc thiết bị, nhà xưởng, đất
đai, văn phũng, vận hành sản xuất. Bởi vậy nú là yếu tố luôn được các nhà
đầu tư sản xuất và nhiều đối tượng khác có liên quan quan tâm. Trong phạm
vi quốc gia, vốn không chỉ đóng vai trũ như một yếu tố tham gia vào quá
trỡnh sản xuất kinh doanh của mỗi chủ thể kinh tế đơn lẻ mà cũn ảnh hưởng
đến mối quan hệ nhiều chiều, phức tạp giữa các chủ thể, do vậy ảnh hưởng
đến toàn bộ nền kinh tế. Đặc biệt là khi nước ta đang bước vào thời kỳ CNH-
HĐH đất nước thỡ vốn là cơ sở tiền đề, là điều kiện cần thiết không thể thiếu.
Theo dự báo của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, trong giai đoạn 5 năm 2001-2005,
để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế bỡnh quõn 7,2% / năm đũi hỏi một
lượng vốn đầu tư toàn xó hội khoảng 50 đến 60 tỷ USD. Hơn nữa, để trở
thành một nước công nghiệp phát triển vào năm 2020 với thu nhập bỡnh quõn
đầu người 5000- 6000 USD thỡ nhu cầu đầu tư đũi hỏi ngày càng lớn. Đặc
biệt trong giai đoạn tới, khi Việt Nam gia nhập AFTA điều kiện cạnh tranh
ngày càng trở nên gay gắt giữa các doanh nghiệp với nước ngoài, thỡ lượng
vốn để đảm bảo sản xuất kinh doanh ngày càng cần nhiều. Đặc biệt là ngân
hàng làm sao để hoạt động hiệu quả nhất, chiến thắng trong canh tranh khi tự
do hoá tài chính được thực hiện, vốn sẽ là yếu tố quan trọng mang tính chất
quyết định. Để thu hút được lượng vốn nói trên, chúng ta cần phải thu hút đầu
tư nước ngoài và phát triển nguồn vốn trong nước. Đồng thời để đảm bảo
tính tự chủ và khai thác hết tiềm năng trong nước thỡ huy đồng vốn trong
nước là chủ yếu. Điều này được ghi rừ trong nghị quyết ĐH 8 của Đảng:
“Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo đường lối đổi mới,
Đảng và Nhà nước chủ trương huy động mọi nguồn vốn trong và ngoài nước
16
LuËn v¨n tèt nghiÖp
để đầu tư phát triển. Trong đó vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn
nước ngoài có ý nghĩa quan trọng, kết hợp tiềm năng sức mạnh bờn trong với
LuËn v¨n tèt nghiÖp
hạn). Quá trỡnh kinh doanh tiền tệ được mó hoỏ bằng cụng thức T-T
’
, trong
đó T là nguồn vốn bỏ ra ban đầu, T’ là nguồn vốn thu về sau một quá trỡnh
đầu tư, tiến hành hoạt động kinh doanh T’ >T. Từ đó có thể thấy rằng ngân
hàng nào trường vốn ngân hàng đó có nhiều thế mạnh trong cạnh tranh. Vỡ
vậy ngoài nguồn vốn ban đầu cần thiết (vốn điều lệ) theo quy định thỡ ngõn
hàng luụn phải chăm lo tới việc tăng trưởng nguồn vốn trong suốt quỏ trỡnh
hoạt động của mỡnh.
Vốn quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác của ngân
hàng:
Trong điều kiện bỡnh thường, đầu vào luôn ảnh hưởng trực tiếp tới đầu
ra. Đối với ngân hàng vốn là yếu tố đầu vào, tín dụng, đầu tư... là yếu tố đầu
ra. Vì vậy, so với cỏc ngõn hàng lớn cỏc ngõn hàng nhỏ có khoản mục đầu tư
và cho vay kém đa dạng hơn. Trong khi các ngân hàng lớn có nhiều vốn cho
vay được cả thị trường trong nước và quốc tế thỡ cỏc ngõn hàng nhỏ thường
không có đủ vốn nên việc cho vay bị giới hạn trong phạm vi hẹp hơn, chủ yếu
trong cộng đồng. Hơn nữa, vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ thường không
phản ứng nhanh nhạy với những đợt biến động về lói suất, ảnh hưởng trực
tiếp khả năng thu hút vốn đầu tư từ tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế,
đồng thời sẽ khó có điều kiện mở rộng đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công nghệ để
tăng sức cạnh tranh, cũng như việc đầu tư vào các danh mục đầu tư dài hạn,
tham gia vào thị trường chứng khoán trong điều kiện như hiện nay. Khó có
thể đầu tư vào các dự án lớn do những quy định về pháp luật trong việc cho
vay như ngân hàng không được phép cho vay vượt quá 15% vốn tự có của
ngân hàng đối với 1 khách hàng hay tổng số cho vay không được vượt quá 20
lần vốn tự có.
Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân
hàng trên thương trường:
Tiền gửi của khỏch hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của
NHTM. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở tài
khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân
hàng huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư. Đây là
nguồn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng.
19
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Để tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền
gửi có chất lượng ngày càng cao các ngân hàng đó đưa ra và thực hiện nhiều
hỡnh thức huy động khác nhau:
Tiền gửi khụng kỳ hạn:
Đây là tiền gửi với thời gian không xác định, người gửi tiền có thể rút
ra bất cứ lúc nào. Là tiền gửi của các cá nhân hay tổ chức, doanh nghiệp gửi
vào ngân hàng chủ yếu để hưởng những tiện ích mà ngân hàng cung cấp chứ
không phải nhằm mục đích hưởng lói. Ngõn hàng thường chỉ trả lói suất rất
thấp hay khụng trả lói suất cho số dư tài khoản tiền gửi này, vỡ vậy chi phớ
huy động rất thấp. Đây là một ưu điểm của nguồn vốn này. Để thu hút nguồn
vốn này ngân hàng không ngừng cải tiến, đổi mới các hỡnh thức dịch vụ phục
vụ cho hoạt động này.
Trong tiền gửi khụng kỳ hạn chia làm 2 loại:
Tiền gửi thanh toỏn:
Đây là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng nhờ
ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ. Do khách hàng gửi vào đây nhằm mục
đích thanh toán là chính chứ không phải vỡ mục đích hưởng lói nờn họ cú thể
rỳt ra để chi trả, thanh toán bất cứ lúc nào mà ngân hàng không được phép từ
chối. Vỡ thế tớnh ổn định của nó là thấp nhất.
Biến động của tiền gửi thanh toán phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh
doanh, thời vụ hoặc địa bàn hoạt động của ngân hàng. Để đáp ứng nhu cầu
của khách hàng ngân hàng thường mở 2 loại tài khoản:
Tài khoản thanh toán (tài khoản séc): Là loại tài khoản mà chủ nhân
gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Khách hàng chỉ được phép rút
tiền khi đến hạn thoả thuận.
Mục đích của khách hàng gửi loại tiền này là hưởng lói chứ không phải
là hưởng các tiện ích trong thanh toán.
Đặc điểm của loại tiền này là không dùng để thanh toán. Ngân hàng có
toàn quyền sử dụng lượng vốn này trong thời hạn. Khi khách hàng cần rút tiền
phải báo trước cho ngân hàng và phải được sự đồng ý của ngõn hàng. Do vậy
nú mang lại tớnh chủ động trong việc sử dụng vốn của ngân hàng, nên hiệu
quả sử dụng nguồn vốn này là rất cao. Chi phí để huy động đối với ngân hàng
21
LuËn v¨n tèt nghiÖp
là khá đắt vỡ lói suất huy động thường cao (thường lói suất huy động tỷ lệ
thuận theo thời gian), nhưng bù lại tính ổn định của nguồn cao.
Tiền gửi cú kỳ hạn ở Mỹ chiếm khoảng 40% tiền gửi ngân hàng, đặc
điểm là các chứng chỉ tiền gửi được ghi rừ hạn định và giá trị thanh toán, việc
rút trước hạn sẽ bị phạt, đôi khi mức phạt vượt quá tiền lói được hưởngđến
ngày rút tiền. Ở Đức họ đó khắc phục việc rỳt tiền trước hạn gây bất lợi cho
khách hàng bằng cách cấp cho họ một khoản tín dụng và coi khoản tiền gửi có
kỳ hạn là đảm bảo cho khoản tín dụng đó. Lói suất cho cỏc khoản tiền gửi cú
kỳ hạn cú thể cố định hoặc linh hoạt tuỳ theo sự lựa chọn của khách hàng.
Với loại tiền gửi có lói suất linh hoạt, khỏch hàng cú thể gửi thêm tiền trước
hạn định.
Ở Việt Nam hiện nay thời hạn của tiền gửi có kỳ hạn đó được đa dạng
hoá từ kỳ hạn 1 tháng đến 1 năm, đó phỏt huy được vai trũ trong việc huy
động vốn cho các ngân hàng.
1.2.4.3. Hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư:
Tiền gửi tiết kiệm do dân cư gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn và
sinh lợi. Đây là công cụ huy động vốn lưu truyền từ lâu. Vốn huy động từ các
tài khoản tiết kiệm thường chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng tiền gửi của các
ngân hàng. Người gửi tiền nhằm mục đích thu lợi, vỡ vậy lói suất là yếu tố rất
trũ là chủ nợ và là “người cho vay cuối cùng” đối với các ngân hàng thương
mại.
NHTM và một số tổ chức tín dụng được hưởng quyền vay từ NHTW
trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (vay bắt buộc), bù đắp phần thiếu hụt trong
thanh toán bù trừ tại NHTW, đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong quá trỡnh
hoạt động kinh doanh (vay nóng trong trường hợp khó khăn trong thanh toán
khẩn cấp), NHTW cho NHTM vay với thời gian trung và dài hạn nhằm thực
hiện chính sách của nhà nước.
Lói suất mà NHTM phải trả cho NHTW hoàn toàn phụ thuộc vào ý trớ
chủ quan của NHTW:
- Lói suất thấp khi NHTW đang thực hiện chính sách lới lỏng tiền tệ
kích thích cho vay, đầu tư.
- Lói suất cao khi NHTW đang thắt chặt cung tiền tệ để chống lạm
phát, hay thực hiện lói suất phạt trong trường hợp thiếu DTBB.
23
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Lói suất cao buộc cỏc NHTM phải tỡm cỏch trả nợ rất nhanh và khoản
cho vay chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động.
NHTW thực hiện việc cho các NHTM vay trên cơ sở chiết khấu, tái chiết
khấu các giấy tờ có giá, trong đó chủ yếu là thương phiếu và trái phiếu chính
phủ. Tạo được nguồn tiền giúp ngân hàng trong những lúc khó khăn nhất.
Song ngân hàng nên hạn chế hỡnh thức huy động này vỡ lói suất quỏ cao và
khụng phải lỳc nào cũng diễn ra suụn sẻ.
Vay cỏc NHTM và tổ chức tớn dụng khỏc:
Đây là hỡnh thức huy động vốn quan trọng đối với các NHTM. Việc vay
vốn giữa các NHTM và các tổ chức tín dụng khác nhằm giải quyết tỡnh trạng
thừa vốn và thiếu vốn so với nhu cầu của một ngõn hàng.
Ở Việt Nam theo chỉ thị số 07/CT–NH1 của thống đốc NHNN thỡ vốn
vay giữa cỏc ngõn hàng và tổ chức tớn dụng được tiến hành theo thoả thuận
bằng hợp đồng tín dụng. Vốn cho vay được bảo đảm bằng hỡnh thức thế chấp
toán một số tiền xác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn
xác định trước. Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau người ta có thể chia
trái phiếu ngân hàng ra:
Theo khả năng chuyển đổi: trái phiếu vô danh, trái phiếu kớ danh.
Theo thời hạn: trỏi phiếu ngắn hạn và dài hạn.
Trái phiếu được phát hành trong toàn bộ hệ thống ngân hàng chủ yếu là
để huy động vốn trung và dài hạn phục vụ cho các kế hoạch kinh doanh có
quy mô lớn và dài hạn. Lói suất trỏi phiếu ngõn hàng cũng rất hấp dẫn,
thường lớn hơn các công cụ nợ khác và tỷ lệ thuận với kỳ hạn của khoản nợ.
Kỳ phiếu: Kỳ phiếu ngõn hàng là một loại giấy nhận nợ ngắn hạn do
ngõn hàng phỏt hành nhằm huy động vốn trong dân, chủ yếu để thực hiện cho
những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án, một
chương trỡnh kinh tế ...Kỳ phiếu ngõn hàng được phát hành theo từng đợt và
cũn gọi là kỳ phiếu cú mục đích. Việc phát hành được thực hiện trên cơ sở
tỡnh hỡnh nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn trong thời kỳ trước mắt của
ngõn hàng.
Kỳ phiếu là một hỡnh thức huy động vốn khá linh hoạt, có tính lỏng cao,
dễ chuyển đổi sang tiền hoặc hỡnh thức khỏc. Mệnh giỏ, loại tiền sử dụng và
25