BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
NGUYỄN THẠC HÙNG NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế công nghiệp
Mã số: 60.31.09 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS Nguyễn Đức Thành
ã nhiệt tình hướng dẫn, đóng
góp những ý kiến quý báu để Luận văn được hoàn thành tốt hơn và luôn động viên
tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành bản Luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Chi cục thuế, Chi cục Thống kê huyện
Đan Phượng và các cơ quan hữu quan, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp tôi
thu thập d
ữ liệu, thông tin cần thiết phục vụ phân tích Luận văn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình bố, mẹ, vợ, con đã động viên
tôi, giúp đỡ công việc gia đình cho tôi trong suốt thời gian viết Luận văn. MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục hình vẽ và đồ thị
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM 6
1.1. Một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa 6
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và v
ừa 6
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa 9
1.1.3. Sự cần thiết hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ vừa 12
1.2. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa 20
1.2.1. Khái niệm, chức năng của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công
nghiệp nhỏ và vừa 20
2.2.3. Hỗ trợ công tác đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật 66
2.2.4. Hỗ trợ vận tải và hỗ trợ
vận tải hàng hóa xuất khẩu 67
2.2.5. Hỗ trợ cung cấp thông tin cho DNCNNVV 68
2.2.6. Xúc tiến mở rộng thị trường 70
2.2.7. Hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực quản trị kinh doanh và đào tạo kỹ thuật 71
2.2.8. Hỗ trợ thực hiện cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu
tư; cơ chế xúc tiến đầu tư và khởi sự doanh nghiệp 75
2.2.9. Các hoạt động hỗ
trợ khác 77
2.3. Đánh giá chung về chính sách phát triển DNCNNVV của huyện Đan Phượng 78
2.3.1. Những ưu điểm của chính sách phát triển doanh nghiệp công nghiệp
nhỏ và vừa 78
2.3.2. Hạn chế của chính sách phát triển doanh nghiệp công nghiêp nhỏ và vừa 82
2.3.3. Một số nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trên 87
Kết luận chương 2 90
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA HUYỆN ĐAN PHƯỢNG GIAI
ĐOẠN 2012 - 2020
VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO 91
3.1. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Đan Phượng giai đoạn 2012 -2020 91
3.1.1. Mục tiêu tổng quát giai đoạn giai đoạn 2012 - 2020 91
3.1.2. Các chỉ tiêu phấn đấu chủ yếu 92
3.1.3. Phương hướng phát triển giai đoạn 2012-2020 92
3.2. Quan điểm, mục tiêu phát triển doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa huyện
Đan Phượng giai đoạn 2012 - 2020 93
3.2.1. Quan điểm phát triển doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa 93
3.2.2. Định hướng, m
ục tiêu phát triển DNNVV 94
DANH MỤC CÁC BẢNGBảng 1.1. Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước 7
Bảng 1.2. Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 8
Bảng 1.3. Chính sách của nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa 31
Bảng 2.1. Doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa huyện Đan Phượng theo
loại hình (tính đến 31/12/2012) 44
Bảng 2.2. Doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa huyện Đan Phượng theo
mức v
ốn (tính đến 31/12/2012) 46
Bảng 2.3. Doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa huyện Đan Phượng đăng ký
thành lập qua các năm (tính đến 31/12/2012) 47
Bảng 2.4. Doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động huyện Đan
Phượng theo địa bàn (tính đến 31/12/2012) 48
Bảng 2.5. Số lượng DNCNNVV (đang hoạt động) qua các năm 51
Bảng 2.6. Doanh thu thuần từ hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp qua các năm 52
Bảng 2.7. Lợi nhuậ
n từ hoạt động CN, TTCN qua các năm 52
Bảng 2.8. Đóng góp của DNCNNVV huyện Đan Phượng qua các năm 54
Bảng 2.9. Đánh giá của doanh nghiệp về môi trường pháp lý phát triển
DNCNNVV (đến 31/12/2012) 79
Bảng 2.10. Đánh giá của các doanh nghiệp về thực hiện thủ tục hành chính
(đến 23/12/2012) 80
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
nhỏ và vừa (DNNVV) trên địa bàn huyện, trong đó các doanh nghiệp công nghiệp
nhỏ và vừa (DNCNNVV) chiếm trên 70% tổng số doanh nghiệp. DNCNNVV được
đánh giá là năng động, hoạt động hiệu quả, đóng góp 46% trong GDP và sử dụng
khoảng 38% lực lượng lao động địa phương. Đây là bộ phận có vai trò quan trọng
trong quá trình phân phối, lưu thông hàng hoá, cung ứng dịch vụ và đặc biệt hơn cả
là vai trò dẫn dắt các doanh nghiệ
p tham gia quá trình phát triển kinh tế xã hội.
DNCNNVV còn là tiền thân của quá trình tích tụ tập trung vốn, trở thành những
công ty kinh tế lớn cho nền kinh tế trong tương lai. Đây là bộ phận kinh tế quan
trọng trong nền kinh tế hội nhập.
Từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực (01/01/2000) tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thành lập doanh nghiệp, đã dẫn đến số lượng doanh nghiệp đăng ký thành
lập mới hàng n
ăm tăng lên nhanh chóng. Tính đến thời điểm hết năm 2012, trên địa
bàn huyện Đan Phượng 757 doanh nghiệp đang hoạt động (không bao gồm doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) vốn đăng ký ước đạt trên 3.000 tỷ đồng.
Sự phát triển của khu vực DN ngoài nhà nước mà trong đó chủ yếu là các
DNNVV đã được Chính phủ thừa nhận là một động lực của tăng trưởng kinh tế
và
được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển. Từ năm 2001 Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chính phủ coi “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là một nhiệm vụ quan trọng
2
trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước”. Tháng 3 năm 2002, hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung
ương khoá IX đã ban hành Nghị quyết số 14 NQ/TW về tiếp tục đổi mới cơ chế,
chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết
quan trọng này đã khẳng định khu vực kinh tế tư nhân là mộ
t bộ phận quan trọng
DNNVV ở Việt Nam. TS. Chu Thị Thuỷ với Luận án Tiến sĩ kinh tế “Một số giải
3
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV Việt Nam”, đã đi sâu
nghiên cứu những vấn đề bên trong hoạt động của DN để phát triển các DN bằng
cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu. TS. Phạm Văn
Hồng với Luận án Tiến sĩ kinh tế “Phát triển DNNVV ở Việt Nam trong quá trình hội
nhập quốc tế” đã đi sâu phân tích lý luận về DNNVV, cơ hội và thách thức c
ủa các
DNNVV, đề ra một số biện pháp phát triển DNNVV Việt Nam. TS. Lê Thị Mỹ Linh
với Luận án Tiến sĩ Kinh tế “ Phát triển nguồn nhân lực trong DNNVV ở Việt Nam
trong quá trình hội nhập kinh tế’ đã đi sâu về phát triển nguồn nhân lực trong
DNNVV ở Việt Nam và có gắn với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, các DNNVV nói chung, DNNVV hoạt
động lĩnh vực công nghiệp nói riêng của huyện
Đan Phượng vẫn bị đánh giá là còn
nhiều hạn chế như công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lý yếu, thiếu thông tin,
khả năng tiếp cận và thâm nhập vào thị trường xuất khẩu còn hạn chế, các dịch vụ
phát triển kinh doanh tại địa phương chưa phát triển cho nên năng lực cạnh tranh
của các DNNVV nói chung còn thấp. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả kinh doanh cho
các DNNVV thì các chính sách hỗ trợ v
ẫn đóng một vai trò rất quan trọng.
Nhận thức được tầm quan trọng của các chính sách hỗ trợ các DNNVV, đặc
biệt các DNNVV lĩnh vực công nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và
hiệu quả kinh doanh trong thời gian tới, phù hợp với chương trình học tập, tôi
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp phát triển doanh nghiệp công nghiệp
nhỏ và vừa trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội” nhằm
đánh giá
hiệu quả các chính sách hỗ trợ DNNVV trong giai đoạn 2008 - 2012 để tổng kết
những mặt đã làm tốt, những mặt còn hạn chế, rút ra những bài học kinh nghiệm và
Đưa ra khuyến nghị về các chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển
DNCNNVV giai đoạn 2012 – 2020 và những năm tiế
p theo.
5. Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
làm phương pháp nghiên cứu cơ bản.
Ngoài ra, để thu thập thông tin tương đối đầy đủ và khách quan về các vấn đề
quan trọng liên quan, nhiều kỹ thuật thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu khác
nhau đã được áp dụng và dựa trên nền tảng thu hút sự tham gia rộng rãi của các đối
tượng liên quan. Đánh giá đã că
n cứ trên nhiều quan điểm, chủ trương đường lối
lãnh đạo của Đảng, cơ chế, chính sách, quy định của nhà nước, định hướng và chiến
lược phát triển kinh tế của huyện, năng lực quản lý và điều hành của cơ quan chủ trì
5
thực hiện, nhu cầu và mức độ thoả mãn của các đối tượng hưởng lợi là các
DNCNNVV.
Đề tài đồng thời sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so
sánh điểm mạnh, điểm yếu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học
Đề tài hệ thống hoá và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các chính sách
phát triển DNCNNVV.
- Ý nghĩa thực tiễn
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những căn cứ lý luận, thực tiễn
và kiến nghị để Thành phố hoạch định chính sách phát triển bền vững cho huyện
Đan Phượng.
+ Đối với Trung ương, các sản phẩm nghiên cứu của đề tài sẽ là những tài
liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách trong việc phát
triển DNCNNVV.
doanh nghiệp. Theo tiêu chí này các doanh nghiệp được chia làm ba loại: doanh
nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Tuy nhiên, do có nhiều đặc
điểm giống nhau gi
ữa doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ nên để đơn giản hoá,
nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) thường gộp chung hai loại hình
doanh nghiệp này thành doanh nghiệp nhỏ và vừa (tại Việt Nam, các văn bản chính
thức của Chính phủ và các cơ quan nhà nước thống nhất cách gọi là doanh nghiệp
nhỏ và vừa).
Các tiêu chí được sử dụng nhiều nhất để xác định DNNVV là vốn (hoặc tài
sản), lao động và doanh thu. Tuy nhiên, mỗ
i quốc gia tuỳ theo điều kiện, trình độ
phát triển cũng như các chính sách đối với DNNVV của mình mà có thể chỉ dùng
một, hai hoặc cả ba tiêu chí trên. Ngoài ra, tuỳ từng lĩnh vực kinh doanh mà một số
nước còn có những quy định khác nhau cho các tiêu chí. Chúng ta có thể tham khảo
tiêu chí phân loại DNNVV ở một số nước trong Bảng 1.1
7
Bảng 1.1. Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước
Tiêu chí phân loại
Nước
Số lao động (người)
Bình quân
Tổng giá trị tài sản
Doanh
thu/năm
Nhật Bản
< 300 người đối với ngành
sản xuất
< 100 người đối với ngành
bán buôn
< 20 (ngành dịch vụ)
(Nguồn:Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
DNNVV ở Việt Nam là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy
định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn
vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiếu chí
ưu tiên).
Nghị định 56/2009/NĐ
-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát
triển DNNVV đã nêu định nghĩa DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo
quy mô tổng nguồn vốn (tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân
đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân.
8
Cụ thể như sau:
- Doanh nghiệp siêu nhỏ có số lao động từ 10 người trở xuống.
- Doanh nghiệp nhỏ có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc có số
lao động từ trên 10 người đến 200 người. Đối với doanh nghiệp hoạt động thương
mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định là từ 10 tỷ đồng trở
xụống, hoặ
c có số lao động từ trên 10 người đến 50 người.
- Doanh nghiệp vừa có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng,
hoặc có số lao động từ trên 200 người đến 300 người. Đối với doanh nghiệp hoạt
động thương mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định là từ trên 10
tỷ đồng đến 50 tỷ đồng, hoặc có số lao động từ trên 50 người đến 100 người.
Bảng 1.2. Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Doanh nghiệp
siêu nhỏ
100 tỷ
đồng
Từ
trên
200
người
đến
300
người
II. Công nghiệp
và xây dựng
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
Từ trên
10 người
đến 200
người
Từ trên
20 tỷ
đồng đến
100 tỷ
đồng
Từ
trên
200
người
đến
300
Trong luận văn này, doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa đượ
c hiểu là các
cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành
hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp có số vốn đăng ký không quá 100 tỷ đồng và
số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
So với các loại hình doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp công nghiệp
có các đặc trưng sau:
Nếu xét trên góc độ tổng hợp các mối quan hệ của con người trong hoạt động
sản xuất, thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của 2 mặt: Mặt kỹ thuật của sản xuất
và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất. Trong lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội, do
sự phân công lao động xã hội, nền kinh tế chia thành nhiều ngành như nông nghiệp,
công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng… Song xét trên phương diện tính
chất tương tự của công nghệ sản xuất có thể coi đó là tổng thể của hai ngành cơ bản:
nông nghiệp và công nghiệp, còn các ngành khác có thể là các dạng đặc thù của hai
ngành đó. Vì vậy, doanh nghiệp công nghiệp có những đặc trưng cơ bản về mặt kỹ
thuậ
t sản xuất, cũng như đặc trưng kinh tế - xã hội khác với các loại hình doanh
nghiệp khác ở các khía cạnh chủ yếu sau:
- Trong các doanh nghiệp công nghiệp, quá trình sản xuất chủ yếu là quá
trình tác động trực tiếp bằng phương pháp cơ, lý hoá của con người thông qua một
công nghệ sản xuất nhất định, làm thay đổi các đối tượng lao động thành các sản
phẩm thích ứng với nhu cầu của con người (khác với doanh nghiệ
p sản xuất nông
nghiệp quá trình sản xuất lại bằng phương pháp sinh học là chủ yếu).
- Các đối tượng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp, sau mỗi chu kỳ
sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể này chuyển sang các
10
sản phẩm có công dụng cụ thể khác. Hoặc một loại nguyên liệu sau quá trình sản
ra con số chính xác.
- Thứ hai: là tính linh hoạt cao theo cơ chế thị trường. Đây là đặc điểm gắn
liền với các DNCNNVV. Do quy mô không lớn nên đầu tư của các DNCNNVV
11
vào các dây chuyền và máy móc công nghệ không nhiều, chính vì lẽ đó nên sau một
thời gian hoạt động nếu nhận thấy một ngành hay một mặt hàng kinh doanh nào đó
không có lợi thì lập tức các DNCNNVV sẽ chuyển hướng sang các mặt hàng và
dịch vụ hiệu quả hơn. Một số DNCNNVV sau một thời gian khẳng định được uy tín
và thương hiệu đã tiến hành các biện pháp tích luỹ vốn và mở rộng quy mô để trở
thành các doanh nghiệp lớ
n. Tuy nhiên nhiều chủ DNCNNVV bằng lòng với quy
mô doanh nghiệp mình và thể hiện tính linh hoạt cao để khẳng định vị trí thương
trường. Nếu như các doanh nghiệp lớn chuyên kinh doanh một số sản phẩm hoặc
dịch vụ nhất định thì khi gặp suy thoái hoặc các tác động bất lợi từ bên ngoài thì sẽ
rất khó xoay sở.
- Thứ ba: Là tính linh hoạt trong cạnh tranh. Với xuất phát điểm là khả năng
dễ tham gia vào thị tr
ường cũng như rút khỏi thị trường. Trong các chuỗi giá trị
ngành hàng thì các DNCNNVV có thể khá dễ dàng tìm cho mình phân khúc phù
hợp trong hợp tác với doanh nghiệp lớn. Dễ phát huy bản chất hợp tác sản xuất, dễ
dàng thu hút lao động với chi phí thấp, do đó tăng hiệu quả sử dụng vốn, có thể sử
dụng lao động tại nhà hoặc xung quanh do đó góp phần tăng thêm thu nhập cho một
bộ phận dân cư có mức s
ống thấp, ít xảy ra xung đột giữa người lao động và người
sử dụng lao động; Có thể huy động tiềm lực của thị trường trong nước.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể kể đến hàng loạt các điểm yếu của các
DNCNNVV là: khởi đầu thường thiếu các nguồn lực phát triển, đặc biệt là các
nguồn lực về tài chính và con người trong đầu tư công nghệ, đào tạo công nhân, chủ
doanh nghiệp. Đối với một số ngành hàng thì các DNCNNVV không tận dụng các
là một yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh. Vốn là yếu tố cơ bản để khai thác và
phố
i hợp các yếu tố khác trong kinh doanh như lao động, công nghệ và quản lý…để
tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên một nghịch lý hiện nay là trong khi có nhiều DN đang
thiếu vốn trầm trọng thì vốn nhàn rỗi trong dân cư còn nhiều nhưng không huy
động được. Khi chính sách tài chính tín dụng của Chính phủ và các ngân hàng chưa
thực sự tạo được niềm tin đối với những người có tiền đứng ra đầu tư kinh doanh,
thành lập DN. Dưới khía cạnh đ
ó, DNCNNVV có vai trò to lớn trong việc huy động
vốn để phát triển kinh tế.
- Thứ ba: Giúp nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả hơn. Trong quá
trình kinh doanh, nhiều DNCNNVV có thể hỗ trợ cho các DN lớn, cung cấp những
bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho DN lớn hoặc thâm nhập vào mọi ngõ
13
ngách thị trường mà DN lớn khó có thể với tới để phân phối các sản phẩm cuả DN
lớn. Bên cạnh đó, khi số DNCNNVV tăng lên sẽ kéo theo sự gia tăng nhanh chóng
cung cấp số lượng các sản phẩm và dịch vụ mới trong nền kinh tế. Nhờ hoạt động
với quy mô nhỏ và vừa, các DNCNNVV có ưu thế là chuyển hướng kinh doanh
nhanh từ những mặt hàng này sang mặt hàng khác, thỏa mãn nhu cầu linh hoạt của
dân cư
. Chính sự phát triển đó của các DNCNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh, tính
linh hoạt và làm giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế.
- Thứ tư: Góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế. Các
DNCNNVV hình thành và phát triển kinh doanh trong những ngành nghề khác nhau
luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối liên kết với các DN lớn. Nhiều DN
nhỏ khi mới ra đời chỉ nhằm mục đích làm vệ tinh cung cấp các sản phẩ
m cho các DN
lớn. Mối quan hệ giữa DNCNNVV và các DN lớn cũng chính là nguyên nhân thành
công của nền kinh tế Nhật Bản trong nhiều thập kỷ qua. Do đó, khi các DNCNNVV
góp phần giải quyết các vấn đề xã hội mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư kể cả
người thất nghiệp, phụ nữ và người tàn tật. Với tính chất kinh doanh nhỏ, chi phí để
tạo ra một chỗ để làm việc thấp, các DNCNNVV Việt Nam có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc tạo ra và tăng thêm việc làm cho nền kinh tế, góp phần giảm tỉ lệ
thất nghiệp và ổn định xã hội bằng cách thu hút nhiều lao động với chi phí thấp và
chủ yếu bằng vốn của dân.
- Thứ bảy: Nâng cao thu nhập của dân cư góp phần xóa đói giảm nghèo, thự
c
hiện công bằng xã hội. Việt Nam là nước nông nghiệp, năng suất của một nền sản
xuất xã hội cũng như thu nhập của dân cư thấp. Thu thập của dân cư nông thôn chủ
yếu dựa vào nền nông nghiệp thuần nông. Việc phát triển các DNCNNVV ở thành
thị cũng như ở nông thôn là một trong những biện pháp cơ bản đóng góp phần tăng
nhanh thu nhập của các tầng lớ
p dân cư. Thông qua việc phát triển các DNCNNVV,
lao động ở nông thôn sẽ được thu hút vào các DN nhờ đó mà thu nhập của dân cư
được đa dạng hoá nâng cao. Cuộc sống của người dân nông thôn sẽ ổn định hơn và
mức sống của dân cư sẽ được nâng cao góp phần xoá đói giảm nghèo, giảm khoảng
cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng mức độ công bằng trong nền kinh
tế. Hơn nữa, do có tính n
ăng động và linh hoạt khi các DNCNNVV phát triển sẽ
góp phần giúp phát triển các ngành sản xuất truyền thống ở địa phương. Việc phát
triển các DNCNNVV là một trong các giải pháp thực hiện Đề án xây dựng nông
thôn mới của các xã trong toàn quốc hiện nay.
15
- Thứ tám: Tạo điều kiện phát triển các tài năng kinh doanh. Ngoài ra các vai
trò như đã nói ở trên, các DNCNNVV còn có vai trò trong việc phát triển các tài
năng kinh doanh. Trong nhiều năm qua, đội ngũ cán bộ kinh doanh đã gắn nhiều với
cơ chế cao cấp, chưa có kinh nghiệm làm việc trong nền kinh tế thị trường. Sự phát
triển của các DNCNNVV có tác dụng đào tạo, chọn lọc và thử thách đội ngũ doanh
DNCNNVV ở một số nước lựa chọn. Kết quả điều tra cho thấy tài chính là vấn đề
khó khăn nhất hiện nay đối với các DNNVV nói chung, DNCNNVV nói riêng.
Thực tế này cũng đúng đối với các DNCNNVV khi mà khả năng và điều
kiện tiếp cận các nguồn vốn trên thị trường tài chính, tín dụng của h
ọ bị hạn chế và
gặp nhiều khó khăn như: Không đủ tài sản thế chấp; không đủ độ tin cậy và rủi ro
cao; các lô hàng và các món vay thường nhỏ lẻ, vụn vặt, không thường xuyên, thủ
tục ít chặt chẽ nên các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng thường không muốn cho
vay vì hiệu quả vay thấp.
Mức lãi suất cho vay còn quá cao so với mức lợi nhuận có thể thu được từ
kinh doanh; Số lượng vốn được vay ít; Thờ
i hạn được vay quá ngắn không phù hợp
với chu kỳ kinh doanh sản phẩm; Hình thức và pháp lý tín dụng nghèo nàn, đơn
điệu, hiệu quả pháp lý thấp…
- Hai là, DNCNNVV thường khó khăn, lúng túng và chịu chi phí cao trong
tác nghiệp các nghiệp vụ kinh doanh cụ thể, đặc biệt là trong các khâu bảo quản,
giao nhận và vận tải hàng hoá. Đặc điểm cơ bản của DNCNNVV là đội ngũ nhân
lực yếu, trình độ chuyên môn hoá thấp, thiếu các cán bộ nghiệp vụ giỏ
i, nhất là cán
bộ có nghiệp vụ về thị trường, đồng thời các cơ sở vật chất kỹ thuật của phần lớn
các DN này là nghèo nàn lạc hậu, thiếu các trang thiết bị cần thiết như kho tàng,
phương tiện vận tải, phương tiện thông tin… nên khi thực hiện một số lô hàng, đặc
biệt các loại hàng nông sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ khó bảo quản, dễ b
ị xuống
cấp, gặp nhiều khó khắn và lúng túng trong các khâu đóng gói, in mã hiệu, tập kết
hàng hoá, khai báo và làm thủ tục Hải quan. Thời gian tác nghiệp công đoạn này
kéo dài, chi phí cao, gây chậm trễ cho quá trình kinh doanh, thậm chí nhiều khi
không bảo đảm được thời gian giao hàng dễ bị người mua từ chối hàng hoặc giảm
giá, gây nhiều thiệt hại cho DN. Một hạn chế rất lớn xuất phát từ đặc thù phổ biến
của các lô hàng mà DNCNNVV kinh doanh nhỏ lẻ