xác định chi phí và bồi thường tổn thất trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới - Pdf 22

LờI Mở ĐầU
Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trờng, đời sống dân c
ngày càng đợc cải thiện, nhờ đó mà nhu cầu giải trí, đi lại, giao lu văn hoá-
kinh tế giữa các nớc, các vùng ngày càng đợc chú trọng. Do nhu cầu đi lại, vận
chuyển hành hoá, hành khách ngày càng tăng đòi hỏi hệ thống giao thông và
phơng tiện đi lại đợc phát triển theo. Trong đó giao thông đờng bộ tỏ ra có u
thế hơn cả về tính cơ động cao, khả năng vận chuyển lớn, tốc độ tơng đối
nhanh, giá cả hợp lý
Nhng việc đi lại, vận chuyển bằng các phơng tiện cơ giới cũng dễ gặp
phải những tai nạn, rủi ro bất ngờ không thể lờng trớc đợc do đâm va, lật đổ,
hoả hoạn Những rủi ro này ảnh h ởng lớn đến tính mạng và tài sản của nhân
dân, là mối đe doạ lớn cho chủ xe vì họ không những phải chịu trách nhiệm
đền bù những thiệt hại lớn mà mình gây ra cho ngời thứ ba mà còn phải gánh
cả phần chi phí sửa chữa bản thân phơng tiện của mình. Để khắc phục những
tổn thất có thể xảy ra cho cả hai phía. Bảo hiểm xe cơ giới đã ra đời và thực tế
triển khai đã minh chứng vai trò tích cực của nhà bảo hiểm- là nhà tài trợ, chia
xẻ rủi ro đối với chủ xe, lái xe mỗi khi việc lu hành xe gây ra thiệt hại
Khi mà giá trị xe ngày càng lớn, lợng xe lu thông ngày càng nhiều thì
các chủ xe thờng xuyên phải đứng trớc nguy cơ mất phần lớn nguồn tài chính
khi xe bị tai nạn. Nhận thức đợc vấn đề đó PJICO đã triển khai nghiệp vụ bảo
hiểm vật chất xe cơ giới ngay từ những ngày đầu mới thành lập, nhằm bù đắp
một phần thiệt hại về vật chất xe cho chủ xe. Nhng đây là một nghiệp vụ mà
các công ty bảo hiểm khác cũng triển khai rất rộng rãi, do đó công ty gặp phải
sự cạnh tranh rất quyết liệt trên thị trờng. Để tồn tại và tạo đợc chỗ đứng trên
thị trờng, Công ty phải tạo ra bản sắc riêng cho sản phẩm bảo hiểm của mình
cũng nh hoàn thiện công tác bồi thờng để tạo lòng tin nơi khách hàng và khẳng
định vị thế của mình trên thị trờng.
Xuất phát từ lý do trên kết hợp với việc nghiên cứu tình hình thực tiễn
triển khai tại phòng bảo hiểm Phi hàng hải- công ty PJICO, em đã lựa chọn đề
tài: Nâng cao hiệu quả trong công tác xác định phí và bồi thờng tổn thất
1

đổi mới của Đảng và Nhà nớc.
Trớc đây, do đất nớc đang trong quá trình phục hồi sau chiến tranh, do
đó hệ thống đờng xá cũng nh số lợng, chất lợng các phơng tiện vận tải còn thô
sơ, lạc hậu làm cho nhu cầu đi lại của ngời dân phần nào còn bị hạn chế. Sau
khi đất nớc ta chuyển sang cơ chế thị trờng, đời sống của nhân dân từng bớc đ-
ợc nâng cao, các nhu cầu tối thiểu nh ăn, ở, mặc phần nào đã đợc đáp ứng
đầy đủ. Từ đó phát sinh các nhu cầu khác nh đi lại, thay đổi chỗ ở ngày càng
nhiều để đáp ứng nhu cầu sống ngày càng cao của ngời dân. Các phơng tiện
giao thông ngày càng đa dạng nh đờng sắt, đờng hàng không, đờng biển đờng
bộ Trong đó, đ ờng bộ tỏ ra có u thế hơn cả vì sự cơ động, giá rẻ, dễ điều
khiển
Xác định đợc điều đó Nhà nớc và các cấp ngành có liên quan đã có sự
quan tâm khá kịp thời đến công tác nâng cấp phát triển cơ sở hạ tầng, đờng xá
cầu cống. Điều này đợc đánh đấu bằng sự tăng lên cả về số lợng và chất lợng
đờng bộ, hiện nay cả nớc có 111.474 km đờng bộ, trong đó quốc lộ chiếm
14.926 km bao gồm các loại mặt đờng sau.
3
- Bê tông xi măng: 75 km tơng đơng với 0,05%
- Bê tông nhựa: 3.551 km tơng đơng với 23,79 %
- Đá dăm rải nhựa: 5.253 km tơng đơng với 35,19%
- Đá dăm cấp phối: 4.233 km tơng đơng với 28,36%
- Đất: 1.814 km tơng đơng với 12,15%
Đặc biệt, hệ thống giao thông đô thị của Thủ đô Hà Nội cũng đã đợc
nâng cấp xây dựng mới đạt tổng chiều dài 270 km
Từ khi nớc ta thực hiện công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá, ngời
dân dần thích nghi với đời sống công nghiệp. Điều này đợc thể hiện qua số l-
ợng ô tô, xe máy tăng lên không ngừng: ô tô, xe máy trên cả nớc hàng năm
tăng 20%-24%, lợng ôtô tăng lên hàng năm chỉ tính riêng ở địa bàn Hà Nội
năm 1998-1999 tăng 9%, từ 1999-2000 tăng xấp xỉ 4%, các năm 2001, 2002
các con số này còn tăng hơn nữa , còn nếu tính trên cả nớc thì đạt bình quân

Nội dung tai
nạn giao
thông
Đơn vị 1998 1999 2000 2001 2002
1 Số vụ Vụ 16.270 18.967 21.901 24.732 28.772
2
Số ngời
chết
Ngời 7.025 7.985 9.172 10.044 13.242
3
Số ngời bị
thơng
Ngời 1.989 22.710 25.263 28.202 33.874
4
Bình quân
ngời chết
/ngày
Ngời 19 21 25 27 36
5
Tổng số ngời
chết trong
tháng
Ngời 570 630 750 810 1.080
Nguồn: Tạp chí giao thông vận tải
Trong năm 2002, tai nạn giao thông nguyên nhân do ngời tham gia giao
thông( 83,1%), trong đó:
- Do chạy quá tốc độ quy định : 40%
- Do tránh vợt sai quy định: 32,4%
- Do các nguyên nhân khác:10,7%
Qua bảng số liệu trên cho thấy tình hình tai nạn giao thông tăng cả về số

những hậu quả thiệt hại lớn và chủ xe là ngời trớc tiên phải gánh chịu những
thiệt hại này. Tình trạng này sẽ đợc khắc phục nếu nh chủ xe tham gia bảo
hiểm vật chất xe cơ giới bằng cách đóng một khoản phí nhất định để xây dựng
quỹ bảo hiểm. Khi thiệt hại xảy ra, công ty bảo hiểm sẽ bồi thờng những thiệt
hại về mặt tài chính cho chủ phơng tiện căn cứ vào mức độ thiệt hại của xe và
số tiền bảo hiểm để tránh những trục lợi từ phía khách hàng. Số tiền bồi thờng
đó sẽ giúp chủ phơng tiện nhanh chóng ổn định đời sống tránh những xáo trộn
6
lớn và nhanh chóng thoát khỏi tình trạng khó khăn, tạo ra sự ổn định chung
của xã hội.
Thứ hai: Tạo điều kiện gần nh tốt nhất cho sản xuất
Nền kinh tế thị trờng luôn diễn rạ sự cạnh tranh quyết liệt giữa các đối
thủ. Do đó, các công ty luôn muốn huy động một lợng vốn tối đa có thể để đầu
t sản xuất, nhằm tạo đợc lợi thế giữa các đối thủ cạnh tranh, tăng thị phần. Vì
thế trong quá trình kinh doanh nếu doanh nghiệp phải dự trữ một khoản tiền t-
ơng đối lớn để đề phòng khi rủi ro xảy ra bất ngờ, thì quả là lãng phí. Các
doanh nghiệp nhỏ, số lợng đầu xe ít thì quỹ dự trữ này có thể không đáng kể,
nhng đối với các doanh nghiệp lớn, số lợng đầu xe nhiều thì quỹ dự trữ này t-
ơng đối lớn, sẽ làm ảnh hởng đến lợng vốn kinh doanh. Nếu doanh nghiệp
tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới thì chỉ phải đóng một lợng phí nhỏ, công
ty bảo hiểm sẽ lập quỹ bảo hiểm bảo vệ cho số xe của doanh nghiệp theo
nguyên tắc Số đông bù số ít doanh nghiệp sẽ yên tâm hoạt động nhờ một
quỹ lớn hơn nhiều do các thành viên khác cũng đóng góp.
Thứ ba: Góp phần đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông.
Với số phí thu đợc từ ngời tham gia bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ lập
một quỹ ngoài mục đích chính là bồi thờng cho các rủi ro đợc bảo hiểm xảy ra
đó là sử dụng cho mục đích đề phòng hạn chế tổn thất. Những nguy cơ gây ra
tai nạn do chất lợng hệ thống cơ sở hạ tầng còn thấp nh tại các đèo, dốc nguy
hiểm (Đèo Cả, đèo Cù Mông, đèo Hải Vân ) đã đ ợc các công ty bảo hiểm lớn
(trong đó có PJICO) hỗ trợ hàng tỷ đồng để xây dựng đờng lánh nạn, đờng phụ,

hình bảo hiểm không bắt buộc, do đó chủ xe có thể lựa chọn bảo hiểm hay
không bảo hiểm, nếu bảo hiểm thì tham gia ở hình thức nào.
1. Đối tợng bảo hiểm
Đối tợng bảo hiểm là bản thân chiếc xe với đầy đủ những yếu tố sau:
- Xe cơ giới phải đợc gắn động cơ (khác với xe không có động cơ nh xe
đạp, xe do gia súc kéo )
- Xe cơ giới di chuyển trên đất liền không cần đờng dẫn (khác với tàu
hoả, xe điện )
- Xe cơ giới phải có chỗ tối thiểu cho ngời điều khiển
Nh vậy xe cơ giới bao gồm nhiều loại: xe mô tô, xe ôtô chở ngời, xe tải
chở hàng, các loại xe chuyên dụng khác.
Để có thể trở thành đối tợng đợc bảo hiểm, xe cơ giới phải đảm bảo
những điều kiện về mặt kỹ thuật và pháp lý cho sự lu hành. Đợc cơ quan có
8
thẩm quyền cấp giấy đăng ký xe, biển kiểm soát, giấy chứng nhận kiểm định
an toàn kỹ thuật và môi trờng, giấy phép lu hành xe.
Do điều kiện kinh tế- xã hội ngày càng phát triển, mức sống ngày càng
cao, giá trị các phơng tiện đi lại cũng lớn hơn nhiều, do đó nếu rủi ro xảy ra thì
thiệt hại đối với tài sản này chắc chắn không nhỏ. Thông thờng đối tợng bảo
hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới là các loại ôtô do chúng có
giá trị lớn, vận tốc cao, phạm vi hoạt động rộng, một khi rủi ro xảy ra thì chi
phí sửa chữa sẽ rất tốn kém. Còn xe máy do có giá trị thấp hơn nhiều so với
ôtô, chi phí sửa chữa không nhiều, rất khó xác định đợc giá trị hiện tại của xe.
Do đó loại hình bảo hiểm vật chất xe máy tại các công ty bảo hiểm hiện nay
thu hút đợc không nhiều khách hàng.
Vì thế đối tợng bảo hiểm ở đây chính là các xe ôtô vận chuyển hàng hoá,
hành khách còn đủ giá trị, có đủ điều kiện về mặt kỹ thuật (đã qua kiểm định
an toàn kỹ thuật và các điều kiện về môi trờng), có giấy phép lu hành hoạt
động trên lãnh thổ của quốc gia. Riêng đối với các loại xe đua, xe tập lái, chạy
thử sau khi sửa chữa thì chỉ đợc bảo hiểm khi có các thỏa thuận giữa hai bên.

nhỏ (các nớc khu vực II sản xuất)
Đơn vị: (%)
Tên tổng thành Xe con 4-5
chỗ
Xe khách
(trên 20 ghế)
Xe khách nhỏ, nhỡ
(dới 20 ghế)
Nhóm xe du
lịch
Xe ngoại cả
KVI, KVII
Loại I cầu
chủ động
Loại II cầu
chủ động
Động cơ 15,5 11,0 14,5 15,4
Hộp số 7,0 4,5 7,0 8,2
Trục cầu trớc 5,5 3,8 1,2 6,8
Cần sau 9,2 7,5 7,6 7,0
Hệ thống lái 5,7 5,4 5,5 5,1
Thân
vỏ xe
Thân vỏ
53,5
30,3
59,8
37,1
57,2
32,5

hao và thờng đợc tính theo tháng.
- H hỏng về điện hoặc máy móc, thiết bị, săm lốp h hỏng mà không do
tai nạn gây ra.
- Mất cắp bộ phận của xe.
Để tránh những nguy cơ đạo đức lợi dụng bảo hiểm, những hành vi vi
phạm pháp luật, luật lệ giao thông, hay một số những rủi ro đặc biệt khác,
những thiệt hại, tổn thất xảy ra bởi những nguyên nhân sau cũng không đợc
bồi thờng:
- Hành động cố ý của chủ xe, lái xe.
- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để lu hành theo quy
định của Luật an toàn giao thông đờng bộ,
- Chủ xe (lái xe) vi phạm nghiêm trọng Luật an toàn giao thông đờng bộ
nh:
+ Xe không có giấy phép lu hành.
+ Lái xe không có bằng lái, hoặc có nhng không hợp lệ.
+ Lái xe bị ảnh hởng của rợu bia, ma tuý hoặc các chất kích thích tơng tự
khác trong khi điều khiển xe.
+ Xe chở chất cháy, chất nổ trái phép.
11
+ Xe chở quá trọng tải hoặc số hành khách quy định.
+ Xe đi vào đờng cấm.
+ Xe đi đêm không đèn.
+ Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, chạy thử sau khi sửa chữa.
- Những thiệt hại gián tiếp nh: Giảm giá trị thơng mại, làm đình trệ sản
suất kinh doanh
- Thiệt hại do chiến tranh, đình công, bãi công
Trong thời hạn bảo hiểm nếu chủ xe chuyển quyền sở hữu cho chủ xe
khác thì quyền lợi bảo hiểm vẫn còn hiệu lực với chủ xe mới. Tuy nhiên, nếu
chủ xe cũ không chuyển quyền lợi bảo hiểm cho chủ xe mới thì công ty bảo
hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm cho họ và làm bảo hiểm cho chủ xe mới nếu họ

: Giá trị ban đầu xe, gía mua mới
12
G
KH
: Giá trị đã đợc khấu hao của chiếc xe (theo năm)
G
KH
= G


ì
Tỷ lệ khấu hao
ì
Số năm đã sử dụng
- Đối với xe có thời gian sử dụng dới một năm thì G
KH
= 0 nên giá trị bảo
hiểm bằng giá trị ban đầu của xe.
- Đối với xe có thời gian sử dụng trên một năm thì G
KH
> 0 nên giá trị
bảo hiểm luôn nhỏ hơn giá trị ban đầu của xe.
Để thống nhất mức khấu hao chung cho các công ty bảo hiểm thuận tiện
trong đánh giá giá trị bảo hiểm, Bộ tài chính đã quy định một tỷ lệ khấu hao cố
định cho xe cơ giới là 9%/năm. Nhng mức này khó có thể hấp dẫn đợc khách
hàng vì nó tơng đối cao, giá trị bảo hiểm vì thế mà giảm xuống, điều này làm
cho ngời tham gia bị thiệt thòi. Ngoài ra, trong thực tế có nhiều trờng hợp xe
đã khấu hao hết, nhng trong thực tế vẫn còn giá trị sử dụng và vẫn còn đợc sử
dụng tiếp nên mức này tỏ ra ít phù hợp, do đó các công ty bảo hiểm phải linh
hoạt hơn để thu hút khách hàng.

- Ngời tham gia bảo hiểm
- Đối tợng bảo hiểm
- Số tiền bảo hiểm, giá trị bảo hiểm
- Mức bảo hiểm, cách thức nộp phí
- Phạm vi, điều kiện bảo hiểm
- Thời hạn bảo hiểm
- Các điều khoản quy định về giải quyết tranh chấp
- Chữ ký xác nhận của bên mua bảo hiểm và bên bảo hiểm
Thông thờng cá nhân khi tham gia bảo hiểm, công ty sẽ cấp cho ngời
tham gia giấy chứng nhận bảo hiểm trong đó ghi rõ tên ngời tham gia, số tiền
bảo hiểm, thời gian bảo hiểm, có thể ghi phí hoặc không, xác nhận của các
bên. Ngời tham gia có quyền sử dụng giấy này để xuất trình cho cơ quan kiểm
tra và có trách nhiệm bảo quản cẩn thận vì đây là một trong những giấy tờ cần
thiết để công ty giải quyết bồi thờng. Trong trờng hợp làm mất, hỏng thì phải
thông báo cho nhà bảo hiểm để đợc bảo hiểm để đợc cấp lại.
5. Phí bảo hiểm
Trong bất kỳ nghiệp vụ bảo hiểm nào công tác xác định mức phí là việc
làm rất quan trọng. Phí có thể coi là giá của sản phẩm bảo hiểm. Giá có hợp lý
thì mới thu hút đợc khác hàng, và phải đảm bảo lợi nhuận cho công ty.
Thông thờng khi xác định phí bảo hiểm cho từng đối tợng tham gia bảo
hiểm cụ thể, các công ty bảo hiểm căn cứ vào những nhân tố sau:
* Loại xe
14
Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có mức độ rủi ro
khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe đợc tính riêng cho từng loại xe. Thông
thờng, các công ty bảo hiểm đa ra những biểu xác định phí bảo hiểm phù hợp
cho hầu hết các loại xe thông dụng thông qua việc phân loại xe thành các
nhóm. Việc phân loại này đợc dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc,
chi phí và mức độ khó khăn khi sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng. Đối
với các xe hoạt động không thông dụng nh xe kéo rơmooc, xe chở hàng

ì
S
BH
ở Việt Nam, tỷ lệ phí bảo hiểm do Bộ Tài chính đa ra và hiện nay tất cả
các công ty đều áp dụng mức phí này.
Cụ thể là:
15
f =


ì
C
T
S
i
i
i
+ Bảo hiểm toàn bộ giá trị xe.
P = 1,5%
ì
giá trị thực tế của chiếc xe trên thị trờngViệt Nam
+ Bảo hiểm toàn bộ giá trị xe miễn thuế:
P = 3,5%
ì
giá trị miễn thuế của xe tại thị trờng Việt Nam
+ Bảo hiểm thân, vỏ xe:
P = 2,5%
ì
giá trị thực tế của xe
ì

tố này. Tuy nhiên, cũng có một số công ty bảo hiểm tính phí bảo hiểm dựa
theo khu vực giữ xe và để xe rất chặt chẽ. Những xe để tại bãi đỗ xe có nguy
cơ xảy ra rủi ro lớn (nh gần kho chứa xăng, dầu ) thì sẽ phải đóng phí cao
hơn những xe để tại những bãi đỗ xe có điều kiện an toàn hơn.
16
* Mục đích sử dụng xe:
Đây là nhân tố rất quan trọng khi xác định phí bảo hiểm. Nó giúp công
ty bảo hiểm biết đợc mức đọ rủi ro có thể xảy ra. Ví dụ: Xe do một ngời về hu
sử dụng cho mục đích đi lại đơn thuần chắc chắn sẽ đóng phí bảo hiểm thấp
hơn so với xe do một thơng gia sử dụng để đi lại trong những khu vực rộng
lớn. Rõ ràng xe lăn bánh trên đờng càng nhiều khả năng xảy ra rủi ro càng lớn.
Một số công ty bảo hiểm sử dụng những nhóm truyền thống sau:
- Sử dụng xe loại A dành cho mục đích xã hội, nội bộ và giải trí do đích
thân ngời đợc bảo hiểm sử dụng có liên quan tới nghề nghiệp của ngời đó
ngoại trừ sử dụng với mục đích cho thuê, vận chuyển cho mục đích thơng mại
hay bất cứ mục đích nào có liên quan đến kinh doanh xe cơ giới và sử dụng để
đua xe, thi tài hoặc thử xe.
Một số công ty bảo hiểm đồng ý giảm phí bảo hiểm nếu phạm vi bảo
hiểm chỉ giành cho mục đích xã hội và nội bộ. Định nghĩa này vẫn cho phép
ngời sở hữu đơn bảo hiểm dùng xe đi lại nơi làm việc của mình bởi vì nó đợc
gộp cả cụm từ xã hội, nội bộ, giải trí.
Nội dung đơn tiêu chuẩn loại A yêu cầu ngời đợc bảo hiểm phải ở trong
xe khi xe đợc sử dụng cho mục đích công việc cho dù ngời đợc bảo hiểm
không lái xe. Công việc nói trên phải là công việc của ngời đợc bảo hiểm.
- Sử dụng loại xe B
1
dành cho mục đích xã hội, nội bộ, giải trí và sử
dụng cho công việc của ngời đợc bảo hiểm và chủ lao động của ngời đợc bảo
hiểm hay các cộng sự ngoại trừ sử dụng cho thuê, vận chuyển cho mục đích th-
ơng mại hay bất cứ mục đích nào có liên quan tới kinh doanh xe cơ giới, đua

Nếu một ngời đợc bảo hiểm lựa chọn một mức miễn thờng tự nguyện để
đợc giảm phí bảo hiểm, mức miễn thờng đó sẽ đợc bổ xung thêm vào mức
miễn thờng áp dụng cho lái xe thiếu kinh nghiệm hoặc trẻ tuổi.
* Giảm phí bảo hiểm
Để khuyến khích các chủ xe có số lợng lớn tham gia bảo hiểm tại công
ty mình, các công ty bảo hiểm thờng áp dụng mức giảm phí so với mức phí
chung theo số lợng xe tham gia bảo hiểm. Ngoài ra, hầu hết các công ty bảo
hiểm còn áp dụng cơ chế giảm giá cho những ngời tham gia không có khiếu
nại và gia tăng tỷ lệ giảm giá này cho một số năm không có khiếu nại gia tăng.
Có thể nói đây là biện pháp phổ biến trong bảo hiểm xe cơ giới.
18
Riêng đối với những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ, tức là chỉ hoạt
động một số ngày trong năm, thì chủ xe chỉ phải đóng phí cho những ngày
hoạt động đó theo công thức sau:
ở Việt Nam để thuận tiện cho việc tính toán thì số tháng xe hoạt động đ-
ợc làm tròn và phí bảo hiểm đợc tính nh sau:
- Xe hoạt động dới 3 tháng phải đóng 30% phí cả năm
- Xe hoạt động từ 3-6 tháng phải đóng 60% phí cả năm
- Xe hoạt động từ 6-9 tháng phải đóng 90% phí cả năm
- Xe hoạt động từ 9 tháng trở lên phải đóng 100% phí cả năm
Ngoài ra đối với trờng hợp xe chỉ hoạt động trong một thời gian mà chủ
xe đã đóng phí cả năm thì công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại một khoản phí nhất
định, số phí đợc hoàn lại này cũng nh là số phí đợc giảm đi trên mỗi đầu phơng
tiện tuy nhỏ, nhng nếu doanh nghiệp có số đầu xe tham gia bảo hiểm lớn thì số
tiền này rất đáng kể, hơn nữa nó còn tạo ra sự thoải mái cho khách hàng, bảo
vệ quyền lợi cho ngời tham gia.
* Biểu phí đặc biệt:
Khi khách hàng có số lợng xe tham gia bảo hiểm nhiều, các công ty bảo
hiểm có thể áp dụng biểu phí riêng cho từng khách hàng đó. Việc tính toán
biểu phí riêng cũng tơng tự nh cách tính phí riêng nh đã đề cập ở trên, chỉ khác

định có tác động rất lớn tới bồi thờng, do đó khi tiến hành giám định phải đảm
bảo các nguyên tắc sau:
- Việc giám định phải đợc thực hiện một cách sớm nhất sau khi nhận đợc
thông tin tai nạn (theo quy định chung là 5 ngày). Nếu không tiến hành sớm đ-
ợc thì lý do của chậm chễ phải đợc thể hiện trong biên bản giám định.
- Tiến hành giám định tất cả các thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm
- Trong trờng hợp đặc biệt nếu công ty bảo hiểm không thực hiện đợc
việc lập biên bản giám định, thì có thể căn cứ vào biên bản của cơ quan chức
năng, chụp ảnh, hiện vật thu đợc, khai báo của chủ xe và kết quả điều tra.
- Quá trình giám định phải có mặt và chữ ký xác nhận của chủ xe, lái xe
bị thiệt hại hoặc ngời đại diện hợp pháp
- Phải xác định đợc chính xác nguyên nhân tai nạn, mức độ thiệt hại làm
cơ sở cho việc xác định trách nhiệm của bảo hiểm cũng nh tính toán số tiền bồi
thờng.
Trong quá trình giám định nếu cả hai bên không thống nhất đợc nguyên
nhân cũng nh mức độ của thiệt hại thì lúc này giám định viên trung gian sẽ đợc
chỉ định làm công tác giám định. Khi đã có sự thống nhất của hai bên, biên bản
giám định sẽ đợc thành lập. Nội dung của biên bản giám định phải phản ánh
một cách trung thực, chính xác, rõ ràng và cụ thể về nguyên nhân cũng nh mức
độ của thiệt hại, có chữ ký xác nhận của các bên tham gia.
6.2. Quy trình giám định tổn thất
Khi tai nạn xảy ra quy trình giám định phải tuân theo các bớc sau:
* Nhận thông tin
21
Cũng nh các loại đơn bảo hiểm khác, ngời bảo hiểm yêu cầu chủ xe
(hoặc lái xe) khi xe bị tai nạn một mặt phải tìm mọi cách cứu chữa, hạn chế
tổn thất, mặt khác phải nhanh chóng báo cho công ty bảo hiểm biết một số
thông tin sau:
- Tình hình tai nạn: số xe, chủ xe, thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn, sơ
bộ thiệt hại

giám định
Tiến hành
giám định
Hướng dẫn
xử lý ban đầu
Nhận thông tin
Mệnh lệnh
sơ bộ
Bồi thường toàn bộ
* Hớng dẫn xử lý ban đầu
- Sau khi nhận đợc thông tin tuỳ từng tình hình và yêu cầu chủ xe:
+ Làm những việc cần thiết để hạn chế thiệt hại phát sinh
+ Bảo vệ hiện trờng, tài sản hoặc xe
+ Khai báo với cơ quan chức năng để giải quyết tai nạn đúng luật
- Báo cáo lãnh đạo
- Lập phơng án giám định
- Thống nhất với lái xe, chủ xe về thời gian, địa điểm giám định.
- Giám định viên có thể là ngời của công ty bảo hiểm, nếu không đủ khả
năng hoặc có sự yêu cầu đổi giám định viên từ phía khách hàng thì có thể mời
giám định viên trung gian tiến hành giám định.
* Tiến hành giám định
Đây là công đoạn quan trọng nhất của quá trình giám định, đòi hỏi phải
thực hiện một cách cẩn trọng nhất:
- Chuẩn bị các tài liệu, phơng tiện cần thiết (biên bản giám định, máy
ảnh ) cho công tác giám định. Thông báo cho các bên liên quan có mặt
- Kiểm tra tính hợp lệ của giấy tờ bao gồm:
+ Giấy chứng nhận bảo hiểm
+ Đăng ký lái xe
+ Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trờng
+ Bằng lái xe

không bỏ sót, biên bản giám định nên ghi chép theo trình tự hệ thống cấu tạo
hoặc tổng thành.
- Trờng hợp h hỏng nặng có mức độ thiệt hại lớn, có h hỏng cho cả chi
tiết nằm trong những cụm tổng thành đắt tiền nh động cơ, hộp số, việc giám
định bổ xung đợc thực hiện khi tháo rời các cụm đó và kèm theo bản đề xuất
chấp nhận phơng án sửa chữa
- Trờng hợp tai nạn có dấu hiệu từ nguyên nhân loại trừ bảo hiểm phải
xuất phát từ hiện tợng, từ dấu vết h hỏng để dự đoán lựa chọn phơng án giám
định, xác định nguyên nhân, từ đó có những kết luận thích hợp. Nếu cần thiết
phải trng cầu giám định chuyên môn, điều tra kỹ thuật hình sự.
* Lập biên bản giám định
Khi đã có những thống nhất về mức độ thiệt hại cũng nh nguyên nhân
xảy ra tai nạn giám định viên sẽ tiến hành lập biên bản giám định. Biên bản
giám định phải nêu lên đợc nguyên nhân của tai nạn, mức độ thiệt hại thực tế,
phần thiệt hại thuộc trách nhiệm của công ty bảo hiểm, và các thiệt hại nằm
trong điều khoản loại trừ (nếu có). Các số liệu thu thập đợc phải phù hợp với
25

Trích đoạn Trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới Sự ra đời và phát triển Vai trò và nguyên tắc đầu t của Công ty Nhanh chóng phát hiện và xử lý các trờng hợp trục lợi bảo hiểm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status